Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn CHO Và NHẬN-Thơ Bùi Đăng Khuê. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn CHO Và NHẬN-Thơ Bùi Đăng Khuê. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

10 thg 2, 2018

CẢM XÚC KHI ĐỌC BÀI THƠ CỦA THẦY NGUYỄN DUY LINH- Nguyễn Cang

MỘT ĐỜI THƠ - MỘT KIẾP NGƯỜI
(Tưởng Niệm Bùi Đăng Khuê)

Nghiệp làm thầy
Nửa đường đứt gánh
Nợ văn chương
Trọn kiếp đa mang
Sau cuộc chiến tương tàn
Tưởng chừng như bất tận
Sống sót, trở về
Tâm trạng ủ ê
Hình hài còn nguyên vẹn
Nhưng thương tích trong hồn
Còn nhức nhối
Chưa thôi .
Ngoảnh nhìn lại
Mái đầu bạc trắng .
Ngày lại ngày
Vô vị , qua mau
Năm tháng cứ trôi đi biền biệt
Những cảnh đời nhếch nhác vây quanh
Những phận người ngu ngơ bất hạnh
Cơm - Áo - Gạo - Tiền...
Cứ phó mặc cho an bài số phận
Cứ bình thản tiêu dao ngày tháng
Với bạn bè
Thơ, rượu
Hồn nhiên.
Đốm lửa tàn vừa tắt ngúm trong đêm
Cũng là lúc những trang đời khép lại
Khoác lên vai
Thơ túi - Rượu bầu
Quán gió - Đường mây
Nhẹ bước
Lại bắt đầu
Làm mới cuộc hành trình
Tìm vẻ đẹp
Ở trong thơ.
Hẹn cùng Khuê
Một ngày nào đó
Cõi hư vô
Hạnh ngộ
Tay trong tay
Cười vui
Nhảy múa
Tưng bừng
Dướiánhtrăngkhuya. 
Saigon, 1/2018
Nguyễn Duy Linh


Lời bạt:
Hôm qua tôi nhận được bài thơ của Thầy Linh (Nguyễn Duy Linh, cựu giáo sư SPSG)gởi tới bằng ipad. Đọc xong bài thơ tôi nhận ra ngay đây là một bài thơ hay về nội dung lẫn hình thức. Năm rồi Thầy gởi cho tôi một bài thơ nhân họp gia đình SPSG , tôi thấy bài thơ cũng thường thường bậc trung. Tự Thầy giải thích : "Lâu lắm rồi tôi không còn làm thơ nữa nên ý như già cỗi theo tuổi đời của tôi". Thầy cho biết hồi còn ở ngoài Bắc( trước 54) Thầy đã làm thơ và có in được một(?)quyển, khi vào trong Nam vì lo cuộc sống nên gián đoạn không làm thơ nũa. Tôi nói Thầy nên tìm vui trong thơ văn cho khuây khỏa lúc tuổi già. Trong bài nầy Thầy có đề cập tới chuyện quay về với nguồn vui thơ văn. Hy vọng Thầy sẽ góp vui với bạn bè bằng những vần thơ hay, đặc sắc.

Về xuất xứ bài thơ tôi xin trích lại đoạn văn ngắn sau đây của chính tay thầy viết : "Anh hỏi bài thơ nào - hay là hỏi chính bài thơ của tôi. Nếu thế thì anh cứ tự nhiên đăng bài, miễn là Anh thấy thích. Thật ra tôi viết nó vì khi mới về tới nhà ở Saigon, bước vào phòng thấy Tập,thơ ‘ CÁNH CHIỀU KHÔNG KHÉP’ (Khuê xuất bản chung với Nguyễn Quốc Đoan, Lê Hồng Sơn, Nguyễn Tấn Hưng và Cù An Hưng) tặng tôi, vẫn nằm nguyên vị trí trên bàn hai năm trước, lủc tôi trở lại Mỹ. Bồi hồi nhớ lại cũng thời điểm này Anh ấy qua đời đã 4 năm , một ngày sau hôm tôi đến thăm - thấy anh ấy nằm bất động mắt nhắm nghiền, nghe tiếng tôi hỏi còn nói ‘Thầy Linh’ Bài thơ được hình thành trong tình huống đó, không phải điếu văn hay văn tế đâu Anh, cho dù nó có vẻ như thế".
Saigon 6/2/2018
---------



Bài thơ làm theo thể tự do, câu ngắn xen lẫn câu dài, thỉnh thoảng có gieo vần bằng, tuy không chặt chẻ nhưng vẫn giữ nguyên hồn thơ một cách sâu đậm. Bài chia làm 5 khổ. Khổ 1/ ( 4câu): giới thiệu anh bạn Bùi Đăng Khuê (K.1 SPSG) một nhà giáo đồng thời là một nhà văn:

Nghiệp làm thầy
Nửa đường đứt gánh
Nợ văn chương
Trọn kiếp đa mang

Khổ 2( 8 câu): Bạn mình đi vào cuộc chiến tương tàn dài như bất tận , cuộc chiến mà ngày nay vẫn còn gây tranh cãi về tên gọi của nó : cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cuộc chiến Bắc Nam, cuộc chiến ủy nhiệm , hay cuộc chiến ý thức hệ? Dẫu tên gọi là gì nó cũng còn gây nhức nhối trong trái tim người Việt trong suốt chiều dài lịch sử từ 1945 tới 1975 và còn kéo dài mãi cho tới ngày nay. Cuộc chiến đã gây không hiết bao nhiêu tang tóc đau thương cũng như sự hủy diệt lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà. May mắn thay, dù trực tiếp tham gia cuộc chiến, bạn tôi vẫn giữ được mạng sống khi cuộc chiến tàn, nói chung "mấy người đi trở lại". Sống sót là một điều may mắn , bạn mình không bị một vết thương nhưng hỡi ôi một vết thương khác tuy không lỡ loét, què quặt nhưng nó tàn phá ghê gớm biết chừng nào! đó là vết thương "trong hồn" ! nói rộng ra là vết thương trong lòng dân tộc. Đây là một nét đặc biệt, một khám phá sáng tạo dựa trên thực tế của tác giả, gây xúc động con tim bao nhiêu người. Tác giả đã khéo léo gợi ra cho chúng ta thấy vết thương trong lòng dân tộc đã gây chia rẽ hận thù giữa nguòi thắng cuộc và kẻ thua cuộc trong một xã hội bất công. Thử hỏi có cuộc chiến nào như cuộc chiến nầy không? Tác giả không nói ra nhưng chúng ta đều thấm thía, quặn thắt trong tim:

Sau cuộc chiến tương tàn
Tưởng chừng như bất tận
Sống sót, trở về
Tâm trạng ủ ê
Hình hài còn nguyên vẹn
Nhưng thương tích trong hồn
Còn nhức nhối
Chưa thôi .

Lời thơ rạt rào tình cảm , tình yêu quê hương đất nước, tình đồng bào, tình bạn... Câu thơ dài như tiếng thở dài của nỗi đau và sự bất hạnh khi cuộc chiến không có dấu hiệu chấm dứt:

Sau cuộc chiến tương tàn
Tưởng chừng như bất tận.
Hai câu nối nhau thật chặt chẽ ghép liền hai ý một cách trọn vẹn ! nói lên sự khốc liệt của chiến tranh và sự đau khổ tận cùng ! Từ "tương tàn", "bất tận" sử dụng thật đắc vị.
Câu ngắn kế tiếp như hơi thở uất nghẹn từng cơn, buồn ủ rũ :
Sống sót, trở về
Tâm trạng ủ ê
Từ "ủ ê" chỉ sự buồn rầu trong dạ khiến vẻ mặt không vui. Nhà thơ Cung Trầm Tưởng cũng cảm thấy như vậy qua mấy câu thơ sau :
Ðêm nay trời khóc trời mưa,
Gió lùa ẩm mục, trời đưa thu về.
Trời hay thu khóc ủ ê?
Cổ cao áo kín đi về đường tôi.

( Đêm sinh nhật/ Cung Trầm Tưởng )

Chiến tranh không ai muốn nhưng một khi đã vào cuộc chiến thì hằng ngày cận kề với cài chết ai mà không sợ không lo , nhất là lo cho gia đình cho ngưòi yêu và người thân . Đề tài chiến tranh là nguồn cảm hứng bất tận cho thi nhân Việt Nam từ cổ chí kim . Hãy nghe nhà thơ Hữu Loan tả lại tâm trạng người chiến binh xa nhà nhớ về ngưòi vợ ở miền quê , giờ không biết ra sao? vì ngay cả bản thân mình cũng không biết thế nào:
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê ...

(Màu tím hoa sím /Hữu Loan)

Khổ 3/(13 câu):
Ngoảnh nhìn lại
Mái đầu bạc trắng .
Ngày lại ngày
Vô vị , qua mau
Năm tháng cứ trôi đi biền biệt
Những cảnh đời nhếch nhác vây quanh
Những phận người ngu ngơ bất hạnh
Cơm - Áo - Gạo - Tiền...
Cứ phó mặc cho an bài số phận
Cứ bình thản tiêu dao ngày tháng
Với bạn bè
Thơ, rượu
Hồn nhiên.
Đọc lời giới thiệu của Thầy Linh về ngưòi bạn mình tôi nhân ra ngay anh Khuê là kẻ thua cuộc sau 1975. Ngày tàn cuộc chiến anh mang nỗi đau trong lòng. Không kể lể dong dài, tác giả , bằng vài nét chấm phá, đã xây dựng được nhân vật chủ thể trữ tình sống vô vị. Ngày tháng cứ kéo dài cho tới khi đầu bạc . Bạn bè ngày cũ , năm tháng chinh chiến một thời nay đã trôi vào dĩ vãng mịt mù...

Cảnh đời nhạt nhẽo nhưng lại tranh giành để sống, xã hội bày ra lắm cảnh nhiễu nhưong, lừa đảo, hỗn tạp, nhân tâm ly tán , đi đâu cũng gặp cảnh xô bồ tranh giành, người chậm chạp ngu khờ thì nhận lãnh thua thiệt, bất hạnh, càng ngày càng bị cô lập. Suốt ngày chỉ còn biết cái ăn mà thôi. Cơm áo gạo tiền cứ vây quanh suốt năm dài tháng tận , triền miên không dứt. Xã hội quay cuồng điên đảo. Kẻ bất hạnh đành buông trôi cuộc đời tìm quên lãng trong chén rượu, vui cùng bạn bè nghiêng ngã cơn mê.

Trước cuộc sống bế tắc tác giả cũng thường tới lui thăm bạn mình vừa để an ủi, chia sẻ vừa để tiêu khiển bằng ly rượu cay. Ngày xưa Cao Bá Quát cũng làm thế , ngày nay tác giả và bạn Khuê cũng làm như vậy. Hãy lắng nghe Cao Bá Quát lý luận tại sao phải uống rượu để tiêu sầu :

Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,
Cảnh phù du trông thấy đã nực cười.
Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,
Tiêu khiển một vài chung lếu láo.
(Uống rượu tiêu sầu/ Cao Bá Quát)

Cảnh nghèo của bạn tác giả trong bài thật đáng thương, tôi chợt nhớ tới cảnh nghèo của Nguyễn Công Trứ lúc hàn vi, được tả lại trong bài Hàn nho phong vịnh phú. Hai cảnh nghèo giống nhau nhưng tính chất khác xa ! vì xã hội thời ông Trứ khác xa thời hậu 75!
Đầu kèo mọt tạc vẽ sao, trước cửa nhện giăng màn gió.
Phên trúc ngăn nửa bếp nửa buồng,
Ống nứa đựng đầu kê đầu đỗ.
Đầu giường tre, mối dũi quanh co,
Góc tường đất, trùn lên lố nhố.
Bóng nắng giọi trứng gà bên vách, thằng bé tri trô,
Hạt mưa xoi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó .
(Hàn nho phong vịnh phú/Nguyễn Công Trứ)

Một số từ ngữ được sử dụng hết sức gợi tả gây nhiều xúc động như là những hình ảnh có thật đang xảy ra trước mắt. Trong câu : Năm tháng cứ trôi đi biền biệt. Từ "biền biệt" được sử dụng thật khéo léo diễn tả hình ảnh một người đi xa rất lâu không còn nghe tin tức , ví dụ: Hắn bỏ làng đi biền biệt. Hình ảnh nầy khiến người đọc càm thấy bùi ngùi, xót thuơng cho thân phận bèo bọt kẻ xa nhà đi tìm cuộc sống mới chưa chắc khá hơn.

