17 thg 3, 2026

CHỬ NGHĨA LÀNG VĂn Kỳ 15/3/2026 - Ngộ Không Phí Ngọc Hung

 Chữ nghĩa làng văn 

***

Chữ là nghĩa với địa danh


Đèo Ngang chia ranh giới Đàng Trong và Đàng Ngòai ở giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh. 

Tên Đèo Ngang vì có núi Ngang.


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Không có việc gì khó, chỉ sợ tiền không nhiều


Bưng


Bưng : từ gốc Khmer là bâng, chỉ chỗ đất trũng giữa một cánh đồng, mùa nắng không có nước đọng, nhưng mùa mưa thì ngập khá sâu và có các thứ lác mọc. Mùa mưa ở bưng thường có nhiều cá đồng. “…về bưng ăn cá, về giồng ăn dưa”.


Ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, có hai bưng là Bưng Trôm và Bưng Cốc.


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam – Hồ Đình Vũ)


Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương


Vịnh cái quạt

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay.
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay.
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát.
Yêu đêm chưa phi lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy.
Chúa dấu vua yêu một cái này.hoxuanhuong_caiquat


Câu đối 


Nếu giầu quen thói kình khơi, con cháu nương nhờ vì ấm 

Việc nước ra tay chuyên bát, bắc nam đâu đấy lại hàng 


(Lê Thánh Tông, câu đối đề ở một hàng bán giầu (trầu) nước)


Sử gia Nguyễn Đình Đầu buồn vì sách Petrus Ký bị thu hồi


Hy vọng sách được phát hành


image021

Là một người tự cho rằng đã có đóng góp trong vấn đề chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa, Hoàng Sa trong một thời gian dài và còn tiếp tục trong thời gian tới ông hy vọng cuốn sách sẽ được chính quyền nghiên cứu kỹ, và được phát hành trở lại.


Ông Đầu cũng cho biết có lẽ đang có những điều đình giữa công ty Nhã Nam chịu trách nhiệm xuất bản cuốn sách này "với những người tạm gọi là có ý kiến ngưng phát hành cuốn sách" liên quan tới khoảng hai chục trang của cuốn sách nhưng nhà nghiên cứu nói rằng đó chính là những điều có giá trị về phương diện sử học của cuốn sách.

"Có thể người đó đọc không kỹ. Đó chính là điều cần thiết nhất để đánh giá lại Trương Vĩnh Ký thì lại thắc mắc. Tôi cho là đọc không có kỹ. Cho nên tuy rất là buồn nhưng tôi yên tâm là sẽ được giải quyết" ông Nguyễn Đình Đầu nói.


Trong lời giới thiệu cuốn sách, giáo sư Phan Huy Lê viết: 

"Học giả Nguyễn Đình Đầu là người đã dày công nghiên cứu về Petrus Ký, đã thu thập được nhiều tư liệu về Trương Vĩnh Ký trong Thư viện Hội nghiên cứu Đông Dương (Société des Études indochinoises), Trung tâm lưu trữ Hội Thừa sai Paris (Société des Missions étrangères de Paris) và đã dịch, chú thích, xuất bản một số tác phẩm của Trương Vĩnh Ký.


Trên cơ sở chuẩn bị nhiều năm, học giả Nguyễn Đình Đầu đã hoàn thành một công trình như một hồ sơ Trương Vĩnh Ký mang tên Petrus Ký - Nỗi oan thế kỷ.

"Cuốn sách của học giả Nguyễn Đình Đầu không chỉ là một công trình khảo cứu về Trương Vĩnh Ký mà còn là một công trình tổng hợp bao gồm các trước tác tuyển chọn của Trương Vĩnh Ký và hệ thống theo thời gian các sách, báo nghiên cứu, phê bình Trương Vĩnh Ký kể cả khen và chê”.


"Trong sách, tác giả còn sưu tập và công bố một số tư liệu mới về Trương Vĩnh Ký, đóng góp thêm tư liệu về nhân vật lịch sử này." 


(Đoàn Lê Giang)


Thành ngữ từ bàn nhậu sau 75


Sau 75, miền Nam có những câu “thành ngữ” 

về thuốc lá xuất xứ từ bàn nhậu, như: 

Heineken : Hôn em ít nên em khều, em nhéo..


(ngược lại : Nếu em khôn, em nằm im, em hưởng).


Cha tôi - nhà văn Lan Khai  


Sau khi dọn tới nơi ở mới. Các bạn của cha tôi, ngày đêm lui tới đông vui hẳn lên. Mọi người quen biết gia đình tôi đều gọi nơi đây với cái tên của làng kiếm hiệp: Vũng Lương Sơn Bạc


Các bạn bè bằng hữu cha tôi đôi lúc cao hứng lên một chút, để giải khuây nỗi buồn tủi cảnh nghèo vì văn bút thì các ông rủ nhau xuống nơi kính trời (tức phố Khâm Thiên) để làm vài chầu hát ả đào, hoặc giải buồn chốc lát thì hò nhau góp ít tiền tổ chức bữa rượu suông đạm bạc ngay tại nhà tôi, rồi cùng nhau nhấm nháp đưa cay cho vơi nỗi hận mất nước thành ra nghèo túng; luận bàn về văn chương và nhân tình thế thái.

Ngày ấy, những nhà văn tâm huyết với nghề, với đời đã sáng tạo ra nhiều tác phấm để đời như: Lầm than, Giông tố, Số đỏ, Tắt đèn, Việc làng, Đoạn tuyệt, Vang bóng một thời, Lều chõng, Chiếc ngai vàng, Cô gái làng Sơn Hạ, Ai lên phố Cát, Hồn bướm mơ tiên, Đồng xu kế chuyện... Đây là những tác phẩm có giá trị nhân văn sâu sắc, góp phần làm giàu cho kho tàng ngôn ngữ, văn tự, tư duy, trí tuệ, tư tưởng, tài năng... của nền văn học nước nhà. 

Cha tôi là người đã nhiệt thành góp phần cho cái chung ấy. Gia đình tôi đã sống tại căn nhà nhỏ phố Châu Long ấy mãi cho đến đầu năm 1943 thì cha tôi trả lại chủ nhân nó rồi từ biệt cái nơi ngàn năm văn hiến để trở lại rừng núi Tuyên Quang, nơi ông nội tôi đang ngày đêm mong đợi gia đình sum họp. Lúc này, đất nước sắp có sự biến động lớn, cha tôi cũng rất lo cho sự an toàn của ông nội tôi vì cụ đã nhiều tuổi, lại luôn đau ốm, không có người thân bên cạnh, nếu có mệnh hệ gì, cha tôi sẽ ân hận suốt đời. 


Như vậy là, thời gian gia đình tôi về sống ở Hà Nội được tất cả chừng mười năm (từ 1933 - 1943). Tuy thời gian ngắn ngủi nhưng đã để lại những dấu ấn, những kỉ niệm làm tôi khó quên.