Trong bài nầy tác giả nói năm tháng trôi đi biền biệt , chữ biền biệt chỉ thời gian cứ lặng lẻ trôi đi, trôi mãi không còn biết tháng ngày, nó mất hút theo cát bụi thời gian và không gian vô tận, chợt ngoãnh lại thì mái đầu đã bạc trắng ! Hình ảnh người đi biền biệt hay tháng ngày trôi biền biệt đều gây ấn tượng buồn đau, nuối tiếc cho những gì đã mất.

Câu kế : Những cảnh đời nhếch nhác vây quanh. Từ "nhếch nhác" cũng rất gợi tả một người ăn mặc lôi thôi bẩn thỉu. Ở đây tác giả muốn nói cảnh đời nhiễu nhương xấu xa trong một xã hội hỗn độn. Tiếp theo là từ "vây quanh" đặc tả một tình trạng bế tắc, buộc chặt không còn lối thoát.

Trong một câu mà sử dụng liên tiếp những từ đắc thể làm tăng thêm tính bi đát và bế tắc trong cuộc sống của nhân vật chính , thật đặc sắc!

Khổ 4/(10 câu):

Đốm lửa tàn vừa tắt ngúm trong đêm

Cũng là lúc những trang đời khép lại
Khoác lên vai
Thơ túi - Rượu bầu
Quán gió - Đường mây
Nhẹ bước
Lại bắt đầu
Làm mới cuộc hành trình
Tìm vẻ đẹp

Ở trong thơ.

Mở đầu khổ 4/ bằng hai câu thơ :
Đốm lửa tàn vừa tắt ngúm trong đêm
Cũng là lúc những trang đời khép lại.
Hai câu nầy chứa ẩn ngữ thật khó hiểu , ta chỉ thấy được nội dung mà không hiểu hết khía cạnh khác quanh cụm từ : "Đốm lửa tàn vừa tắt ngúm", lý do tại sao cuộc đời ( hoán dụ của "đóm lữa")lại tắt ngúm? phải chăng đó là cùng đường hết lối thoát? Từ "trong đêm" nói lên sự bế tắc tuyệt vọng như một người đi trong đêm tối mịt mù không còn tìm thấy lồi ra ở đâu !

Có thể giải thích câu thơ nầy bằng cách khác hợp lý hơn, đó là bạn tác giả sắp từ giã cõi trần sau những ngày dài nằm bệnh, dựa vào cụm từ "Đóm lữa tàn"( ám chỉ bạn Khuê lâm trọng bệnh sức khỏe yếu lắm rồi như đóm lữa tàn sắp tắt đến nơi), từ ngữ "vừa tắt" là lời khẳng định bạn mình vừa ra đi vĩnh viễn trong đêm tối hôm đó. Hơn nữa tác giả trong lời nói đầu cho biết bạn mình đã mất cách nay 4 năm. Từ khi bạn mất tác giả buồn vì không còn ai tâm sự, nên bỏ đi. Từ đó quan niệm sống của tác giả cũng chuyển hứơng, tiếp nối bằng câu thơ bên dưới.

"Cũng là lúc những trang đời khép lại". Từ "khép lại" dùng rất hay !nó chỉ sự chấm hết một gian đoạn của những ước mơ , hy vọng, và của những bon chen tồi tệ. Một hành trình mới lại bắt đầu đó là hành trình vào chốn thơ văn, mà tác giả( thầy Linh ) cho rằng đó là chốn bình yên rất đẹp đầy thơ mộng có thể làm sống lại cuộc đời ông! Như trên đã giới thiệu tác giả làm bài thơ để nhớ lại người bạn năm xưa, xen vào đó là những suy nghĩ của riêng mình viết ra như một bài điếu văn để "khóc bạn" lồng vào đó là tâm sự của chính tác giả ! Hình ảnh hai nhân vật đan xen nhau trong lời văn tự thuật làm tăng thêm tính linh động của phép ẩn dụ vừa mở ra một góc nhìn khác của cuộc đời, giúp ta nâng cao nghệ thuật thưởng thức thơ văn lên một trình độ mới.

Khổ cuối( 9 câu):

Hẹn cùng Khuê
Một ngày nào đó
Cõi hư vô
Hạnh ngộ
Tay trong tay
Cười vui
Nhảy múa
Tưng bừng
Dưới ánh trăng khuya.

Cuối cùng tác giả bài thơ tìm về chinh mình. Mang tâm trạng bơ vơ buồn chán ta có cảm tưởng như : Ngày vui chóng qua/ Tiệc vui khó gặp lại hai lần" nên tác giả buồn , buồn mà không biết vì sao ta buồn! ông thốt lên bài ca Hạnh Ngộ, hẹn gặp bạn ở chốn hư vô ! nơi đó không còn buồn đau thù hận ! để cùng bạn nhảy múa tung tăng dưới ánh trăng vàng bát ngát như một đứa trẻ thời thơ ấu. Cuối cùng ta mới thấy tác giả trải lòng bằng những câu thơ trữ tình lãng mạn rất thi vị mà không suồng sả buông lơi !


Bài thơ khép lại nhưng trong tim tôi vẫn còn đọng tình cảm lâng lâng niềm thương nỗi nhớ , tôi nhớ đến bạn bè cùng lứa tuổi đã đi vào cát bụi, nhớ những người còn ở lại mà bây giờ không biết lưu lạc nơi đâu. Cám ơn tác giả đã gợi ý cho tôi viết lên nhũng dòng cảm xúc nầy.
Nguyễn Cang(8/2/2018)

Chú thích : Đính kèm bài viết và tải liệu bổ sung của Thầy Linh và bạn Ngân Triều .

1/: Khi tôi viết xong bài nầy thì Thầy Linh mới cho biết thêm vài chi tiết về bạn mình là Bùi Đăng Khuê. Thầy Linh cho biết ý đoạn 4/ trong lời bình khác với ý của Thầy. Tôi không chỉnh vì nghĩ rằng thơ văn có muôn màu muôn sắc, lý luận thế nào nghe hợp lý là được. Tuy nhiên tôi vẫn tôn trọng ý Thầy nên đăng bài đính kèm để bạn đọc thưởng lãm.

2/: Vài hàng nói thêm về tập thơ của Bùi Đăng Khuê ( Thầy Linh gởi tới, đính kèm).

3/: Vài ghi chú và nhận xét của Ngân Triều về bài thơ của Thầy Linh.

4/: Những bài thơ của Bùi Đăng Khuê.

---------

1/: Anh Cang,

Bây giờ tôi mới có thời giờ đọc kỹ lời bình của Anh về Bài ‘ Một đời thơ - Một kiếp người ‘ tưởng niệm Anh Bùi Đăng Khuê, người đối với tôi ngoài cái tình Sư Phạm, thân thiết như một người em, còn gắn bó với tôi như một người bạn văn chương. Bài Anh viết đến với tôi như một món quà đặc biệt cạnh niềm vui được trở lại ăn Tết ở quê nhà. Anh đã dành cho bài thơ một sự trân trọng không dễ có và viết rất công phu, chú trọng từ chi tiết cho tới ngôn từ. Những nhận xét và phân tích của Anh nói chung là khá xác đáng và sâu sắc, đôi khi còn vượt lên trên suy nghĩ của tôi khi viết bài thơ (đa phần là viết theo cảm hứng và cảm xúc...) - Chắc chắn ai làm thơ cũng thấy hân hoan khi có người đọc chia sẻ cảm nghĩ hay phát kiến cùa họ đốì với sáng tác của mình một cách chân thành, khen hay chê không quan trọng, dù tâm lý chung thì khen vẫn dễ lọt tai hơn, nhưng một lời khen chiếu lệ, khen cho phải phép theo tôi chẳng có giá trị gì. Riêng với khổ thơ áp chót,-( Đốm lửa tàn vừa tắt ngúm đêm qua. ................ .....Tìm vẻ đẹp. / Ở trong thơ ), tôi xin nói rõ hơn . Tôi dùng cụm từ “đốm lửa tàn” với hai ý - ý thứ nhất bệnh tình Khuê đã đến hồi nguy kịch, tính mạng như ngọn đèn trước gió (đúng như Anh Cang hiểu) -ý thứ hai, Anh Cang cho là dùng ẩn dụ ( cũng đúng nữa), tôi muốn nói tới cuộc sống của Khuê, mà tôi và bạn bè anh ấy hiểu rất rõ, là không coi cái gì là quan trọng cả , tung hê hết, tặng vật vừa nhận được có người khen,cho - xe đang đi, dù là xe cũ sau 75 với nhiều người là cả một gia tài, cho thằng em vì nó khổ hơn mình -nhà cũng cho luôn con cháu, gọi từ ngoài Bắc vào cho nó dễ sống dễ thở hơn, vì mẹ cháu xưa chăm sóc Khuê sau khi Mẹ Khuê mất như một người mẹ thứ hai .... ) Dùng rượu để tiêu dao ngày tháng, sống như thế có khác gì đã chết. Đốm lửa tàn vừa tắt ngúm đêm qua / Cũng là lúc những trang đời khép lại , - là tôi hồi tưởng lại khi nhận được tin Anh ấy mất một ngày sau khi tôi và vài bạn đồng nghiệp khác tới thăm. Trước khi chúng tôi ra về Anh ấy còn đòi cho điếu thuốc. ( Thèm thôi, chứ hút gì được nữa !). Mấy câu sau, trong khổ thơ này, không phải là nghĩ về tôi như Anh Cang nghĩ đâu. Cần nói thêm, mãi đến phút chót Anh Khuê mới xin quy y theo Phật giáo, tôi quên mất pháp danh rồi, vả lại cũng chẳng phải là điều quan trọng, điều quan trọng là tôi đã mất một người em, một người bạn. Tôi tưởng tượng, hình dung về người em, người bạn vừa mới ra đi mãi mãi này với một mong muốn thật chân thành là nếu có kiếp sau thì Khuê đã ra đi như thế này : Khoác lên vai / Thơ túi- Rượu bầu / Quán gió - Đường mây / Nhẹ bước / Lại bắt đầu / Làm mới cuộc hành trình / Tìm vẻ đẹp / Ở trong thơ.

Đẹp đấy chứ, phải không Anh Cang. Cảm ơn Anh đã đọc kỹ bài thơ và trang trọng viết lời bình.

Saigon, 8/2/2018.

 Nguyễn Duy Linh

2/: Duy Linh Nguyen Xin chỉnh lại : Thơ Anh BÙI ĐĂNG KHUÊ lúc đầu được in riêng thành một tập được Anh đặt cho cái tên là MÂY BAY. và do con trai Anh Vũ Viết Điềm ( bạn đồng khóa của Anh Khuê ) thực hiện bằng computer. Đến năm 2011 thì Anh đưa vào Thi tập CÁNH CHIỀU KHÔNG KHÉP.