(Lan Phuơng)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Cha ông xưa đúc kết được kinh nghiệm sống và truyền khẩu cho đời con cháu mai sau qua ca dao và thành ngữ...Nay con cháu mai sau đời sau chế tác "lung tung, trống kèn" những thành ngữ, danh ngôn cho riêng họ :

Trăm năm bia đá cũng mòn

Ngàn năm bia rượu  vẫn còn trơ trơ


Cha tôi - nhà văn Lan Khai 


Trở lại những trang viết trước, năm 1943 cha tôi đành phải bốc cả nhà và gia đình tám miệng ăn rời đất Hà thành, nơi gửi gắm bao kỉ niệm vui buồn với bạn hữu, với độc giả thường hâm mộ mình về nơi rừng xanh heo hút của Tuyên Quang, quê hương thân yêu của ông, nơi có người cha già yếu đang ngày đêm vò võ một mình ngóng đợi con cháu trở về. Cha tôi nào có biết đâu, cái lần rời Hà Nội trở về là lần ông ra đi vĩnh viễn. 


Sự việc xảy ra sau hơn một năm ông rời Hà Nội. Là một người con hiếu thảo nên khi ông nội tôi lâm bệnh, cha tôi đã quyết định về Tuyên Quang để phụng dưỡng ông tôi. Thời gian này, gia đình tôi vẫn phải ở chung trong căn nhà lá ba gian, hai chái đã cũ kĩ của ông nội tôi ở khu phố Xuân Hòa ngày xưa. Cha tôi đã dành hết tâm lực, thời gian để biên tập hoàn chỉnh cuốn bản thảo bộ lịch sử tiểu thuyết mà ông đã thai nghén từ lâu, dung lượng của nó khoảng ngót ngàn trang viết tay. Đó là cuốn ông tâm đắc nhất từ trước tới nay, ngoài các cuốn Lầm than Mực mài nước mắt.


Để viết ra được cuốn sách này, cha tôi đã phải vắt óc suy tính, chắt chiu từng tí công sức, thời gian và của cải gần ngót chục năm trời cho việc đầu tư, từ lúc chuẩn bị đi sưu tầm tư liệu, nghiên cứu lịch sử, biên chép bản thảo, chỉnh sửa, viết đi viết lại nhiều lần. Có thể nói đó là bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ nhất của đời ông. Cuốn sách tái hiện lại các sự tích lẫy lừng của các thế hệ anh hùng, các nhân vật lịch sử, các mốc thời gian nó xuyên suốt từ thế kỉ XVIII cho tới thời kì lúc thực dân Pháp mới manh nha nhòm ngó, xâm chiếm nước ta, rồi phong trào Cần Vương, Đông kinh nghĩa thục... Đặc biệt là những trang viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự thất bại của nó vào ngày 17/6/1930. Tuy cuộc khởi nghĩa bị thất bại nặng nề chìm trong máu lửa, song thật đáng tự hào. Cái chết bất khuất, kiên cường của 40 chiến sĩ cách mạng cũng là 40 anh hùng quả cảm của Đảng Quốc dân do lãnh tụ Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu. Cha tôi đã ghi chép rất đầy đủ trong cuốn sách này bởi ngày ấy, cha tôi là đồng chí của Nguyễn Thái Học trong Ban chấp hành của Đảng Quốc dân. 


Cuốn bản thảo đó có tên Việt Nam ngươi đi đâu? là cuốn sách cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác của ông.


(Lan Phuơng)


Thành ngữ từ bàn nhậu sau 75


Sau 75, miền Nam có những câu “thành ngữ” 

về thuốc lá xuất xứ từ bàn nhậu, như
Saigon : Số anh iêu gái ở nhà 


Huy


Từ ngày bước vào cõi nhân sinh, trải qua bao thăng trầm, Cao Xuân Huy luôn tỉnh bơ với cuộc đời. Vẫn tỉnh bơ khi biết một con bệnh quái ác đang chụp đến. Cách đây một năm, khi tôi về chơi Quận Cam mấy hôm, hầu như ngày nào tôi cũng đi ăn hay trò chuyện với Huy cùng với vài bạn thân khác. Huy vẫn tỉnh bơ về chuyện bệnh hoạn của mình. Tôi cứ ngỡ tình trạng chưa đến nổi nào. Cách đây vài tuần, sau một chuyến đi xa về, tôi được tin Huy bệnh nặng, nặng lắm, y học bó tay rồi. 


Tôi liền gọi điện thoại cho Huy, chỉ nghe giọng thều thào. Tôi lặng người. Có bao giờ trong đời tôi nghe Huy thều thào. Tôi tìm cách thu xếp nhanh những việc riêng cần thiết để bay về Quận Cam. Hai ngày trước khi tôi lên đường, nhận được điện thoại của Trịnh Y Thư cho biết đúng 4 giờ 53 phút chiều Thứ Sáu 12 tháng 11, 2010, Cao Xuân Huy đã từ biệt vợ con và vài bạn bè thân nhất đang ở bên cạnh, bình thản đi vào nơi vô tận. 

Trịnh Y Thư nói Thư biết là Huy đau lắm, con bệnh quái ác đó hoành hành Huy dữ lắm, nhưng Huy vẫn dằn cơn đau để khỏi buồn vợ con, để như không có sao cả, để bình thản ra đi.


Đến Quận Cam, tôi chỉ được nhìn thấy thân xác Huy trong quan tài, quân phục Thủy Quân Lục Chiến. Huy ốm và già đi nhiều, nhưng vẫn giữ nét bình thản. Hai hôm sau, Huy được đưa vào lò thiêu. Khoảng sau 11 giờ trưa hôm đó, tức thứ năm 18,12, 2010, khói lò thiêu bốc lên. Bây giờ, Huy hoàn toàn trở về với tro bụi. 


Bây giờ, Huy có thể thảnh thơi trở lại các chiến trường xưa, thăm bạn bè cũ. Huy có thể vui đùa với họ thâu đêm suốt sáng. Chẳng cần phải ngâm câu Chinh Phụ… nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn..., vì Huy đã ở nơi đó với họ rồi. Chẳng cần phải bắn ai, phải giết ai. Cũng chẳng phải lo nhìn thấy đứa bạn thân nào bất thần gục ngã máu trào lên bát cơm. Và, chẳng phải hận thù đứa nào.

Huy, hãy vui với ngàn thu đi. Hãy mang bình an đến những người thân yêu còn lại. “Chị Hai” và các cháu Chúc Dung, Xuân Dung. 
 

(Trương Vũ)


California, 23 tháng 11 năm 2010

Cao Xuân Huy mất ngày 12.11.2010 tại California.


Lưu Trọng Lư


Lưu Trọng Lư là nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ mới. Nhận định về nghệ thuật thơ ông, nhà phê bình Hoài Thanh đã có những nhận xét:Tôi biết có kẻ trách Lư cẩu thả, lười biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt giũa câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy
Nhận định này dường như đã thành nỗi ám ảnh, và rồi suốt đời, Lưu Trọng Lư cứ loạng choạng, cứ bập bõm bước trong cái vòng kim cô mà Hoài Thanh đã tiên đoán và vạch ra ngay từ khi ông mới xuất hiện trên thi đàn, 

Về con người Lưu Trọng Lư, thiết tưởng cũng chẳng có ai hiểu ông hơn Hoài Thanh: Cả đời Lư cũng là một bài thơ, nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác ngác, chân bước chập chững trên đường đời thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết. 

(Chân dung và đối thoại - Trần Đăng Khoa)


Tiểu sử : Lưu Trọng Lư sinh ngày 19.6.1911 tại làng Cao Lao Hạ, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Mất ngày 10.8.1991 tại Hà Nội
Tác phẩm : Tiếng thu (1939) - Tỏa sáng đôi bờ (1959), Chiếc cáng xanh (truyện, 1941) - Khói lam chiều (truyện, 194l), Đây mùa thu tới (1987LuuTrongLu-300x350


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Cha ông xưa đúc kết được kinh nghiệm sống và truyền khẩu cho đời con cháu mai sau qua ca dao và thành ngữ...Nay con cháu mai sau đời sau chế tác "lung tung, trống kèn" những thành ngữ, danh ngôn cho riêng họ :

Bia đá, bia ôm, bia nào cũng vậy... 

Làm sao em biết bia đá không say?


Nguyễn Bính


Không đề


Hôm nay dưới bến xuôi đò 

Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau. 

Anh đi đấy, anh về đâu? 

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm... 


Thơ Nguyễn Bính. Tựa “Không đề”. Chỉ có bốn câu. Theo tôi, đây là một trong những bài thơ hay nhất, hoàn chỉnh nhất của Nguyễn Bính. Bài thơ có hai nhân vật, một người con trai và một người con gái. Người con trai ở dưới bến chờ xuôi đò. Người con gái ở trong nhà, qua khung cửa sổ, thẫn thờ ngó ra


Nguyễn Bính nói họ ‘thương nhau”. Chắc chỉ là thương thầm. Nên không có tiễn đưa. Nên người con gái mới băn khoăn tự hỏi “Anh đi đấy, anh về đâu?” Sáu chữ mà bời bời hai tâm sự ngổn ngang. “Anh đi đấy” là câu hỏi thảng thốt. Ðau nhói. “Anh về đâu?” là câu hỏi ngậm ngùi. Buồn tênh. Người con gái ngạc nhiên, rồi bàng hoàng, rồi ngẩn ngơ. 

Chiếc thuyền rời bến, từ từ đi xa. Hình ảnh người con trai mất hút. Chỉ còn chiếc thuyền. Rồi chiếc thuyền cũng khuất. Chỉ còn cánh buồm vươn cao, vươn cao, chới với, chập chờn, lung linh, xa xăm: Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm... 


Người con gái vẫn còn đứng đó, bên thành cửa sổ, vời vợi nhìn theo. Câu thơ ngắt thành ba nhịp (Cánh buồm nâu / cánh buồm nâu / cánh buồm...), tưởng như mỗi nhịp ngắt là một làn sóng đột nhiên trào lên, che khuất cánh buồm. Bao nhiêu lần khuất rồi hiện. Lần cuối cùng, đã xa lơ xa lắc, người con gái chỉ còn nhìn thấy, mờ thật mờ, hình ảnh cánh buồm thấp thoáng, nhoà đi trong khói song bập bềnh. 


Không còn thấy màu sắc nữa: chữ “nâu” ở nhịp cuối biến mất.


(Một lần hiển linh - Phạm Lưu Vũ)


T.T.Kh. và chuyện tình thơ “Hai sắc hoa ti gôn”


Nói chuyện “kì lạ” của bài thơ là nói ở bước khởi đầu lên báo, bản thảo bài thơ đã bị thư kí tòa soạn vò đi, bỏ vào sọt giấy vụn để rồi qua một phút định mệnh lạ lùng nó lại lên mặt báo để thành một tiếng vang lớn trong làng thơ Việt. Hãy nghe Anh Chi kể :

“…Một buổi trưa, cuối năm 1937, ở tòa soạn báo Tiểu thuyết thứ bảy các đồng nghiệp trong tòa soạn đã ra về, chỉ còn lại Trúc Khê Ngô Văn Triện và Ngọc Giao. Trúc Khê còn nán lại để dịch "Truyền kì mạn lục" của Nguyễn Dữ ra quốc ngữ. 

Ngọc Giao đã tiến lại chỗ mắc áo để lấy mũ và ra về. Nhưng khi đó có tiếng kèn đám ma, đám tang đi qua phố Hàng Bông. Ngọc Giao là người rất sợ kèn đám ma nên mới nán lại thêm, cho xe đám đi qua đã. Đã khoác áo, đội mũ, nên ông kéo ghế ngồi tạm lại ở chỗ gần cái sọt đựng giấy vụn. Không biết điều gì xui khiến, ông đưa tay vào sọt, nhặt lên mấy tờ giấy bị vo tròn quăng vào sọt để chờ đi đổ xe rác. 


Tẩn mẩn, ông vuốt một tờ ra đọc. 

Đó là một tờ giấy học trò khổ nhỏ. Một bài thơ. Chữ viết nguyệch ngoạc bằng bút chì, nét run, nét mờ, như thể viết ra một lần gửi đi luôn cho tòa báo. Lệ của của báo là lai cảo phải viết trên một mặt giấy sạch sẽ. Còn bài thơ nét chữ bút chì này lại viết trên cả hai mặt giấy. Nhưng, bài thơ đã khiến Ngọc Giao rung cảm lạ thường: Hai sắc hoa ti gôn của T.T.Kh.

 

Ngọc Giao bước vội đến, đưa bài thơ cho Trúc Khê, yêu cầu ông đọc ngay. Trúc Khê thấy Ngọc Giao quá xúc động, cũng bỏ bút, cầm đọc bài thơ. Và ông đã cảm động, ngồi lặng đi, rồi đọc lại lần nữa. Ông già Trúc Khê vỗ tay xuống bàn, nói với Ngọc Giao: "Sao lại có bài thơ tuyệt đến thế này!". Ngay sau đó, thư ký tòa soạn Ngọc Giao gọi ông cai thợ sắp chữ nhà in lên, bảo xếp chữ ngay bài thơ ấy. 

 Hai sắc hoa ti gôn đi vào đời sống thi ca... 


Kể câu chuyện tâm sự hơn 60 năm cũ, nhà văn Ngọc Giao còn ghi vào cuốn sổ: Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh bị bỏ rơi sọt rác như vậy đó. Nó càng được bạn đọc nhắc đến bao nhiêu, tôi càng ân hận về lỗi làm ăn cẩu thả…Nếu không có cái đám ma qua phố thổi kèn rầu rĩ đó, thì tôi đã đội mũ lên đầu, không cúi xuống sọt rác... thì "Hai sắc hoa ti gôn" đành an phận nằm trong đó.


(Nguyễn Cẩm Xuyên)


Phở


Chính Henri Oger là một nhân chứng quan trọng và khách quan khác. Ông là một thanh niên Pháp chỉ ở Việt Nam 2 năm 1908 - 1909 (theo chế độ thay cho quân dịch) đã cho vẽ lại hình ảnh phở gánh hiếm hoi ngay từ đầu thế kỷ 20. 

 OGER - Pho 1


(tranh Henri Oger không ghi chú là gánh phở, có thể là…gánh mì của người Tàu)


G. Dumoutier (1850 - 1904) nhà Việt Nam học xuất sắc để lại rất nhiều tư liệu giá trị trong mọi lĩnh vực nghiên cứu cũng từng khẳng định: “Phở chưa từng xuất hiện ở Việt Nam trước năm 1907!”. Đó chính là những nguồn tư liệu thuyết phục nhất về 100 năm tuổi của phở.