3/: Em xin đọc một đoạn thơ của Thầy: "Đốm lửa tàn vừa tắt ngúm trong đêm Cũng là lúc những trang đời khép lại Khoác lên vai Thơ túi - Rượu bầu Quán gió - Đường mây Nhẹ bước Lại bắt đầu Làm mới cuộc hành trình Tìm vẻ đẹp Ở trong thơ." * -Tắt ngúm: tắt ngóm biến trại, từ ghép, chỉ sự tắt hẵn, một sự kết thúc đột ngột, ngỡ ngàng. -Thơ túi - Rượu bầu Quán gió - Đường mây Phải chăng Thầy thương tiếc một người học trò cũ với thi tập: Mây Trắng-Cánh chiều không khép, và người học trò ấy đã từng đến viếng thăm Thầy qua bài thơ: Gặp Lại Thầy ( Kính Tặng Thầy Nguyễn Duy Linh -1974 ) Gặp Lại Thầy Khi Tóc Con Đã Bạc Đám Bạn Bè Đứa Mất Đứa Đi Xa Một Quảng Đời Trong Chiến Tranh Mất Tích Chút Tình Riêng Thất Lạc Giữa Quê Nhà Đến Nhà Thầy Nhâm Nhi Bầu Rượu Cũ Chưa Ra Vườn Đã Thấy Hương Lan Khi Chếnh Choáng Đền Xem Hòn Non Bộ Ngẩn Ngơ Buồn Nhìn Sông Núi Gian Nan Bùi Đăng Khuê * Qua đoạn thơ, Thầy tin rằng Anh Bùi Đăng Khuê tuy đã mất (những trang đời khép lại) nhưng hồn anh vẫn như đang thanh thản (nhẹ bước) phiêu du trên một cung đường mới, trên cõi hư vô để tiếp tục đi "tìm vẻ đẹp ở trong thơ" . (Hành trình: 行程, cung đường phải đi cho đến hết, itinéraire.) * Chỉ với mấy dòng thơ đơn sơ mà cất cao một tiếng lòng sâu lắng, ngậm ngùi. Ngậm ngùi cho số phận của người học trò cũ hay ngậm ngùi cho tâm trạng riêng mình. Thương trò mà cũng là thương cho bản thân? Cái điểm sáng trong thơ Thầy, cái gợi tả dạt dào chính là ở chỗ ý tại ngôn ngoại đó. Em xin trân trọng tình ý đoạn thơ và xin cảm ơn Thầy. Học trò của Thầy, Ngân Triều Hậu Nghĩa

4/: Những bài thơ của Bùi Đăng Khuê :
CHỜ MONG ( Kính tặng Thầy Bổng)

Trời đem giông bão về ngăn lối
Làm cánh chim bay lạc cuối trời.
Xứ lạ tình buồn như cỏ mọc
Quê nhà, mộng cũ áng mây trôi.
Chốn xưa từ độ xa người ấy
Đã mấy lần thu ở cuối đường ?
Vật vã tình còn năm ngón nhỏ
Ngồi vùi xuống vũng tóc pha sương.
Bao giờ trở lại thăm quê cũ ?
Ngắm những lối xưa những phố phường
Để lắng nghe lòng như nước chảy
Êm đềm ngấm xuống mạch quê hương.

Bùi Đăng Khuê

Tôi gửi Anh - nguyên văn ( mặc dù tôi đã đề nghị đổi cách xưng hô từ khi còn ở dạng bản thảo ) 2 bài thơ Anh Khuê đã tặng tôi.

Bài 1 NGUYỆN

Dẫu dòng đời lúc trong lúc đục
Vẫn kề môi uống ngụm nước đời
Dẫu tình người tấn tuồng đen bạc
Vẫn trong tim hình bóng con người.

Nguyện một lần làm bông hoa nhỏ
Đứng nghiêng mình hứng giọt nắng mai
Dẫu chiều đến quanh đời giông bão
Vẫn mỉm cười đón những tàn phai .2-3-1994


Bài 2 GẶP LẠI

Gặp lại thầy khi tóc con đã bạc
Đám bạn bè đứa mất đứa đi xa
Một quãng đời trong chiến tranh mất tích
Chút tình riêng thất lạc giữa quê nhà.
Đến nhà thầy nhâm nhi bầu rượu cũ
Chửa ra vườn mà đã thấy hương lan
Khi chếnh choáng đến xem hòn non bộ
Ngẩn ngơ buồn nhìn sông núi gian nan.

1974


Nguyễn Cang(8/2/2018) 










3 thg 8, 2016

Thơ Bùi Đăng Khuê (Đề tặng các GS.SPSG xưa )

(ảnh: Lê Nguyên Anh,thơ Bùi Đăng Khuê:spsgk.1)

Chờ Mong
(Kính Tặng Thầy Bổng)
Trời đem giông bão về ngăn lối
Làm cánh chim bay lạc cuối trời.
Xứ lạ, tình buồn như cỏ mọc
Quê nhà, mộng cũ áng mây trôi

Chốn xưa từ độ xa người ấy
Đê mấy lần thu ở cuối đường?
Vật vã tình còn năm ngón nhỏ
Ngồi vùi xuống vũng tóc pha sương.

Bao giờ trở lại thăm quê cũ?
Ngắm những lối xưa, những phố phường
Để lắng nghe lòng như nước chảy
Êm đềm ngấm xuống mạch quê hương




Thơ Bùi Đăng Khuê tặng Thầy Nguyễn Duy Linh


Gặp lại Thầy khi tóc con đã bạc
Đám bạn bè, đứa mất, đứa đi xa
Một quãng đời trong chiến tranh mất tích
 
Mảnh tình riêng thất lạc giữa quê nhà.  
Đến nhà Thầy, nhâm nhi bình rượu cũ  
Chưa ra vườn mà đã thấy hương lan
  Khi chuếnh choáng đến xem hòn non bộ  
Ngẩn ngơ buồn nhìn sông núi gian nan.


Thơ Bùi Đăng Khuê tặng Thầy Doãn Quốc Sỹ
 
Thầy chẳng cho gì ngoài ánh mắt
Lúc muộn phiền con chỉ thấy mây bay
Thầy chẳng cho gì ngoài giọng nói
Đượm tình người thành phấn trắng trên tay
Khi Thầy cho, Thầy cũng không hề biết
Con vô tình lúc nhận chẳng hề hay
Nhưng con hiểu Thầy đã cho tất cả
Bởi lòng con bát ngát núi sông này



(Bùi Đăng Khuê-Giáo sinh khóa 1 SPSG-Qua đời năm 2013)
 Thầy Nguyễn Quý Bổng (đã mất) và thầy Dõan Quốc Sỷ tại Canada

29 thg 10, 2025

Tâm tình Gia đình Sư Phạm

   (Chúc Thọ GS.Doản Quốc Sỷ 100 tuổi,ảnh báo Người Việt )