(Nhiều tác giả)


Phố phuờng Hà Nội


Việc ở đâu, cái gì Tây cũng làm cả từ bên Tây đem sang. Cái mảnh sắt sơn xanh đề số nhà, tên phố đèu làm ở Pháp, tàu thủy tải sang. Cột đèn tròn, cột dây điện vuông ở góc phố, cũng đúc tận bên ấy. Cả đến hòn gạch, hòn ngói đầu tiên cũng đóng ở Mạc Xây. Ngói gạch thời ấy đề "Làm tại Mạc Xây". Những ngôi nhà được làm từ giữa thế kỷ đổ về trước, xem hòn gạch, hòn ngói, cái ống cống nước có in hiệu đều đề rõ tuổi công trình. 

Cái nhà, bức tường vòm cống, bờ hè viền xi măng hay viền đá xanh đều có thể đọc ra cuộc đời và nhìn thấy tang thương Hà Nội. Những bờ hè đầu tiên bọc vỉa đá xanh, thợ đẽo đá khiêng quảy ở núi Trầm núi Thầy về. Còn thấy vỉa đá và đá lát ở đôi chỗ quãng giữa các phố Tràng Tiền, hàng Khay trung tâm thành phố, nơi người Pháp ở. Muốn biết tuổi thọ ngôi nhà, cứ trông dáng kiến trúc, hòn ngói, cái cửa sổ, hàng hiên với cái lan can và ở phố Bà Triệu, hàng Khay đôi khi ngước lên còn nhìn thấy trên đầu tường ghi hàng số ghi năm sinh dinh cơ ấy

Đừng ai nhầm những ngôi nhà mái cong tường dầy, có dáng cổ kính ở đường Nguyễn Du, ở đầu trại hàng Hoa, nhà cô Bảo Đại, là những tòa ngang dãy dọc xưa cũ nhất thành phố. Các nhà ấy còn quá non tuổi đằng khác. Ấy là khi chiến tranh thế giới lần 2 nổ ra, hải quân Đức phong tỏa đường biển, phát xít Nhật đã đổ bộ lên Đông Dương, sắt thép bên tây không tải sang được, các nhà thàu nảy ra sáng kiến làm kiểu nhà cổ. Không mấy xi măng cốt sắt, vôi cát, các mái ngói và bờ tường dầy bục bịch. Lại hợp với phong trào "phục cổ" bấy giờ. Cách đây ít năm lúc chặp tối, một tầng trong ngõ Trần Nhân Tông cạnh hồ Thiền Cuông bỗng sập xuống nguyên cả trần nhà. Ngôi nhà ấy xây vào thời phục cổ này, Trần nhà, đáng kẽ cốt thép, người ta làm bằng xi măng cốt tre

(Tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường – Tô Hòai)


Rắn trong ca dao, vè

  

Để lý giải hiện tượng rắn lột vỏ, dân gian có câu:

Rắn già rắn lột

Người già người cột vào săng

 

Rắn là con vật cầm tinh năm Tỵ. Và những người sinh năm con rắn cũng được dân gian hài hước qua câu ca:

Tuổi Tỵ rắn ở ngọn cây

Nằm khoanh trong bộng có hay việc gì

 

Từ hình tượng của “rắn không chân”, dân gian muốn thể hiện sự khẳng khái dành cho kẻ bản lĩnh, vượt khó khăn, thách thức:

Rắn không chân rắn bò khắp rú

Gà không vú răng nuôi đặng chín mười con

 

Quan hệ xã hội, sự phân chia giàu nghèo, giữa trọng và khinh, xưa nay luôn luôn được người dân ý thức, nhắc nhở nhau:

Khó khăn ở quán ở lều

Bà cô, ông cậu chẳng điều hỏi sao

Giàu sang ở tận bên Lào

Hùm tha rắn cắn, tìm vào cho nhanh.

 

Chuyện đời là vậy!


(Trần Minh Thương)


Sài Gòn, thế kỷ 17 đến thế kỷ 19


Saigon và đàng trong theo quan sát của John Barrow (1792-1793)

Người nước ngoài đầu tiên đến và viết lại nhiều tư liệu giá trị về Saigon và đàng trong vào thế kỷ 18 là John Barrow. Năm 1792, thuyền trưởng người Anh John Barrow đi từ Anh, qua Ba Tây, ghé Nam Phi, Java và cuối cùng đến vùng đất mà ông mô tả là Cochinchina thuộc Đàng Trong từ Saigon miền Nam đến Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế. Ông đến năm 1792-1793 vào lúc chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh đang diễn ra kịch liệt. Saigon đang nằm trong tay Nguyễn Ánh, trong khi Huế và Đà Nẵng dưới sự ngự trị của vua Quang Toản.


Trong khi đó Nguyễn Ánh được Bá Đa Lộc (évêque d’Adran) và các giáo sĩ (như 1 giáo sĩ tên Paul) và giáo dân giúp đỡ lánh nạn Tây Sơn ở miền Nam. Khi chạy vào Saigon thì lúc đó ở Saigon đã có một tàu thương mại do một người Pháp tên là Manuel chỉ huy, 7 thương thuyền Bồ Đào Nha và một số ghe buồm đang trú trong cảng để buôn bán (chú thích của dịch giả: ông Manuel này chính là người có bài vị thờ trong chùa Hiển trung do vua Gia Long sau này xây ở Saigon mà Vương Hồng Sển có nói đến


(Nguyễn Đức Hiệp)


Về cơm thố Chợ Cũ năm xưa  


Chợ Cũ xưa có nhiều tiệm cơm thố


Ngon mà giá bình dân là những tiệm cơm thố nằm góc đường Tôn Thất Đạm – Hàm Nghi. Đa số người đến tiệm là người Việt gồm đủ thành phần xã hội. Người ra vào tiệm tấp nập chủ yếu vì món cơm thố ngon thơm, dẻo và luôn luôn nóng mà giá cả rất “bèo” như tiếng Sài Gòn bây giờ.


Phần tôi lần đầu tiên được ông bạn vong niên mời ăn cơm thố Chợ Cũ. Vào tiệm thấy người ta kêu những món mà từ nhỏ tôi chưa được ăn bao giờ như cá hấp, gà nướng, bồ câu quay, canh cải bẹ xanh nấu với cá thác lác v.v..


Thấy có người vào ăn một hơi cả chục thố cơm, mà đồ ăn chỉ với một dĩa cá mặn rất ư là khiêm nhường. Cơm thố Chợ Cũ từ đó đã gây cho tôi nhiều ấn tượng về thế giới ẩm thực của người Hoa. Sau này trở thành dân Sài Gòn, có nhiều dịp ăn cơm thố, tôi mới khám ra nhiều điều thú vị và bí mật về thế giới cơm thố từ lối nấu, cách ăn của Tàu đã du nhập vào người Việt.


Như ở tiệm cơm thố Bac-Ca-Ra sau rạp chiếu bóng Nam Quang (?) thực khách hầu như chỉ có người Việt. Tiệm nổi tiếng nhờ chiêu “khách gọi món gì tiệm nấu món nấy,” bất kể món gì, từ món “cá hàm dỉ,” canh cải bẹ xanh nấu gừng, đến món cá chưng, cá hấp v.v.. Thế mà thực khách ai nấy đều vui vẻ chờ đợi.


(Trần Văn Chi)


Từ điển và từ ngữ Việt Nam


Những sai lầm trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân


thứ sử

Trong từ thứ sử, thứ nghĩa là sai khiến. Soạn giả đã nói đúng nghĩa của từ tố ấy, nhưng, thật đáng ngạc nhiên khi ông giảng rằng, sử nghĩa là quan coi việc chép sử, và,thứ sử là chức quan coi việc cai trị một quận


Chúng tôi nghĩ rằng, chữ sử không có nghĩa là lịch sử nên phải tra cứu thật kỹ. Theo từ điển Từ nguyên, chữ sử ở đây nghĩa là sứ giả của hoàng đế. Thứ sử vốn là chức quan quản lý một châu. 


Hán Vũ Ðế chia Trung Quốc (gồm cả một số vùng phụ thuộc, trong đó có nước ta) thành 13 châu, mỗi châu đặt một viên thứ sử. Thời đó, nước ta được gọi là quận Giao Chỉ, (nằm trong vùng Giao Chỉ, là một trong 13 châu thời ấy) do một viên thái thú (cấp dưới của thứ sử) đứng đầu. Viên thứ sử Giao Chỉ trông coi một vùng đất lớn hơn nước ta rất nhiều. Như vậy, chức thứ sử thời đó tương đương chức tổng đốc ở Trung Quốc gần đây. 


Từ thời nhà Tuỳ (581 - 618) về sau, thứ sử là tên gọi thay cho thái thú, cai quản một quận, tương đương với chức tri phủ của Trung Quốc. Năm 931, Dương Ðình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ, ông đã cử Ðinh Công Trứ (cha của Ðinh Bộ Lĩnh) làm thứ sử Hoan châu. 

(Lê Mạnh Chiến & H.H.Phúc)


Cua Canada - Dungeness 


Con cáy, con còng di dân trèo đèo lội suối  từ Bắc xuống Nam kỳ lục tỉnh của cụ vua Minh Mạng. Còng, cáy đi đến đâu cũng có tên Tây, tên Tàu đi theo để ’’phụ đề Việt ngữ’’ cho chắc ăn, thảng như người Anh gọi cáy là Fiddler crab, người Tàu kêu là con Bành kỳ. Bởi chưng thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng, người Bắc kỳ di dân từ xứ Thanh (Thanh Hóa) vào Thuận Hóa (Huế). Số là tằng tổ người di dân lấy vợ Chàm rồi sinh con đẻ cái là chuyện bình thường. Vấn đề là các bà mẹ Chàm nói tiếng Việt ấy đã truyền lại cho con cái mình cái giọng của người Chàm nói tiếng Việt. để có tiếng Huế ngày nay. (nguồn: Gs sử học Trần Quốc Vượng).

 

Bèn ngẫm nguội cáy, còng người Huế gọi ‘’mô, tê, răng, rứa ?’’. Cực chẳng đã bò vào máy vi tính nhưng chả thấy tăm hơi con còng, con cáy đâu!? 


***


Bờ biển tây bắc Thái Bình Dương là nơi cua đá tập trung nhiều, đặc biệt là ở bến cảng Dungeness. Đây là loại cua ăn những sinh vật phù du hay cá nhỏ dưới biển. Muốn đánh bắt được chúng, các ngư dân phải dùng bẫy cua lồng sắt thả đến tận đáy mới có thể bắt được chúng. Cua đá Canada ai đã từng thưởng thức qua loại cua đá Canada không thể nào quên hương vị thịt thơm ngon, mềm và vị béo ngọt cùng phần gạch cua vàng óng ánh chỉ cần nhìn thôi là đã muốn ăn (ăn ngoài tiệm khoảng 60 đô một con). Hàng năm, vào tháng 10, người dân tổ chức liên hoan Dungeness tại bến cảng Dungeness để quảng bá loại hải sản đặc biệt nà tới năm châu.


Chả cá Lã Vọng


Chả cá Lã Vọng được chế biến từ cá lăng tươi rói, qua nhiều khâu sơ chế, tẩm ướp gia vị cầu kỳ, cùng cách nướng với bí quyết riêng tạo nên hương vị khó quên.



Cá lăng là giống cá ngọt thịt, thơm, ít xương, qua bàn tay chế biến của chuyên gia ẩm thực, biến thành món ăn cực kỳ hấp dẫn, ăn một lần là ghiền.


(Hằng Nga)


Hữu Loan và Hà Thượng Nhân


Vào thời gian đó, nhà thơ Hữu Loan còn được một tờ báo tặng cho một giải thưởng về bài báo mới nhất do anh viết, với số hiện kim lên đến mấy trăm ngàn là một món tiền lớn lúc bấy giờ. Nhưng không may cho anh, là sau đó anh bị kẻ bất lương tước đoạt gần hết món tiền này, khi tụi chúng giật được cái cặp da anh cột ở phía sau yên xe đạp mà anh vẫn chạy đi trong thành phố. Ðây quả là cái mặt trái đen tối của cái thành phố xô bồ, vàng thau lẫn lộn. Chúng tôi thật thông cảm bùi ngùi xót xa với anh trước cái tai nạn thật đáng tiếc ở dọc đường phố Saigon như thế này.


Nhân tiện cũng xin nhắc lại là trong dịp vào thăm miền Nam năm 1988-89, Hữu Loan đã tham gia với phái đoàn của mấy “Dũng sĩ Ðalat” gồm nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự đi khắp các tỉnh từ Nam ra Bắc để vận động các văn nghệ sĩ cùng ký thư thỉnh nguyện yêu cầu phải có tự do sáng tác, tự do xuất bản, báo chí theo tinh thần “Ðổi mới-Mở rộng dân chủ” mà nhóm Văn Nghệ Ðalat đã chủ trương và công bố trong một bản tuyên ngôn, khiến gây chấn động dư luận khắp nơi hồi đó.

Quả thật nhà thơ lão thành Hữu Loan đã tiếp sức thật đúng lúc, đúng chỗ cho các bạn dũng sĩ trẻ ở miệt cao nguyên Langbian vào cái thời hé mở “Ðổi Mới” sau năm 1986. Chi tiết vụ này đã được nhà văn Bảo Cự ghi đầy đủ trong cuốn sách “Hành Trình Cuối Ðông” xuất bản ở hải ngoại mươi năm trước đây.


Hồi cuối năm 1989, tôi có việc phải ra Hà Nội và nhân tiện ghé thăm anh chị Trần Dần tại nhà ở gần Ga Hàng Cỏ. Anh Dần cũng cho biết Hữu Loan mới ra đây, đang đi thăm bạn hữu ở Hà Nội. Ðúng lúc đó thì xảy ra Ðại Hội Các Nhà Văn và có sự tranh luận sôi nổi về tự do sáng tác văn nghệ theo trào lưu đổi mới. Anh Dần phấn khởi cho tôi hay là, “Nhìn chung, thì phe tiến bộ dân chủ đã thắng thế trong đại hội này.” Nhưng tôi lại không được gặp lại Hữu Loan trong dịp cả hai chúng tôi cùng ở Hà Nội vào cuối Tháng Mười Một, năm 1989. Theo tôi biết thì Hữu Loan đã tự ý rời bỏ cả đảng Cộng Sản, cũng như bỏ hết mọi sinh hoạt với Hội Nhà Văn, nên đã không hề tham dự với đại hội này. Nhưng chắc chắn là anh cũng như anh Trần Dần đã rất phấn khởi trước sự can đảm bày tỏ ý kiến của một số bạn văn nghệ của anh trong dịp đại hội vừa kể.


Và kể từ đầu năm 1990 lúc tôi bị công an bắt giữ cho đến khi qua định cư ở Mỹ năm 1996, thì tôi không có dịp trực tiếp liên lạc với anh Hữu Loan nữa. 