 TÌNH

Được sinh ra trong trời và đất, cho dù là con giun con dế, mọi giống loài to nhỏ, đến con người đều được gọi là sinh vật hữu TÌNH. Đơn giản là vì mọi loài đều có tình cho nhau. Mỗi loài bày tỏ mỗi cách riêng, con người thì họ nhiều cách và nhiều loại tình nhất.
Tình người, tình quốc gia, tình gia đình, tình trai gái, tình đồng đội, tình bạn, tình thầy trò… Chúng ta dừng ở lại ba chữ “tình thầy trò” để lạm bàn đôi chút. Vì hôm nay, tại nhà của cụ Sỹ, chúng tôi có được ba chữ “tình thầy trò” một cách tròn đầy nhất. Nó được thể hiện qua thời gian, không gian và các học trò của cụ. Những người đã cưu mang, gìn giữ cái tình cảm cao quý này cho đến ngày hôm nay, nơi đất nước Hoa Kỳ, xa nửa vòng trái đất với quê nhà Việt Nam.
Quây quần xung quanh bàn cơm thân mật là nhóm thầy trò vẫn thường xưng tên là gia đình Sư Phạm. Do vì tất cả đều là thầy và trò của trường Sư Phạm Sài Gòn. Bao gồm niên trưởng cụ Sỹ, đạt 100 tuổi hạc, kế đến là cụ Nguyễn Duy Linh, kém cụ Sỹ mười con hạc, trò Kim Lan, trò Hạnh, trò Dung, trò Khanh, trò Chí, trò Bình, mọi người đều cảm thấy ấm áp quá với mối “tình thầy trò” này.
Cụ Sỹ có một câu chuyện thường kể đi kể lại trong những buổi gặp gỡ bạn bè hay học trò, hẳn là gây nhiều cảm xúc nên cụ kể hoài “Nghề giáo chúng tôi lương thì không bao nhiêu nhưng tình thầy trò thì vô giá. Là thầy giáo của ba trường Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa và Đại Học Vạn Hạnh thì làm sao tôi nhớ hết các học trò, nhưng ngược lại học trò nhớ thầy của chúng. Có lần tôi đang đi bên này đường và một nhóm người khác đi bên kia đường. Bỗng dưng tách ra một anh chàng vội vàng băng qua đường tiến về tôi. Anh chàng cúi chào thầy và xưng danh, xưng là học trò của tôi ở lớp nào tại trường nào và năm học nào. Chỉ có thế thôi rồi lại vội vàng băng qua đường và nhập bọn đi tiếp. Thế đấy, tình thầy trò chúng tôi chỉ có thế mà thật là vô giá!”
Còn cụ Linh thì…“Năm nào cũng vậy, tôi cầm đầu một nhóm lâu la học trò đi thăm các bậc trưởng thượng như cụ Sỹ đây này.”, và điều hành những buổi họp mặt Gia Đình Sư Phạm hải ngoại, cũng như
quốc nội. Giữ lửa cho nồi khoai được chín đều là vai trò của cụ Linh, người dẫn dắt tinh thần cho nhóm học trò thân yêu của mình. Các trò nay đã là ông bà nội, ông bà ngoại hết cả rồi, thế nhưng vẫn một mực tôn quý thầy và nghe lời những chỉ thị. Việc này không tự nhiên mà có, vì cụ Linh không những là thầy mà còn trong vai trò người anh cả với lũ lâu la này.
Nhớ lại chuyện xưa, chắc cũng trên dưới sáu mươi năm gì đó, khi cụ Sỹ từ Hà Tiên trở về Sài Gòn, nhận nhiệm sở tại trường Sư Phạm Sài Gòn thì được cụ Linh hoan hỉ tiếp đón. Hai cụ được ban giám hiệu trường giao nhiệm vụ chăm sóc ban Báo Chí. Cụ Sỹ làm trưởng, cụ Linh làm phó. Phó vậy chứ làm việc vất vả hơn trưởng nhiều, vì phải đọc trước tất cả các bài viết, thơ văn và tuyển chọn đợt một. Sau đó mới chuyển đến cụ Trưởng đọc duyệt để cho đăng trên đặc san của trường. Hai cụ hỗ tương lẫn nhau để chuyển đến các giáo sinh của trường những tác phẩm hay. Có những tác giả được cụ Phó khen là nhà thơ hay nhà văn tương lai, như anh Bùi Đăng Khuê đã có những bài thơ bất hủ về Cho Và Nhận.
Thầy chẳng cho gì ngoài ánh mắt,
Lúc muộn phiền con chỉ thấy mây bay.
Thầy chẳng cho gì ngoài giọng nói,
Đượm tình người thành phấn trắng trên tay.
Khi thầy cho thầy cũng không hề biết,
Con vô tình đón nhận cũng không hay.
Nhưng con biết thầy đã cho tất cả,
Bởi lòng con bát ngát núi sông này.
(Bùi Đăng Khuê)
Thế rồi thời gian trôi, không gian thay đổi, người người già đi, có người đã ra đi mãi mãi, và những người còn ở lại. Có người còn ở quê nhà Việt Nam và có người đã trôi dạt xứ người, thế nhưng “tình thầy trò” thì vẫn thế. Có thể nói “tình thầy trò” càng gắn bó khi con người càng xa tổ quốc quê hương, cho nên Gia Đình Sư Phạm hải ngoại vẫn sinh hoạt đều đặn. Những buổi gặp gỡ đông đảo hoặc gặp gỡ nhỏ lẻ đều
mang đúng tinh thần “tôn sư trọng đạo”.
Một hình ảnh đẹp của “Tình”, làm con người nổi trội lên so với những sinh vật hữu tình khác!
California, ngày 2 tháng 7 – 2022
Doãn Cẩm Liên
NGHĨA
Người ta thường nói “tình nghĩa”, hai chữ này hay đi đôi với nhau; thoạt đầu mới nghe có thể có người nghĩ chữ “ nghĩa “ là tiếng đệm đi theo chữ tình nghe cho có vẻ êm tai, dịu dàng hơn ; nhưng thật ra chữ nghĩa đứng một mình vẫn có ý sâu sắc không kém chữ tình đâu !
Người ta cũng có lúc nói nghĩa đồng bào, nghĩa vợ chồng, nghĩa anh em, nghĩa đồng môn...và nghĩa thầy trò. Đối với những người đã mang trong đời nghiệp giáo thì cái cụm từ “ nghĩa thầy trò” với họ có ý nghĩa rất thiêng liêng, chẳng trách từ đời xưa đã có ba chữ “Quân Sư Phụ”luôn đi kèm với nhau, người Thầy luôn luôn là một hình ảnh cao quý, gần như là “thần tượng” của học trò, nhất là lũ học trò nhí mới chập chững những bước đầu tiên vào trường học. Còn nhớ lúc thằng con trai nhỏ bắt đầu đi học, ngày nào về nhà nó cũng luôn miệng nói “ cô giáo bảo thế này nè, cô giáo dặn thế kia...”, lời cô giáo nói luôn luôn là đúng, lúc đó cô giáo là “ thần tượng “ của nó. Nói chi xa, ngay cả lúc mình còn nhỏ, ngày đầu tiên đi học về, tôi đã nằng nặc xin tiền mẹ mua giấy bóng bao tập, mà giấy màu hồng cơ vì cô giáo đã dặn chỉ dùng một màu đấy thôi, còn tập thì phải là tập 100 trang hiệu Olympic là loại giấy tốt láng viết ngòi bút mực đẹp. Nhà có sẵn nhiều cuốn tạp chí thế giới tự do của hàng xóm cho, loại giấy này dày, in màu rất đẹp; mẹ kêu lấy dùng, tôi đã dãy nãy nhất định không chịu vì không đúng ý cô giáo, cuối cùng mẹ cũng phải chịu thua con, vì mẹ không phải là cô giáo.
Lúc xong bậc trung học, có lẽ là do cơ duyên nên tôi đã thi đậu vào trường SPSG, rồi qua hai năm học , tiếp xúc với các Thầy, Cô và bạn bè, cùng đi thực tập lên lớp dạy, có bao nhiêu kỷ niệm với nhau , bao nghĩa tình nối kết giữa thầy trò thật đáng trân quý. Còn nhớ năm học nhị niên, trường có tổ chức “Ngày Sư phạm”mấy ngày cuối tuần, tất cả các lớp nhất niên, nhị niên đều tham gia, mỗi lớp cắm lều tại sân trường, vui sao biết mấy, các sinh hoạt, các cuộc thi đua, văn nghệ, báo chí, trò chơi; các Thầy, Cô như quên hẳn vai trò gia sư trang trọng, cũng hoà mình cùng sinh hoạt với đám học trò, lúc này câu tục ngữ “nhất quỷ, nhì mà, thứ ba học trò “được thể hiện rõ nét nhất.
Cuộc vui nào rồi cũng tàn, hội ngộ nào rồi cũng chia tay, thầy trò lưu luyến nắm tay nhau hát lời tạm biệt “ Gặp nhau đây rồi chia tay, ngày vàng như đã vụt qua trong phút giây...đường trường sông núi hẹn mai ta sum vầy...”
Nhưng, sau đó không có cuộc sum vầy truyền thống sư phạm nơi mái trường thân yêu một lần nào nữa, vì thời thế đã thay đổi, mái trường đã thay tên , thương hải đã biến vi tang điền !...
. . . . . . . . . . . . . . . . .
Gần nửa thế kỷ rồi mà ngỡ như mới hôm qua; hôm nay thầy trò có dịp tái ngộ nơi đất khách quê người, tóc thầy tóc trò đều đã điểm sương, người còn kẻ mất , ngậm ngùi ngồi bên nhau nhắc chuyện xưa tích cũ, rồi thoắt cười , thoắt khóc khi một người nhắc lại một tình thân đã vĩnh viễn đi xa. Thôi thì xin cứ tạm bằng lòng với hiện tại khi thầy trò còn có lần gặp nhau, tay cứ bắt mặt cứ mừng , cùng nhau hát bài “hôm nay đây còn vui trông thấy nhau...”, cái tình cái nghĩa thầy trò vẫn sâu đậm bền vững , thế là đủ, hãy trân trọng những giây phút quý báu còn ở bên nhau , vì khi quay lưng từ giả, có ai biết được sẽ còn có lần sau tái ngộ, khi thầy trò dù không muốn nói ra nhưng cũng đang từng ngày từng bước bước dần lên chuyến xe cuối cùng trong cuộc đời…
“ Tình sư đệ muôn năm bền vững,
Nghĩa thầy trò trọn kiếp không phai.
Dù cho con tạo an bày,
Nghĩa tình, tình nghĩa ngày dài thâm sâu.”
Garden Grove (CA),
Tháng 7/22
Ngọc Ánh SPSG12

3 thg 12, 2024

CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN Kỳ 1/12/2024 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 Chữ nghĩa làng văn 


“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.


***


Chữ nghĩa làng văn 


Có người cho rằng, từ cầy có lẽ xuất phát từ chữ cẩu nhưng được đọc âm khác đi vì kiêng cữ. 


Nguời Việt chỉ biết chó qua văn chương Hán học. Chữ “cẩu” đầu tiên xuất hiện trong bài thơ tả cảnh hai ông quan chửi nhau của Cao Bá Quát làm vào thời Tự Đức (1847-1883). 

Các từ về chó có trong thơ văn như khuyễn mã (Kiều – Nguyễn Du). Ngòai ra Nguyễn Du có riêng bài thơ về ăn thịt chó.


(Thịt chó là món ăn truyền thống của người Việt? - Tôn Thất Thọ)


Chữ nghĩa làng văn


Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc

Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn


Trước Nguyễn Công Trứ đã có câu của Nguyễn Trãi:

Biết đủ dù không gì cũng đủ

Nên lui nếu có dịp thì lui


Chữ là nghĩa


Ở Quảng Bình có động Phong Nha, tôi nghĩ nó không phải “răng” của gió hay “gió” có răng...

Mà nó phiên âm từ tiếng Chàm: Phong = Phnom; Nha = ya,ea:


(Tự điển dân gian - Chân Diện Mục *)


* tên thật Phan Huy Viên, Gs trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ.

Bút hiệu Chân Diện Mục, tự Tây Đô cuồng sĩ


Đại hạ

Một ông phú hộ làm ngôi nhà mới, mở tiệc ăn mừng. Yên Đổ cho hai chữ Đại hạ. Đại hạ là nhà to. Nhưng thay vì viết hạ là nhà, cụ lại viết chữ hạ là mùa hè, mùa hè to là nghĩa gì?

 

Sau cụ mới giải thích cho người thân:
Đại hạ là hè to, hè to lái là tò he: tò he tí hỏi, là tiếng kèn đám ma

Hỏi ra thì ông phú hộ này xưa kia quả có làm 

nghề thổi kèn đám ma...


(Chơi chữ - Lãng Nhân Phùng Tất Đắc)


Chơi chữ


Chơi chữ là dùng phương thức diễn đạt sao cho hai lựơng ngữ nghĩa khác hẳn nhau đựơc biểu đạt bởi cùng một hình thức ngôn ngữ, nhằm tạo nên sự thú vị mang tính chất chữ nghĩa. Càng làm phong phú thêm ngôn ngữ, văn chương Việt Nam. 

Giả dụ như:
- Phất phất phóng phong phan, pháp phái phi phù, 

phù phụng Phật 

- Căng căng canh cổ kệ, ca cao kỉ cứu, cứu cùng kinh .


(Phất phất cờ phứơng bay trứơc gió, đạo pháp làm phép đốt bùa, bùa thờ Phật - Oanh oanh hòa giọng đọc kệ cổ, cất cao tiếng nghiền ngẩm kinh, nghiền ngẩm đến cùng) 

Đây là câu đố chọc ghẹo ông sư mómchú tiểu ngọng của cụ Nguyễn Khuyến. 


Câu đối chữ


"Ruồi đậu mâm xôi, mâm xôi đậu"
"Kiến bò đĩa thịt, đĩa thịt bò"


Chân dung Văn học Nghệ thuật & Văn hóa 


Trong số 18 chân dung, chỉ hai người thuộc thế hệ người viết sau 1975 được đề cập, nhà văn Cao Xuân Huynhà văn Phùng Nguyễn. Tuy vậy, dù trước hay sau, tất cả đều kinh qua thời đoạn lịch sử khốc liệt của dân tộc vào nửa sau thế kỉ XX. Bởi thế, dù muốn hay không, lịch sử hiện hữu khắp nơi và bám chặt lên đời sống mọi người. Sự hiện hữu của con người và thế giới xung quanh liên kết, thắt buộc vào nhau như con ốc sên đeo dính cái vỏ của nó. Thế giới là một chiều kích bất khả cách li của con người, biến đổi, cái hiện tiền oan khiên cũng biến đổi theo. Thế giới chúng ta đang hiện hữu có bản chất lịch sử, đời sống của tất cả chúng ta mở ra theo chiều thời gian đánh dấu bằng những cột mốc biến cố và ngày tháng (30/4/1975 chẳng hạn). 


Lịch sử ở đây hiện lên với bản di chúc viết tay của Nhất Linh kèm theo câu nói ngắn gọn “Nhờ Vinh giữ, khi cần Vinh đưa lại” giữa hai người sinh viên trước cửa cư xá đại học. 


Lịch sử hiện lên trong cuộc chia tay cảm động giữa cơn đại hồng thủy của nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến với gia đình Đỗ Thúc Vịnh trên đường Tự Đức. Lịch sử hiện lên “sau khi lệnh đầu hàng được phát đi, có thể thấy từ mấy tầng lầu cao là một cơn mưa confetti, chỉ một màu trắng của những mảnh vụn giấy tờ tùy thân của quân cán chính cần được xé hủy trước khi cộng quân hoàn toàn kiểm soát Sài Gòn.” Lịch sử hiện lên “những giày nón quân phục được cởi bỏ vội vàng vứt tả tơi trên đường phố.” 


(Trịnh Y Thư)


Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả


“lền: lền trời  → không viết: nền”. (Gs Nguyễn Văn Khang)


Không rõ “lền trời” đây nghĩa là gì. Nếu “lền” là cái được trải rộng ra và làm nổi lên những gì trên đó, thì phải viết là “nền” = nền trời. 


Nếu “lền” có nghĩa là nhiều, đông; “lền trời” = đầy trời, thì phải có phụ chú để người dùng không bị nhầm lẫn (đây chỉ là phỏng đoán, vì không thấy bất cứ cuốn từ điển nào ghi nhận “lền trời”).