(Ðoàn Thanh Liêm)


Đoàn Thanh Liêm sinh năm 1934 tại làng Cát Xuyên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thuở thiếu thời, ông học Chu Văn An-Hà Nội. Sau đó tốt nghiệp Cử Nhân Luật tại Đại Học Luật-Sài Gòn năm 1958. Năm 1975, ông bị kết án 12 năm vì tội “Tuyên truyền chống phá Xã Hội Chủ Nghĩa.” Khi sang Hoa Kỳ, ông viết cho nhiều tờ báo khác nhau. Ông qua đời năm 2018 ở thành phố Costa Mesa, hưởng thọ 84 tuổi.

Bỡn nhân tình


Tao ở nhà tao, tao nhớ mi,
Nhớ my nên phải bước chân đi.
Không đi my nói rằng không đến,
Đến thì my nói đến làm chi.
Làm chi tao đã làm chi được,
Làm được chớ tao đã làm chi.
(Nguyễn Công Trứ)


Phỏng vấn nhà văn Song An Hoàng Ngọc Phách


- Quyển Tố Tâm là quyển tâm lý tiểu thuyết đầu tiên của ta. Nó mở một kỷ nguyên mới trong lịch sử của tiểu thuyết.lethanh_cuocphongvan-thubutsonganhoangngocphach

- Có nhẽ thế. Nhiều nhà phê bình cũng công nhận như vậy.


Bút-tích Song-An


- Tiên sinh viết có dễ dàng không?

- Dễ dàng, tôi viết trong hơn một tháng. Hồi ấy, tài liệu, chúng tôi sẵn cả: những bức thư tôi cần cho tiểu thuyết, chúng tôi có sẵn; chuyện cũng có sẵn, chỉ việc dàn xếp, thêm bớt đi ít nhiều.


(Lê Thanh)


Linh cửu hay linh cữu


Cữu dấu ngã là quan tài đặt người chết ở trong.

Cữu dư là xe chở linh cữu đi chôn.


Cử (dấu hỏi) không có nghĩa gì lien quan đến tang ma.

Do vậy phải là linh cữu.


(Bảo Lâm)


Xúc cảnh, tức cảnh


Nhà thơ Đông Hồ khi dậy quốc âm ở Văn khoa có lần nhắc tới 

thành ngữ “xúc cảnh thành thi” để nói đến việc người làm thơ 

xúc động trước cản mà viết thành thơ.


Thực ra cũng có thể nói “tức cảnh thành thi”. 

Thơ tức cảnh là thơ viết khi trông thấy cảnh trước mắt như

Bà Huyện Thanh Quan viết bài Đèo Ngang.


Thế nhưng theo nhà làm từ điển Lê Văn Đức (một cụ già Nam kỳ)

Thì tức kiểng lại là làm chuyện bực mình, không lời nào nói đặng.


(Chữ nghĩa chúng ta – Bùi Bảo Trúc)


An yên bên tiếng chuông chùa


Thấy chúng tôi, cô Út – người mấy mươi năm làm công quả ở chùa hỏi liền: “Mấy cháu tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê phải không? Thỉnh thoảng cũng có người đến tìm như mấy cháu. Người ta muốn đốt cho cụ cây nhang vì mến mộ”.


Nhà báo Duy Khôi bên phần mộ 

của học giả Nguyễn Hiến Lê và vợ 

tại chùa Phước Ân (Đồng Tháp).


Vậy là chúng tôi đã tìm thấy mộ học giả Nguyễn Hiến Lê – một tượng đài học thuật lớn, với bảo tháp nhỏ nhắn, hình chân dung nhỏ nhắn, bình dị. Cuộc đời một học giả lớn nay khiêm nhường an nghỉ bên những thiện tín dưới mái chùa quê, vọng tiếng kinh kệ. Việc cụ Nguyễn Hiến Lê về an nghỉ ở “cái rốn” của Đồng Tháp Mười phải chăng như một sự an bài của tạo hóa? Bởi lẽ, trong hàng trăm cuốn sách của học giả, cuốn “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười” là thăng trầm nhất. Ông bày tỏ tình yêu với Đồng Tháp Mười và nay an nghỉ tại đất ấy.


(Duy Khôi)


Tiểu sử : Nguyễn Hiến Lê sinh năm 1912 tại Hà Nội, chính gốc gia đình thuộc Sơn Tây. Ông học trường Bưởi (Chu Văn An sau này), ngoài 20 tuổi trở thành công chức và nhiệm sở lại ở Nam Kỳ, do đó ông vào Nam rất sớm, và ở luôn tại miền Nam và mất tại miền Nam vào năm 1984.nguyenhienle_tatyve_pic

Tác phẩm : Luyện văn, Lịch sử thế giới, 1954, Kiếp người, dịch văn S.Maugham, 1962, Chiến tranh và hòa bình, dịch văn Leon Tolstoy

Thuyết "luân hồi"


Theo thuyết "luân hồi" của sinh, mệnh, lão, tử 


Sinh : bắt đầu 

Tính từ lúc đầu thai đến khi khóc chào đời


Mệnh : trải qua

Từ lúc chào đời đến 70 (Chịu phận)


Lão : được hưởng

Từ 70 tuổi đến chết (Hưởng phúc)


Tử : hoàn thành

Trở về với cát bụi (Xong kiếp luân hồi)


Chữ nghĩa làng văn


Theo Gs Nguyễn Xuân Đào (con trai nhà văn Nguyễn Tuân): Nguyễn Tuân không ăn tỏi và ngại thịt chó.  Ông cũng không thích mắm tôm, chỉ nhắm rượu với thịt ba chỉ chấm mắm tép. Riêng phở được ông viết hết sảy: “Phở ăn bất cứ vào giờ nào cũng đều thấy trôi cả. Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được.


Nhà giáo Hà Mai Anh &

tác phẩm Tâm Hồn Cao Thượng – 1


Nhà giáo Hà Mai Anh (1905 – 20.8.1975) bút hiệu Mai Tuyết và Như Sơn, tác giả của nhiều sách giáo khoa và dịch giả nhiều cuốn sách phổ biến trong thập niên 50, 60 và giữa thập niên 70 ở Sài Gòn. Năm 1954 cụ di cư vào Nam làm hiệu trưởng trường tiểu học Trần Quý Cáp ở góc đường Trần Quý Cáp và Pasteur, Sài Gòn rồi chuyển sang làm việc trong Ban Tu Thư và Học Liệu thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục của VNCH.


Quyển Tâm Hồn Cao Thượng, bản dịch của nhà giáo Hà Mai Anh đoạt Giải Thưởng Văn Chương của Hội Alexandre de Rhodes Hà Nội năm 1943
. Sau năm 1975, Tâm Hồn Cao Thượng của dịch giả Hà Mai Anh được tái bản nhiều lần tại Việt Nam, nhưng chưa lần nào thực hiện đúng trong nguyên tác, các nhà xuất bản thiếu tôn trọng tác quyền! Lời NXB Thanh Niên ghi: “Chúng tôi cũng có thay đổi, sửa chữa một vài chi tiết của bản dịch nầy cho phù hợp với tình hình hiện nay…”. Thật khó hiểu “tình hình hiện nay” qua tác phẩm văn học, giáo dục như thế nào mà tự ý làm giảm giá trị nguyên bản qua nhiều thập niên.