(Hòang Tuấn Công)


Gặp bác Tạ Chí Đại Trường 


Hôm trước có giới thiệu cuốn Sử Việt, đọc vài cuốn. Hôm nay cuối tuần đọc thêm một tác phẩm khác của Tạ Chí Đại Trường, cuốn Thần, Người Và Đất Việt. Sách đã được xuất bản tại Việt Nam từ năm 1989, và vừa được nxb Trí Thức tái bản lần thứ 3 năm rồi.


Trong tác phẩm này tác giả khảo sát thần linh của người Việt từ xưa đến nay. Bằng những kiến giải lí thú nhưng rất logic và thuyết phục, tác giả đã lột bỏ đi lớp áo mão rực rỡ của nhiều vị thần, hiện nguyên hình là những ông đáông cây .. 


Khảo sát những vị nhân thần sơ khai đến các nhân thần chính danh thời cận đại, tác giả cũng chứng tỏ trong tâm thức người Việt luôn tồn tại một ông thần, dù đôi lúc bị ngụy trang ko dễ  thấy, từ đó dự báo chiều hướng phát sinh các vị thần mới trong tương lai - “Người ta chỉ có thể thay đổi chứ không thể hủy thần linh…

Trên mạng có bài viết khá thú vị của TS Nguyễn Thị Hậu viết về tác giả và cả cuốn Thần, người và đất Việt. Cop về đây mọi người đọc cho vui, thay lời giới thiệu.

***
Lần đầu tiên tôi “gặp” bác Tạ Chí Đại Trường là vào năm 1992, tại nhà thầy Trần Quốc Vượng (1). Năm ấy thầy mới đi Mỹ về. Tôi từ Sài Gòn ra ghé thăm thầy. Ngắm nghía những giá sách đầy chật nhà thầy, tôi nhận ra ngay những cuốn sách mới. 

Có một cuốn mà vừa nhìn thấy tôi đã cầm lấy xem ngay bởi cái tựa sách và cả tên tác giả đều lạ. Đó là cuốn “Thần, người và đất Việt” – cuốn sách mà cho đến giờ tôi vẫn nhớ nhầm tựa sách, luôn đảo thứ tự 3 thành phần trên như “Người, đất và thần Việt” hay “Đất, thần và người Việt”… vì tôi thấy để kiểu gì cũng hay và… có lý.

Tất nhiên sau đó tôi xin phép thầy Vượng photo lại, và nó trở thành một trong số ít những cuốn sách nghiên cứu tôi rất thích.


(Nguyễn Thị Hậu)


(1) Kể từ cuối thập niên 2000, sách của Tạ Chí Đại Trường mới được chính thức in và phát hành tại Việt Nam. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi viết: Với tôi, ông ấy là người luôn người ngẩng cao đầu.


Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả


“lợn: lợn nòi, lợn nái, lợn rừng…”. (Gs Nguyễn Văn Khang)

          

- Nếu viết “lợn nòi” thay vì “lợn lòi” là sai. Vì “lòi” trong “lợn lòi” nghĩa là thòi, lòi ra, chỉ giống lợn nanh lòi, chìa ra ngoài. 


(Hòang Tuấn Công)


Tạ Chí Đại Trường


Tạ Chí Đại Trường quê gốc Bình Định. Tên của ông, Đại Trường, được ghép từ hai địa danh của tỉnh Khánh Hòa là Đại Lãnh và Trường Giang (sông Cái). Năm 1964, ông tốt nghiệp cao học Sử tại Đại Học Sài Gòn rồi nhập ngũ, cấp bực cuối cùng là Đại úy.

Sau năm 1975, ông bị đi cải tạo 6 năm đến năm 1981. Từ 1994, ông đi định cư tại Hoa Kỳ. Sau khi nhắm không qua khỏi căn bệnh nan y, ông đã từ Mỹ về lại Việt Nam ở với người anh vào ngày 4 tháng 10 năm 2015 với ý nguyện sẽ “gửi nắm thân tàn” lại nơi quê hương.


Tác phẩm: Thần, Người và Đất Việt, Những bài văn sử

Những bài dã sử Việt, Việt Nam nhìn từ bên trong, Một khoảng Việt Nam Cộng hòa nối dài Lịch sử nội chiến Việt Nam 


Trò chuyện cùng nhà văn Vũ Thư Hiên


Nhà văn Vũ Thư Hiên vừa từ nước Pháp đi một vòng nước Mỹ để thăm các bạn văn và các độc giả đã từng yêu mến ông qua nhiều tác phẩm, đặc biệt là tập hồi ký “Đêm giữa ban ngày”. Khi ghé Washington tuần này, ông đã dành do đài TNHK một buổi trao đổi thân tình liên quan đến vấn đề văn chương. Mời quý vị theo dõi.


VOA: Thính giả bên trong Việt Nam muốn biết cuộc sống hiện nay của những nhà văn như ông. Xin cho biết qua một vài điều về sinh hoat hằng ngày của ông bây giờ và các nhà văn Việt Nam ở Pháp, Mỹ hay ở hải ngoại nói chung.


VTH: Tôi nghĩ rằng lớp nhà văn già, có bao nhiêu người tôi không tính được, nhưng những người lớp tuổi trên 60, 65 thì chắc là giống tôi, vì bên này có chương tình cấp dưỡng cho người già. Còn anh em nhà văn trẻ hơn vẫn có công ăn việc làm. Có lẽ cũng là cái tốt cho họ vì môi trường hoạt động của họ sẽ rộng hơn, họ có dịp đi nước này nước khác nhiều hơn, gặp gỡ các nhà văn nước này nước khác nhiều hơn. 


VOA: Tuy sống tại Pháp nhưng chắc là ông vẫn có dịp theo dõi tình hình văn học bên trong Việt Nam. Vậy thì ông có những nhận xét gì về tình hình văn học bên trong Việt Nam hiện nay, điển hình là “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, các bài thơ của Nhóm “Mở Miệng”, tập thơ “Dự báo phi thời tiết” của Nhóm 5 Con Ngựa Trời v.v…


VTH: Tôi cũng chăm chú theo dõi tình hình văn học trong nước, tôi thấy nó tiến chậm chạp so với các nước khác. Văn học ở các nước khác không có những điều cấm kỵ, người đọc đủ trưởng thành để tự chọn món ăn tinh thần cho mình, không cần sự khuyên nhủ của một cơ quan nào. Những hiện tượng có tiếng ồn trong văn học, thì tôi nghĩ “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” không thể coi là một tác phẩm văn học được. Đó là một tư liệu về tinh thần dấn thân của một thanh niên (1) đi theo một lý tưởng, nhưng nếu nói đó là một tác phẩm văn học thì chắc là không thể nói được. 

Còn nhóm Mở Miệng thì tôi cũng đọc thỉnh thoảng, bắt gặp những nét của những anh em trẻ. Tôi nghĩ rằng nhóm Mở Miệng còn tồn tại được vì họ nói những điều không đụng chạm lắm. 5 Con Ngựa Trời cũng thế, nó cũng chỉ phi ở những con đường không có rào cản, nếu có rào cản chắc là không phi được..


(1) Ghi chú của người sưu tầm: Đặng Thùy Trâm là một cô gái.


Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả


“rắn: rắn dọc dừa”. - rắn: rắn dọc dưa”. (Gs Nguyễn Văn Khang)


Không có loại rắn nào gọi là “dọc dừa”, hay “dọc dưa”, mà chỉ có “rắn sọc dưa”, còn gọi rắn rồng hay rắn hổ ngựa

Sở dĩ gọi là “rắn sọc dưa” vì rắn có sọc chạy dọc theo thân mình, giống như sọc của quả dưa


(Hòang Tuấn Công)


232 Chữ nghĩa làng văn xóm chữ 


Đến đây, bạn đọc hẳn thắc mắc : tại sao một tập thơ (Chân dung nhà văn) với nội dung như thế lại được phép xuất bản? Tại sao tác giả lại chép tay rồi phóng ảnh, thay vì đánh máy, xếp chữ như thường lệ? Tại sao in tại nhà in bộ Nội Vụ, tức là bộ Công An ngày nay? Câu trả lời : đây là mưu lược của nhà xuất bản Văn Học, do Lữ Huy Nguyên điều hành và Hoàng Lại Giang đại diện phía Nam. 99 bài thơ được đánh số, không ghi rõ tên chân dung của nhà văn nào, buộc người đọc phải đoán, như một câu đố. 


Được tướng Trần Độ ghi âm tại Vũng Tàu, nơi Xuân Sách cư ngụ. Lữ Huy Nguyên và Hoàng Lại Giang nghe được, bằng lòng xuất bản, chịu trách nhiệm và hậu quả. Nhưng để tránh khâu in ấn, đánh máy, xếp chữ, chữa bản vỗ dễ bị công an PA25 (sic – A25?) theo dõi và ngăn chặn, tác giả phải chép tay rồi chụp phim. Cuối cùng đưa cho nhà in bộ Nội Vụ là nơi ít bị công an theo dõi nhất. Thế là sách in ra và phát hành.


***

Thêm chuyện nhỏ về Huy Cận: chính anh đã đọc cho tôi (?) nghe bài về Hoài Thanh, một cách thích thú. Anh đọc chệch nửa câu :

Thi nhân còn một chút duyên
Chẳng gìn cho vững, lại lèn cho đau.


Thay vì: lại vò cho nát lại lèn cho đau. Huy Cận nhớ sai, có lẽ vì  anh liên kết với câu Kiều, đã làm nền cho thơ Xuân Sách :

Chữ trinh còn một chút này
Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan


Anh cũng có mách việc Xuân Sách vào viện thăm Hoài Thanh, do Từ Sơn con trai Hoài Thanh kể lại. Chuyện nhỏ này chứng tỏ những tác giả quyền thế, dù bị công kích, cũng có người tán thưởng những bài thơ đúng đắn và nghệ thuật. 

Dù bài vịnh Huy Cận có lời ác :

Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Đừng nên xấu hổ khi nói dối


Hiện nay, văn giới đang bàn tán nhiều về hồi ký Đi tìm cái tôi đã mất của Nguyễn Khải, rồi nhắc lại Di Cảo của Chế Lan Viên. Tôi không mấy quan tâm đến những tâm cảnh, quan cảnh chiếu hậu này, vì không biết đâu là phần chân thành đâu là phần biện minh. vớt vát. Nhưng tôi trân trọng Xuân Sách vì đã sáng tác tại chỗ và đúng lúc. Nó là một tài liệu văn nghệ sống đã đành, mà còn là tiếng nói của lương tri thời đại, như chữ ông đã dùng.


(Chân Dung Xuân Sách - Đặng Tiến)


Tình dục trong làng văn xóm chữ


         Hà Hương phong nguyệt truyện 

(quyển tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của miền Nam)


Trong quá trình nghiên cứu văn học quốc ngữ miền Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, có một ý kiến của nhà nghiên cứu Bằng Giang trong công trình Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 – 1930 khiến chúng tôi đặc biệt lưu ý: “Còn tiểu thuyết chỉ bắt đầu với Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu đăng báo năm 1912 và in thành sách năm 1915”.

Nhà văn miền Nam Bình Nguyên Lộc trong cuộc phỏng vấn trên The Vietnam Forum số 13/1990 lúc sang Mỹ định cư cũng cho biết: "Cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên tôi đọc là một cuốn sách mà thoạt đầu cha tôi cấm không cho đọc vì cho là dâm thư, đó là cuốn Hà Hương phong nguyệt truyện của Lê Hoằng Mưu. Cuốn này được xuất bản vào khoảng năm 1917, và tôi tin đó cũng là cuốn tiểu thuyết được xuất bản đầu tiên của Việt Nam”. 

Thái Bạch trong “Truyền thống bất khuất của văn nghệ miền Nam” in trên Tin Văn số 12 ngày 9.6.1967 vẫn còn nhớ đến cuộc bút chiến quanh tác phẩm này. Ông Vũ Anh Tuấn, Chủ nhiệm Sách Xưa & Nay trong Hồi ký 60 năm chơi sách cho biết có người đã từng yêu cầu ông “làm bất cứ cách nào” và mua hộ “bằng bất cứ giá nào” quyển sách này của Lê Hoằng Mưu.

(Chuyên san Tạp chí Nghiên cứu văn học – Võ Văn Nhơn)


Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả


“rắt//đái rắt. → không viết: dắt”. (Gs Nguyễn Văn Khang) 

 

Viết “đái dắt” mới chuẩn: “đái dắt [bệnh] đái liên tục nhiều lần, nhưng mỗi lần đều đái rất ít”.


(Hòang Tuấn Công)


Một mảng văn học bị bỏ quên, bỏ qua 


Kết luận của Gs Nguyễn Văn Trung


“Chuyện nêu lên là chuyện văn học, nhưng những vấn đề thực sự đặt ra lại không phải văn học vì đụng đến chuyện Nam Bắc. Chuyện Nam Bắc bắt nguồn từ sự kiện khác biệt giữa các miền, địa phương. Câu chuyện Nam Bắc thời nào cũng thấy, có điều khi nặng khi nhẹ, lúc công khai lúc âm ỉ thôi. Kẻ phản ứng, bị nghi ngờ là kỳ thị mà kỳ thị là một điều không tốt, nên đành phải nhẫn nhục, chịu đựng, mặc dầu vẫn ấm ức, bực bội...


Nếu như hai bên đi đến chỗ hiểu được điều nấy: một bên nhận thức được chính mình là kẻ kỳ thị đấy, một bên hiểu rằng người gây ra kỳ thị không biết mình kỳ thị, không cố ý cố tình gì đâu, vì đây là một thái độ vô thức do những yếu tố địa lý của một hoàn cảnh sống quy định thì có thể coi như bắt đầu hiểu nhau rồi, cũng là người Việt Nam cả, nhưng sống ở Bắc thì nghĩ thế này, và sống ở Nam thì nghĩ thế kia; nếu người miền Bắc vào ở lâu trong này cũng sẽ nghĩ như người vẫn sống ở miền Nam và ngược lại. Nếu một lối nhìn do những yếu tố địa lý của mỗi vùng quy định, do tính khách quan thì có thể tìm hiểu được một cách khoa học và rút ra những quy luật. Vấn đề quan hệ giữa con người và vùng đất mới tạo ra một lối nhìn, thái độ sống có những đặc điểm khác với lối nhìn, thái độ sống của con người ở vùng đất cũ không phải là một trường hợp cá biệt chỉ thấy ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nơi khác như Mỹ châu và Âu châu, Anh và Úc, Tân Tây Lan, v…v...


Chẳng hạn, người Âu châu thường chê người Mỹ văn hóa ấu trĩ. Người Anh chê giọng Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, chỉ giọng Luân Đôn mới là tiếng Anh chính cống mà thôi v.v…”


(Lê Tấn Tài giới thiệu và trích dẫn)


Bánh đúc lạc


Để nấu được bánh đúc ngon quan trọng nhất vẫn là khâu quấy bánh. Người ta dùng một chiếc nồi lớn được tráng mỡ, đoạn đổ bột vào rồi bắc lên bếp, lấy đũa cả quấy liên tục sao cho bột không vón, không khê, không sát nồi, phải quấy thật đều tay, nếu không sẽ bị vón cục. Lửa nấu bánh phải nhỏ và đều thì bánh mới chín và không bị khê, lúc đánh lên thả xuống bánh phải chảy như tơ và róc đũa mới được. 


Tới lúc gần xong thì phải khoanh lửa lại, om tro một lúc. Khi bánh gần đổ ra khuôn mới đánh lạc đã được rang chín, sau đó đổ bánh ra mẹt lót lá chuối tươi hoặc đổ vào bát. 


(Tuệ Phong)


Khâm Thiên


Ở Hà Nội còn một đường phố mang tên Khâm Thiên, sau có một thời là nơi chốn hát ả đào, cô đầu mà Tản Đà, Trần Tế Xương thường lui tới để vào văn học sử. 

Thời Hậu Lê, đó là cơ quan Khâm Thiên Giám làm việc, tức các quan văn xem…thiên văn cho nhà nông cầy cấy.


Chữ nghĩa làng văn


Cái Hay cái Dở ở thơ Bùi Giáng - 1


Nguyễn Hưng Quốc đã bình giá thơ Bùi Giáng về vụ nhàm lặp: bất nhất: "Tôi cho đây là đặc điểm nổi bật nhất trong phong cách thơ Bùi Giáng". 


(tự họa mà chơi, vẽ vời cho đẹp - Bùi Giáng)


Thụy Khuê tiếc cho "ngôi nhà Bùi Giáng", tác phẩm cùng con người: "Cho nên biết bao lần người đọc tiếc, giá Bùi Giáng đừng ham chơi, chịu khó dừng lại ở chỗ đáng dừng để những câu thơ sáng giá (...) khỏi bị lọt vào khu rừng hoang, ôm đồm những lời thơ vội vàng, mọc lên như cỏ dại". 


(Đỗ Quyên)


Vài nét cổ truyền nghề gốm Bát Tràng


Dụng cụ sản xuất chính của lò gốm cổ là cái bàn xoay. Bàn xoay được chôn xuống đất, người thợ ngồi, chân đạp bàn xoay, tay buông bắt từng thỏi đất, chuốt lên thành các sản phẩm. 

Gốm Bát Tràng từ xa xưa đã nổi tiếng về chất men phủ, phổ biến là men màu búp dong, loại men này sắc độ trắng hơi ngả xanh hoặc xám. Đặc biệt là Bát Tràng đã có men lý, men nho, men này màu gần như màu ngọc thạch, nên được gọi là men ngọc. Riêng hai loại men rạn là rạn xương đất đen và rạn xương đất trắng có giá trị từ xưa, ngày nay đã được các nghệ nhân chế tác.


Cuối cùng là khâu nung lò. Có nhiều kiểu lò nung khác nhau phù hợp với từng loại sản phẩm: từ kiểu lò cổ truyền là lò ếch, tới lò dàn, lò bầu, lò hộp...Nguyên liệu để nung lò cũng được thay đổi theo từng giai đoạn: từ việc đốt lò bằng cỏ khô, rồi tiến tới củi. Các nghệ nhân, có người tinh tế về men, có người chuyên sâu về tạo dáng, có người lại có tài về vẽ... Những sáng tạo của lớp nghệ nhân già cùng sức trẻ của Bát Tràng đã làm nên một thế giới đa dạng, lấp lánh sắc màu từ nắm đất quê hương. 


(Phạm Phương)


Miền đông Nam bộ

 

Địa danh của vùng đất phương Nam qua các thời kỳ


Trước đây tòan thể Miên Nam là phủ Gia Định do chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên. Năm 1802, Gia Long lên ngôi, đổi thành trấn Gia Định gồm 5 trấn: Phiên An trấn (Gia Định), Biên Hòa trấn, Vĩnh Thanh trấn (Vĩnh Long, An Giang), Vĩnh Tường trấn (Định Tường), và Hà Tiên trấn. Trấn Gia Định sau cải là Gia Định thành.


Năm 1832, Minh Mạng theo nhà Thanh, chia 5 trấn thành 6 tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, An Giang và Hà Tiên (1). Từ đó miền Nam có tên: Nam kỳ lục tỉnh

(Nam kỳ lục tỉnh)


Năm 1867, Phan Thanh Giản thay mặt triều đình Huế ký hiệp ước thừa nhận quyên cai trị của Pháp ba tỉnh miền đông: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường (Mỹ Tho) và Côn Lôn. Năm 1867, Pháp đánh ba tỉnh miền tây: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Cụ Phan Thanh Giản tuẫn tiết. Từ đó Nam kỳ lục tỉnh thành lãnh địa của Pháp. Và Pháp chia 3 miền Bắc, Trung, Nam thành: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ (2)


(Trần Văn Miêng)


(1) Minh Mạng đặt tên theo câu thơ: khóai mã gia biên vĩnh định an hà (phóng nựa ra roi giữ gìn non nước). Từ đó miền Nam có tên: Nam kỳ lục tỉnh.

(2) Khi Nhật vào Việt Nam tháng 3 năm 1945, thống sứ Nhật là Nashimura đổi Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ (tên của người Pháp gọi) thành Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ.


Võ Kỳ Điền với thảo mộc


Cây bo-bo


Sau khi Mã Viện tiến đánh Giao Chỉ tiêu diệt Hai Bà và ổn định công cuộc trị an địa phương thì có chiếu vua triệu về. Mã Viện ham ở Giao Chỉ, lấy cớ tuổi già sức yếu nên chần chờ, lần lữa... Mãi đến khi chiếu triệu lần thứ hai, Mã Viện mới đành tuân chỉ ban sư, quy hồi cố thổ. Trong đoàn quân rầm rộ về kinh, ngoài quân nhu quân dụng, có chở thêm ba cỗ xe chở đầy, nặng, được đậy đệm kín mít. Sau khi về triều, Mã Viện tâu trình và đệ nạp tất cả ngọc ngà châu báu, của cải chiếm được lên vua. Tưởng là yên chuyện nhè đâu có người tố cáo với Hán Vũ Đế là trong danh sách đệ nạp các chiến lợi phẩm, sao không thấy ba xe chở đầy ngọc trai mà Mã Viện bắt dân Giao Chỉ mò tìm ở biển đông ? 


Mã Viện sợ hãi tâu trình - xứ Giao Chỉ nhiều sơn lam chướng khí, hạ thần khi qua đó bất hạp thủy thổ, phong thấp thương hàn, may nhờ thầy thuốc giỏi, điều trị bằng ý dĩ, hạ thần mới được bình an. Ba xe đó không phải ngọc trai mà là ba xe ý dĩ, thần có ý lo xa, khi về tới nước nhà rồi, làm sao có được nữa, mong bệ hạ xét lại !. 

Hán Vũ Đế ngẫm nghĩ hồi lâu, biết bị qua mặt, tức giận vì không tìm ra bằng chứng, bèn ra lịnh cách hết chức tước, không tịch thu gia sản mà cho về hưu. Mã Viện cũng còn may giữ được cái mạng già nhờ mấy hột bo bo Giao Chỉ


Tiểu sử  Võ Kỳ Điền tên thật: Võ Tấn Phước. Sinh ngày 31.10.1941 tại Dương Đông, Phú Quốc. Từ nhỏ đến lớn sống ở Bình Dương. Hiện ngụ cư tại Gia Nã Đại.
Tác phẩm Kẻ đưa đường, Pulau Bidong, Miền Đất Lạ.


Để nhớ lại một thời


Xích lô một thủa


Ký giả Charles Sidilaire nhắc đến Pierre Coupeaus, người đầu tiên thành lập hãng Pedi-Cab ở Phnom-Penh vào cuối thập niên 30 và khoảng cuối thập niên 40, ông thành lập hãng Pedi-Cab ở số 6 đường Marne Wharf (Bến Vân Ðồn ngày nay).


Chính tại đây, làm ra những chiếc xe xích lô đạp với phụ tùng sên líp nhập từ Pháp quốc; và đầu thập niên 50, nơi đây cũng là đầu mối nhập cảng cả ngàn chiếc xích lô máy cùng với xe taxi Renault chạy khắp Sài Gòn-Chợ Lớn. Theo bài báo, thời điểm 1952, Sài Gòn có đến 1,800 chiếc xích lô máy. Một cạnh tranh thương trường trong ngành giao thông bùng phát vì chiếc xe không còn dùng sức đôi chân, lại chạy nhanh, giá cả bình dân so với xe taxi chỉ dành cho giới thượng lưu đương thời.