(Vương Trùng Dương)


Chữ và nghĩa thổ ngơi 


Ta có hàng trăm địa danh bị thay đổi hay sai lệch về ngữ âmchữ viết. Tìm hiểu những nguyên nhân gây ra sự biến đổi này, ta sẽ hiểu được nguồn gốc và ý nghĩa ban đầu của các địa danh.


Do “Tây hoá”: Khi người phương Tây đến nước ta, họ nói và viết theo ngữ âm và chữ viết tiếng mẹ đẻ của họ, làm nhiều địa danh Việt Nam bị sai lệch.

Làng Cò –> Lăng Cô (Huế) - Hoài Phố  –> Faifo (Quảng Nam) - Mỹ Lại –> Mỹ Lai (Quảng Ngãi) - Chí Hòa –> Kỳ Hòa (Sài Gòn).


(Lê Trung Hòa – Những địa danh bị đổi sai lệch)


Nhà giáo Hà Mai Anh &

tác phẩm Tâm Hồn Cao Thượng – 2


Vào đầu thế kỷ XVIII, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã dịch thi phẩm Chinh Phụ Ngâm của danh sĩ Đặng Trần Côn đã lưu lại trong văn đàn Việt Nam áng thơ tuyệt tác. Thi phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn viết bằng Hán văn, vào đời Lê Trung Hưng, năm 1741, gồm 483 câu, theo thể thơ cổ phong trường đoản cú, câu dài đến 13 chữ, câu ngắn có 3 chữ. Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã chuyển dịch sang quốc âm, thể thơ song thất lục bát, dài 412 câu. Qua bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, Đặng Tân Côn đưa cho danh sĩ Ngô Thời Sĩ xem và ông ta ngỏ lời thán phục: “Văn chương tới mức nầy thì Lão Ngô tôi chỉ còn biết bái phục mà thôi”. Nhờ bản dịch bằng quốc âm của Đoàn Thị Điểm, tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn mới được lưu truyền và áng thơ Chinh Phụ Ngâm gắn liền với tên tuổi nhà thơ Đoàn Thị Điểm.


Vì vậy có những tác phẩm mà bản dịch lột tả văn phong lẫn nội dung, thể hiện tinh hoa của nguyên tác cũng được nổi danh và lưu truyền qua nhiều thập niên; điển hình như tác phẩm của Edmondo De Amicis qua bản dịch của Hà Mai Anh.


(Vương Trùng Dương)


Những ca từ “khó hiểu” trong 8 ca khúc của Trịng Công Sơn


6. Nghe Những Tàn Phai

Chắc hẳn là ai cũng đã từng nghe “tụi trẻ” ngày nay thường để câu “thính” quen thuộc trên facebook: cuộc đời là những chuyến đi… khi nhắc về các chuyến du lịch bụi. Không biết câu này xuất phát từ đâu, nhưng có lẽ người yêu nhạc Trịnh sẽ thấy quen, vì nó rất giống với một câu trong bài “Nghe Những Tàn Phai”: Chiều nay em ra phố về/ Thấy đời mình là những chuyến xe… 

Có ai giải thích được cặn kẽ ý nghĩa của bài hát này? Chiều nay em ra phố về/ Thấy đời mình là những đám đông/ Người chia tay nhau cuối đường/ Ngày đi đêm tới trăm tiếng hư không. 

Có ai đang về giữa đêm khuya/ Rượu tàn phai dưới chân đi ơ hờ/ Vòng tay quen hơi băng giá/ Nhớ một người tình nào cũ/ Khóc lại một đời người quá ê chề./ Chiều nay em ra phố về/ Thấy đời mình là những quán không/ Bàn in hơi bên ghế ngồi/ Ngày đi đêm tới đã vắng bóng người./ Chiều nay em ra phố về/ Thấy đời mình là con nước trôi/ Đèn soi trên vai rã rời/ Ngày đi đêm tới còn chút hao gầy. 


Nguyên bài là những lời lẽ có vẻ mông lung, như là không nhắc đến một điều gì cụ thể, giống như là tác giả đang nói về những chiêm nghiệm nào đó về cuộc đời? Không phải vậy, thật ra bài hát này được TCS viết về một đối tượng cụ thể: nhân vật chính là một cô gái làng chơi. Điều đó được ca sĩ Khánh Ly thừa nhận, bà đã được TCS trực tiếp giải thích ý nghĩa của bài này khi tập cho bà hát. Đó là một người kỹ nữ, một gái giang hồ đã về già và hết thời, với những bước chân trở về nhà trong đêm sau 1 ngày rã rời. Cô gái đôi khi thấy đời mình là những đám đông, những chuyến xe… rồi rốt cuộc chỉ là tiếng hư không, vắng bóng người trong 1 đời người đã quá ê chề. Rốt cuộc, từ một câu hát trong bài hát về cô gái điếm, giới trẻ biến thành một câu nói có vẻ rất ngầu: Cuộc đời là những chuyến đi…


(Nguyễn Mậu Nhân – Sai Gon xua)


Bát phở không người lái

(Kỷ niệm về thời bao cấp)


Bấy giờ tôi có một chị người cùng làng làm nhân viên trong cửa hàng mậu dịch ấy. Chỉ nội một việc ấy thôi cũng đã là một điều phi thường.

Nói không ngoa tý nào, chị là niềm tự hào của cả làng tôi đấy. Đến nỗi mỗi khi ai đó có việc phải xuống phố huyện, trước khi đi thế nào cũng được nghe những lời dặn dò: “cái ấy, con nhà ấy nó làm ở mậu dịch huyện đấy”. Đi rồi thế nào ở làng cũng túm năm tụm ba kháo nhau: “nhà ấy... hôm nay nó xuống phố huyện, chẳng biết có biết lối mà ghé vào chỗ con ấy… ở mậu dịch không....” Khi trở về thì từ đầu làng tới cuối làng, thế nào cũng hết người nọ đến người kia túm lấy mà hỏi đủ thứ chuyện về chị mậu dịch viên quý hóa muôn vàn tình thương mến ấy.


(Phạm Lưu Vũ)


Vĩnh biệt Đào Mộng Nam


Báo Văn Nghệ ở Hà Nội, trong một số báo gần hai năm trứơc, có ghi nhận về công trình nghiên cứu và dịch thuật của Đào Mộng Nam về thơ văn Cao Bá Quát - với người viết là Nguyễn Huy Thuận và tựa bài viết là "Biết thêm về Cao Bá Quát", trích:
"Ngày 16-12-2004, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học thuộc Hội Nhà văn đã tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập và Hội thảo khoa học về Cao Bá Quát. Đông đảo các nhà nghiên cứu văn học, các chuyên gia Hán, Nôm, các nhà văn và bạn đọc đã đến dự. Giáo sư tiến sĩ Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung tâm đã ôn lại chặng đường 10 năm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá của dân tộc, đặc biệt là các công trình lớn về thân thế sự nghiệp của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, về từ điển Tiếng Huế... Trong công việc thầm lặng vô cùng khó khăn này, với sự cộng tác tâm huyết của các học giả nổi tiếng trong và ngoài nước, Trung tâm đã sưu tầm, bổ sung nhiều tài liệu đặc biệt quý hiếm, chẳng những có giá trị về văn chương mà còn là những chứng tích rực rỡ về lịch sử, chính trị, dân tộc học, ngôn ngữ học... Vừa công phu lật tìm trong bụi phủ của quá khứ vừa chạy đua với thời gian, vì có nhiều chuyên gia lớn về Hán, Nôm đã trên dưới 100 tuổi, công phu, chuẩn xác, năng động, sáng tạo, chặng đường 10 năm của Trung tâm là một điển hình đẹp đẽ đầy tâm huyết với văn hoá dân tộc… Văn nghệ xin giới thiệu bài Biết thêm về Cao Bá Quát của tác giả Nguyễn Huy Thuận trong Ban quản lý di tích Phú Thị, quê hương Cao Bá Quát. Trong khoảng 10 năm trở lại đây đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà báo, sinh viên đại học, cao học về Phú Thị (Gia Lâm, Hà Nội) tìm tư liệu về Cao Bá Quát và quê hương Phú Thị. 