Xích lô máy giữa năm 1955 

có vè to bản hơn chạy trên 

đường Trần Hưng Đạo có xe 

điện Sài Gòn-Chợ Lớn 


(TN baotreonline)



Lịch sử người Hoa ở Sài Gòn  


Nói một cách khác, người ta có thể đặt giả thuyết là, có một con kinh hay con rạch lúc đó, đột nhiên trở nên một sinh mạch quan trọng, và cần sửa sang lại hai bên bờ đê của nó. Có thể vào khoảng thời gian này  người ta đã cho đắp đê cao lên hai bờ con kênh, họ nhân đó đặt luôn tên theo âm Hán Việt là “Đề Ngạn”, đọc theo giọng Quảng Đông là “Thầy Ngồn” (Tài Ngọn) để phiên âm hai chữ Sài Gòn. Tên “Đề Ngạn” vì “đề” là “bờ đê, đắp đê phòng nước tràn vào và “ngạn” là “bờ”.


Lý do tại sao lại có tên Sài Gòn thì giả thuyết đưa ra bởi Trương Vĩnh Ký được nhiều người cho là hợp lý, vì theo ngôn ngữ học, Prei Nokor (hay Brai Nagara theo tiếng Phạn mà người Miên mượn), có nghĩa là “Thị trấn ở trong rừng”, “Prei” hay “Brai” là “rừng”, “Nokor” hay “Nagara” là “thị trấn”. Theo tiến trình của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành Rai, thành “Sài”, Nokor bị bỏ “no” thành “kor”, và từ “kor” thành “gòn”. Người Miên  bình dân đọc tắt Prei Nokor là Rai kor, người Việt nghe thành nghe Sài Gòn)


***

Riêng với con kênh Tàu Hũ, sau khi được đào xong năm 1819, nó mau chóng trở thành con đường huyết mạch giúp cho Chợ Lớn (lúc đó còn mang tên Sài Gòn) sau này phát triển thêm nhiều. 

Trong “Ký ức lịch sử về Sài Gòn và vùng phụ cận (năm 1885)”, Trương Vĩnh Ký viết : “Hai bên bờ rạch Chợ Lớn là hai dãy nhà phố lớn bằng gạch gọi là Tàu Khậu để cho người Hoa từ Trung Quốc hàng năm đi ghe biển tới thuê. Họ đem hàng hoá chứa trong các phố đó, hoặc để bán sỉ, bán lẻ khi lưu trú tại Sài Gòn”. 


Theo Huỳnh Tịnh Của thì Tàu Khậu là giọng người Triều Châu phát âm từ Thổ khố, tức là khu nhà lớn bằng gạch để chứa hàng hoá, sau đọc trại ra thành Tàu Hũ. Đến đây, có lẽ chúng ta đã phân biệt được hai chữ gốc Minh Hương và gốc Hoa Kiều

Tuy đều từ Tàu qua, nhưng đợt di dân lớn nhất do hai tổng binh Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên vào năm 1679. Theo như đã chứng minh, họ chính là những người đã đặt nền móng xây nên Chợ Lớn mà ngày đó mang tên Sài Gòn. 


(Đình Minh Hương ở Trân Hưng Đạo)


Đó là lý do  giải thích việc đình Minh Hương tại Chợ Lớn ngày nay lại thờ thống suất Nguyễn Hữu Cảnh, đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên, và  hai ông quan thượng thư gốc Minh Hương Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh.



Những ngôi chùa Bắc


Chùa Trăm Gian


Chùa Trăm Gian ở Sơn Tây nằm trong địa phận của làng Tiên Lữ, huyện Hoài Đức, tỉnh Sơn Tây, còn có tên là Quảng Nghiêm Tự. Chùa được xây cất trên lưng chừng đỉnh núi Bối Kê, mang nhiều sắc thái của thời đại Lý Trần. Có nhiều huyền thoại chung quanh ngôi chùa nầy; trong đó có chuyện đức Thánh Bối (Bối tức là làng Bối Kê). 



Tương truyền Hoà thượng Đức Minh có nhiều phép lạ. Nhiều truyền thuyết về nhân vật chân tu nầy được sách sử ghi lại như trong Lĩnh Nam Chích Quái có đoạn chép lại rằng Đức Thánh Bối có thể làm  mưa gọi gió những khi cần đến. Những truyền thuyết còn ghi lại là vào khi quân Minh sang xâm lăng nước ta, nghe nói đến ngôi chùa Tiên Lữ có vị Thánh Bối rất linh thiêng, nên đã sai quân linh phóng hoả đốt cháy ngôi chùa nầy.


Sau khi yên định, quanh cảnh như cũ thì trên trời hiện nay một đám mây ngũ sắc, dân chúng khắp nơi lại trở vềTiên Lữ và ngôi chùa vẫn nguyên vẹn như xưa. Từ đó trở đi, dân chúng trong làng và những xã lân cậnthường đến chùa Tiên Lữ để cúng lễ, cầu nguyện. Mỗi năm đến ngày rằm tháng ba, lễ hội chùa Tiên Lữ rất trang nghiêm, đông đúc, kéo dài đến ba ngày.

 Dù ai nương náu xa gần

 Tháng ba ngày rằm trẩy hội Thánh tăng.


Ngôi chùa Tiên Lữ đã có từ mấy thế kỷ trước, nhưng chỉ là thảo am nhỏ, được dựng lên từ năm 1185 vào thời vua Lý Cao Tông (theo Nguyễn Văn Tố). Chùa được dựng lên trên đỉnh núi Mã có cao độ 56 thước. Chung quanh chùa có nhiều cây cổ thụ, cành lá sum suê khiến cho cảnh chùa càng thêm trang nghiêm u tịch.

(Kiêm Thêm)


Chữ là nghĩa


Nghe các sử gia Pháp phụ họa theo các sử gia Tàu nói rằng thuở ấy ta còn theo chế độ mẫu hệ, các nhà học giả ta giãy nảy lên và phủ nhận, viện bằng chứng rằng ta đã có vua đàn ông là Hùng Vương. Nhưng Hùng Vương không chắc lắm là đàn ông, hơn thế một dân tộc theo chế độ mẫu hệ vẫn có vua đàn ông như thường, bằng chứng là dân tộc Chàm. Nếu vua họ là đàn bà thì ai cưới Huyền Trân Công chúa của ta?


Chứng tích "Vua đàn ông" hãy xem danh từ Cha.

Ta có thể nào tân tạo danh từ Cha, sau khi tiếp xúc với nhà Hán hay chăng? Có thể, nhưng lại không. 

Thường thì khi một dân tộc vay mượn một món đồ, một ý niệm, họ vay mượn luôn danh từ trong ngôn ngữ của dân tộc cho vay. Thí dụ ta vay mượn cái xà rông của dân Mã Lai thì vay luôn danh từ xà rông.


Người miền Nam vay mượn một thứ bánh của người Chàm thì họ vay mượn luôn tên bánh, chỉ có một chút thay đổi là thay vì dùng tiếng Chàm, họ dịch sát nghĩa ra tiếng ta. Người Chàm gọi bánh đó là bánh Gan con Tây (tức con Tê ngưu), ta cũng dịch y nguyên là bánh Gan con Tây. (Sau này, vì luật lười biếng, người miền Nam nói tắt là Bánh Gan.)


Sự tân tạo chỉ để dành cho sáng tạo, cho phát minh riêng của dân tộc. Người Trung Hoa thường tránh mượn tiếng nước khác, nhưng vẫn phải phiên âm nhiều món như Cà- phê, Quan-thoại đọc là Khá fi, Quảng đông đọc là Cafế.


(Gương mặt dân Lạc Việt qua ngôn ngữ Việt – Bình Nguyên Lộc)


Sinh phần


Người xưa nói rằng:

"Nhất mệnh, nhì vận, tam âm công, tứ phong thổ, ngũ độc thư".


Ý là số phận con người còn phụ thuộc rất nhiều vào mồ mả và phước đức ông bà, tổ tiên để lại, còn chuyện học hành, cố cho lắm mà không gặp thời vận thì cũng chỉ là tên cuồng nho, mọt sách mà thôi. Xưa nay, có biết bao người dốt mà làm nên sự nghiệp. Vì vậy cac cụ ta xừ xây sẵn một sinh phần (huyệt mộ).


Thành ngữ tục ngữ…sai 


Những giải thích sai, hoặc không giải thích nghĩa đen, ghi sai, ghi nhầm, hiểu sai hoàn toàn ý nghĩa thành ngữ tục ngữ trong “Tự điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam ” của Nguyễn Lân.


Điệu hổ ly sơn 

Nghĩa đen: Đưa hổ xa núi. Tìm cách đưa kẻ ác đi xa mình để nó không thể quấy rầy mình được.


Giải thích chưa đúng, chưa đủ nghĩa. Hổ được mệnh danh là chúa sơn lâm. Rừng núi là lãnh địa của chúng. Do đó, muốn tiêu diệt được hổ phải tìm cách dụ chúng ra khỏi hang ổ hoặc nơi nó phát huy được thế mạnh. Đây là một mưu kế làm suy yếu đối phương trong “Tam thập lục kế”. Ví như dụ giặc ra khỏi thành trì kiên cố để dễ bề tiêu diệt, chính là kế “điệu hổ ly sơn”. 


(Hoàng Tuấn Công)


Văn hóa dân gian


Rồi diện mạo của nó thế nào?
Một chàng trai hỏỉ:
“Cô kia, cô kỉa, cô kìa
Người cô thế ấy,…cái kia thế nào”


Đã được phía bên kia trả lời:
“Nó xình, nó xỉnh, nó xinh

Nó cũng như mình, nó đã có…ria” 


Tết Mậu Thân bốn mươi năm sau (1968-2008)


Bốn mươi năm sau, có gì mới?


Đảng Cộng sản Việt Nam “Kỷ niệm 40 năm Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Cũng như những thập niên trước năm trước, đúng 40 năm sau Tết Mậu Thân, Cộng sản Việt Nam mở chiến dịch “Kỷ niệm” cuộc tổng tấn công 1968 bằng một loạt bài viết tuyên truyền, ca ngợi chiến thắng và dĩ nhiên không thể thiếu phần tuyên dương “công trạng” Hồ Chí Minh.

Vai trò của Hồ Chí Minh trong chiến dịch “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân – 1968” được xác định rõ rệt, trong bài “Nhớ về Tết Mậu Thân năm 1968” (32), 


(32) Nhớ về Tết Mậu Thân năm 1968

Trần Viết Hoàn, Vietnam.Net, 31/01/2008. Online: http://snipurl.com/21hse [vietnamnet_vn], 

February 15, 2008.

đăng trên VietnamNnet, ngày 31/01/2008, tác giả TS Trần Viết Hoàn viết:

Kỷ niệm 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân – 1968 – một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng và Bác Hồ, …

Ngày 28/12/1967, tại căn phòng ở khu nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Hồ Chí Minh đã cùng Bộ Chính trị (Khóa III) quyết định một chủ trương hết sức quan trọng: Mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 nhằm giáng đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.


Đại tá Bùi Tín, trong phỏng vấn với BBC Tiếng Việt ngày Thứ Năm 24/01/2008, trả lời câu hỏi của phóng viên Nguyễn Hùng, “Khi đó chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam vẫn còn, và có lẽ cũng có bàn bạc về những diễn biến của suốt một năm 1968; phải không ạ?” như sau:

Lúc ấy ông Hồ Chí Minh vẫn còn, nhưng sức ông ấy cũng đã yếu lắm rồi; lúc xẩy ra những cuộc tiến công, ông ấy đang ở Quảng Châu, và ông ấy nghỉ ở Bắc Kinh; ông ấy đau phổi cũng kha khá, nằng nặng, ông ấy phải sang dưỡng bệnh ở bên ấy.


Có thể nói ông ấy làm bài thơ, mấy câu thơ về Tết Mậu Thân, … xong một cái là ông ấy đi dưỡng bệnh đấy.


(Trần Giao Thủy)


Đám ma Lý Toét  


Tuy vậy, họ biết thừa là ông Lý sắp chết. Lang Băm đã bảo ông Lý khó qua được đêm nay. Chiều nào Băm cũng cả quyết như vậy mà ông Lý vẫn dai dẳng sống hơn một tuần lễ rồi. Có người độc miệng mỉa mai: “Đã chết được kia à? Còn là khổ! Lúc giữ triện đồng, đục khóet lắm, bây giờ khó lòng mà nhắm được mắt.”


Họ đã sửa soạn cả. Nhiêu Còm đã mở chiếc hòm mục lấy cái áo the cũ bạc vai, vá khuỷu tay, sắp sửa để đi đưa ma ông Lý và đánh chén. Bọn trẻ con cũng vui vẻ; chúng thấy trong xóm có sự lạ, và như chúng ngửi thấy mùi xôi thịt. Bác Ngọ, bán hàng sũ ở đầu xóm, đã sắp sẵn một cỗ ván tốt, và nhấm nháy Xã Xệ, để ông Xã khỏi mua hàng của bác Mùi, dưới cuối xóm. Xã Xệ ngắm nghía cỗ ván, vuốt chiếc tóc trên đầu, hoặc gãi vào cái bướu gần thái dương, trả lời viển vông: “Được, để tôi hỏi bà Lý xem”. Rồi đến lượt Khán Thân làm hàng mã, Nhiêu Tuất bán hàng vải. Xã Xệ thấy ai cũng tử tế, cũng có ý ngầm mời đánh chén. Mọi khi bọn này, mỗi khi chàng đi qua, thường chỉ lên đầu cười rúc rích, hoặc nói cạnh đến cái tóc. Mấy hôm nay, mỗi lần về nhà, Xã Xệ thường phàn nàn với vợ: “Bác Lý ốm, thành mình cũng vất vả lây”. Bác Xã gái an ủi chồng, giục sang nhà Lý Toét. Vợ Xã Xệ muốn tống chồng đi cho khỏi tốn rượu. Mà Xã Xệ cũng chẳng muốn ở nhà.


(Đỗ Đức Thu)


Tuyệt cú mèo


Tại sao lại nói “tuyệt cú mèo”

Xin thưa khi muốn diền tả  một chuyệ hay thật hay, ta thường nói hay…“tuyệt cú mèo”.

Đầu tiên chỉ là tuyệt. Nhưng tuyệt không thôi nghe cụt lủn. Sằn có thể thơ 4 câu, 3 vần xuất sứ từ Trung Hoa là “tuyệt cú”, người ta cho chữ…“cú” đi sau.


Nhưng sau cú là gì, cú thì có dăm ba giống: cú vọ, cú đốm, cú mèo. Hai giống trước dùng tới hai âm trắc. Thôi thì bỏ con mèo vào thành hay “tuyệt cú mèo” vậy.


(Chữ nghĩa chúng ta – Bùi Bảo Trúc)

Nhà thơ Trần Đăng Khoa lên tiếng về bài của Nguyễn Vỹ


Dưới đây là trích đoạn bài viết bênh vực Lưu Trọng Lư của nhà thơ Trần Đăng Khoa:

[Trích đoạn]  

Thật là oan cho Lưu Trọng Lư. Ông đã mất lâu rồi, nên không thể thanh minh được.

Cái hay của Tiếng thu, tôi đã bàn trong bài viết Lưu Trọng Lư và bài thơ Tiếng thu rồi. Ở đây, xin phép không nói lại. Ta chỉ lưu tâm đến cái nghi án của bài thơ này thôi. Có thật Lưu Trọng Lư sao chép bài thơ đó của Nhật Bản không?

Người đầu tiên vu cho Lưu Trọng Lư cái việc làm rất không lấy gì làm đẹp này là ông Nguyễn Vỹ trong cuốn Văn thi sĩ tiền chiến. 


Cứ như ông Nguyễn Vỹ thì Tiếng thu chính là bài Tanka của thi sĩ Nhật Bản nổi tiếng Sarumaru ở thế kỉ VIII. Nguyên văn bài Tanka thế này:

Oku yama ni

Monoji fumi wake

Naku shika no

Koe kiku zo

Aki wa kanashiki


(Trần Đăng Khoa)


Tiểu sử : Trần Đăng Khoa sinh ngày 28.4.1958 tại Nam Sách, Hải Dương – Hiện ở Hà Nội.

Tác phẩm: Chân dung và đối thoại (ký: Bình luận văn chương) - Đảo chìm (truyện dài) - Thơ: Từ góc sân nhà em - Biển và em - Góc sân và khoảng trời – Bên cửa sổ máy bay


Hồn Sài Gòn trong từng món đồ cũ


Và như thế, tôi đã trở thành một “tín đồ” của những món đồ cũ ấy. Trong những lần lang thang qua các cửa hàng đồ cổ, tôi luôn dừng lại rất lâu trước những bình gốm Cây Mai men xanh với những họa tiết đắp nổi hình cành hoa, chim thú; trước những sản phẩm gốm Lái Thiêu với men màu da lươn độc đáo và những bình, tượng Phật Quan Âm với kỹ thuật rót khuôn bằng thạch cao, một kỹ thuật gốm học được từ trường phái gốm Pháp rất hòan hảo. Trong một lần như thế, bất ngờ tôi bắt gặp một tượng gốm thuộc dòng Lái Thiêu già (cách gọi để phân loại tuổi gốm của dân chơi gốm), nó có hình con ốc sên, đang nằm phơi nắng trên vỉa hè phố Lê Công Kiều. Tôi thích quá nhưng không mua nổi với giá người bán đưa ra. 


Tôi bỏ đi nhưng không đi xa đươc, đành phải quay lai để ôm được nó về nhà bằng tất cả số tiền còn trong túi. Về đến nhà, tôi đặt con ốc sên ấy trên bàn viết bên cửa sổ phòng khách và hạnh phúc ngắm nó. Nó như cũng nhìn tôi, hơi chút bùi ngùi như gặp lại bạn cũ lâu ngày. Và buổi chiều hôm đó, tôi đã cao hứng dành cho nó một bài thơ…


(Trịnh Cung)


***


Phụ đính I


40 Năm hải ngoại - Một nén hương - Cho những nhà văn

nhà thơ đã khuất núi 

(Danh sách cập nhật tới tháng 6/2017 – Nhật Tiến biên soạn 

Tổng hợp từ nhiều nguồn)


Cao Xuân Huy 
(1947-2010)


Cao Xuân Huy sinh tháng 9 năm 1947, quê nội ở Bắc Ninh, quê ngoại ở Hà Nam. Sau hiệp định Geneve 1954 chia đôi đất nước, gia đình ông cũng bị chia ly. Thân phụ ông theo kháng chiến, trở về Hà Nội, chị ông không vô Nam, ở lại với bố. Còn ông thì theo mẹ di cư vào Nam.

Ông nhập ngũ năm 1968, là cựu Trung úy Ðại Ðội Phó ÐÐ 4 thuộc Tiểu đoàn 4 Thủy quân Lục chiến. Tại mặt trận Quảng Trị vào tháng 3, 1975, ông bị bắt làm tù binh và bị cầm tù 5 năm. Năm 1982 ông vượt biên và đến Mỹ một năm sau đó.


Năm 1985, ông in cuốn hồi ký “Tháng Ba Gãy Súng”, là cuốn hồi ký được viết năm 1985, ghi chép lại những diễn biến của mặt trận Thừa Thiên- Huế cho đến khi tác giả bị bắt làm tù binh. Cuốn sách đã được tái bản đến 10 lần.


Năm 2005, nhà văn Cao Xuân Huy làm chủ biên tạp chí Văn Học (kế tục vai trò của nhà văn Nguyễn Mộng Giác) đến tháng 4 năm 2008 Văn Học phát hành số 236 thì đình bản vì lý do ông bị ung thư mắt, sức khỏe suy yếu nên không thể chăm lo cho tờ báo. 


Ngày 12-11-2010 nhà văn Cao Xuân Huy từ trần sau một thời gian dài bệnh nặng. Bốn tháng trước khi qua đời, ông cho ra mắt cuốn “Vài mẩu chuyện” do tạp chí Văn Học xuất bản.


***


Phụ đính II


Chữ nghĩa làng văn


Hữu Loan với bài Màu tím hoa sim - 1


Tôi muốn nói về bài Màu tím hoa sim và những hệ lụy của bài thơ này, tôi muốn nói về cuộc sống cơ hàn và những âm mưu ám sát, chế ngự của đảng đối với tôi và gia đình tôi từ năm 1956. Dù gian khổ, tôi nhất định không chịu quỵ lụy. Hồi ấy, ra làm ở ngoài trung ương thì bắt phải theo cộng sản nên tôi bỏ tôi về. Tôi bỏ về nó không cho về… Nó làm tôi tam tình, tứ tội, làm đủ cách đễ thủ tiêu nhưng mà tôi vẫn tin là tôi có sự che chở của Trời – Phật cho nên nó không thủ tiêu nổi… Đó là cái thời 1955-1956 khi phong trào Văn nghệ sĩ chống đảng bắt đầu bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, và đồng thời chống những văn nghệ sĩ bồi bút lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca tụng đảng để kiếm chút cơm thừa canh cặn của chế độ.


Mà kiếm chác ở cái chiến tranh ấy thì khó kiểm tra lắm. Mà tôi thì tôi thấy cái đấy là cái khổ dân nhất nên tôi chống hết sức. Lúc giờ người ta đang một tí là đề cao Hồ Chí Minh, hai tí là đề cao Hồ Chí Minh… Trong khi tôi lại khóc người vợ tử tế với mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó khóc như vậy, nó cho là khóc cái tình cảm riêng: Tôi lấy vợ rồi đi bộ đội, mới lấy nhau được có hơn tháng, ở nhà người vợ trẻ của tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông… Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ Màu Tím Hoa Sim ấy tôi khóc. Bài thơ ấy lúc bấy giờ nó cho là phản động, làm thơ là phải làm về cộng sản, làm về ông Hồ Chí Minh chứ không được khóc cái đau riêng của mình… 


(Hồi ức Nguyễn Hữu Loan)


Chữ nghĩa làng văn


Hữu Loan với bài Màu tím hoa sim - 2


Bọn nó xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan về thẳng nhà để đi cày. Bọn ấy không cho bỏ, bắt tôi phải viết đơn xin. Tôi không xin… Tôi có cái tự do của tôi, cái chuyện bỏ đảng, tôi muốn bỏ là tôi bỏ không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày, đi bừa, đi thồ, đi đốn củi đưa về, đi xe đá để bán, bọn nó phá tôi đủ cách, bắt giữ xe đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ phía trước, có hai càng phìa sau thùng gỗ để đủn hay kéo đi. Xe cút kít nó cũng không cho, cấm không ai được bán bánh xe cho tôi nữa. Có lần tôi phải gánh bộ, gánh bằng vai tôi cũng cứ nhận. Tôi cứ gánh tôi làm, không bao giờ tôi chịu khuất phục. 


Thế mà chúng nó cũng theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an mật theo dõi, cho người theo hại tôi… Nhưng mà lúc nào cũng như có người cứu tôi. Có một cái lạ là chính thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi. Lần đó tên công an nói thật với tôi là được giao lệnh giết tôi nhưng nó là cái thằng rất yêu quê hương, nhớ quê nhà. Nó thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Ninh Bình của nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy không nỡ giết tôi.


(Hồi ức Nguyễn Hữu Loan)