(Phan Tấn Hải)


***


Phụ đính I


Thơm ngon Bình Dương


Cây trái Lái Thiêu 


(1) Sách Nhà thờ Lái Thiêu (ấn hành kỷ niệm 100 năm xây dựng giáo đường) có đoạn: "Theo quyển Lịch sử truyền giáo ở Đàng Trong của Launay xuất bản năm 1924 tại Paris từ năm 1747, Lái Thiêu đã nằm trong danh sách 11 họ đạo của vùng Trấn Biên, lúc ấy Lái Thiêu đã có 400 giáo dân đứng vào hàng thứ 3 địa phận Đàng Trong. Từ sự kiện này, chúng ta xác định họ Lái Thiêu đã được thành lập từ nhiều chục năm trước 1747."

Tỉnh Bình Dương đáng kể ở các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng. Bên cạnh vú sữa, đu đủ, chôm chôm, dâu gia, khóm / thơm / dứa, mãng cầu / na, mận / đào / roi, mãng cầu xiêm, chanh, cam, bưởi, dừa, xoài, chuối, khế, hồng xiêm, mít - nhất là giống mít tố nữ, v.v., Lái Thiêu "đệ nhất danh quả" là sầu riêng và măng cụt.

Tuỳ giống mà cơm sầu riêng dày hay mỏng, màu trắng ngà hoặc vàng hoặc cam. Ăn tươi múi cơm sầu riêng chín là cách sử dụng chủ yếu. Một số tửu đồ cho rằng thả múi sầu riêng chín vào bia hoặc rượu mà uống rất ngon, song tôi đã thử mấy lần, nhận thấy lời khuyên đó trật lất. 

Gỏi măng cụt


Măng cụt, tắt hoá thành măng, do phiên âm danh từ tiếng Pháp mangoustan. Tiếng Hoa là 山竹, bính âm phát shānzhú, âm Hán - Việt phát sơn trúc. Thế nhưng, người Việt Nam gọi măng cụt kiểu chữ nghĩa là giáng châu. 

Trung học công lập đầu tiên của tỉnh này là trường Trịnh Hoài Đức, khai giảng năm 1955 tại quận Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một. Là học sinh khoá đầu tiên trường nọ, sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Đà Lạt đã trở lại dạy trường xưa từ năm 1965, nhà giáo Nguyễn Văn Phúc vừa vuốt mái tóc bạc vừa nhìn khu vườn măng cụt lúc lỉu quả của mình tại Lái Thiêu:

- Trong các món gỏi mà mình được ăn, gỏi măng cụt xứng đáng dẫn đầu. Tiếc rằng hiện nay, cả vùng Lái Thiêu rất ít người biết làm gỏi măng cụt.


IMG_5953

Tôi liền giới thiệu đầu bếp là một cựu học sinh trường Trịnh Hoài Đức, nhanh như sóc, Chu Ngạn Thư hái những trái măng cụt đã lớn nhưng vỏ còn xanh, đoạn huơ dao chuyên dụng lột vỏ để lấy hạt hơi chín. Hạt được thái từng lát ngang, hoặc bổ dọc theo múi, thả vào tô nước đá lạnh trong thoáng chốc. 

Chu Ngạn Thư trộn đều hạt măng đã thái với dừa non nạo, tôm sú, mực tươi, cùng thịt heo ba rọi / lợn ba chỉ vừa hấp chín, tất nhiên không thể thiếu gia vị mà chủ yếu là nước mắm chanh ớt tỏi. Trên dĩa gỏi măng cụt, anh rắc đậu phộng/lạc rang giã dập và rau răm. Chu Ngạn Thư thêm:

- Nếu không xài tôm, mực, thịt heo, thì thay bằng thịt gà hấp rồi xé. Nên chọn gà ta. 


Bữa tiệc gỏi măng cụt giữa vườn cây Lái Thiêu. Mặc dầu có rượu vang Pháp Baron de Saint-André, song tất cả lúc ấy đều thích thú đưa cay bằng rượu sầu riêng. 


(Phanxipăng)


***


Phụ đính II


Quang Dũng với Tây Tiến


Nhà thơ Quang Dũng tác giảTây tiếnmột trong số ít bài thơ hay nhất, năm 1957 phải đi chỉnh huấn trong vụ Nhân văn Giai phẩm vì bài thơ này, từ đó ông sống rất nghèo, lặng lẽ trong cương vị biên tập báo Văn Nghệ, sau là NXB Văn Học. Năm 1978, tôi cùng ăn cơm với ông tại nhà ăn tập thể NXB Văn học, ông cao to nên ăn rất khỏe lâu lâu lại thấy ông đứng lên đi xin thêm cơm. Bà Gái cấp dưỡng lúc đầu còn cho thêm cơm, sau chỉ cho…miếng cháy. 


Xuân Sách viết chân dung ông với lời lẽ xót thương và mến phục:
“Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi...” 
(…) 
“Áo sờn thay chiếu anh về đất” 
Mây đầu ô trắng, Ba Vì xanh 
Gửi hồn theo mộng về Tây tiến 
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.


(Nhật Tuấn)


Vũ Trọng Phụng với Giông Tố


Nhà văn Vũ Trọng Phụng, tiểu thuyết gia vào loại hàng đầu ở Việt Nam nhưng số phận tác phẩm của ông thật bi thảm. Ông bị quy là đệ tử của Freud, rồi ai đó moi trong thư viện ra bài báo của ông “Nhân sự chia rẽ giữa đệ tứ và đệ tam quốc tế, ta thử ngó lại cuộc cách mệnh cộng sản ở Nga từ lúc khởi thủy cho đến ngày nay", ông bị quy là phần tử Trotskít.

Từ đó Vũ Trọng Phụng coi như bị “khai trừ” khỏi văn đàn. Sau này khi tôi về NXB Văn Học, nhà phê bình văn học, giám đốc Như Phong rỉ tai tôi: ”Trong cuộc họp phê phán Vũ Trọng Phụng ở Thái Hà ấp toàn những nhà văn hàng đầu mà không một thằng nào dám mở mồm bênh Vũ Trọng Phụng lấy một câu…” 


Khắc họa chân dung ông, Xuân Sách đầy lòng cảm phục:
“Đã đi qua một thời Giông tố,
Qua một thời “cơm thầy cơm cô”
Còn để lại những thằng “Xuân tóc đỏ”
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ”


(Nhật Tuấn)


Theo nguồn khác Vũ Trọng Phụng bị “khai trừ” khỏi văn đàn. Vì nhân vật (ông già An)  trong Giông Tố.

Có nguồn cho rằng Vũ Trọng Phụng ám chỉ Hồ Chí Minh.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét