Thời gian cứ lặng lẽ trôi cùng những tháng chín của một đời người. Những tháng chín đó cùng những mái trường, những người bạn, những lớp học trò vẫn còn đó trong ký ức, trong một góc rất sâu của tâm hồn.
Những Người Bạn Sư Phạm Saigon
12 thg 9, 2026
'CẢM XÚC THÁNG CHÍN '(FB. Phạm văn Bắc- SPSagon )
Lá mùa thu (Trương Vũ Viết Về Đinh Cường )
Lá mùa thu
Hôm nay, ngày 7 tháng 1 năm 2022, là kỷ niệm 6 năm ngày họa sĩ Đinh Cường đi vào cõi vĩnh hằng. Sau đây là bài viết của Trương Vũ, đọc trong tang lễ của Đinh Cường tại Virginia sáu năm trước. Và, bức chân dung Đinh Cường bằng sơn dầu do Trương Vũ vẽ, ngày Đinh Cường còn tại thế.
Lần đầu tiên tôi gặp Đinh Cường là vào một buổi xế trưa đầu hè 1974. Tôi và Lê Thành Nhơn ra phi trường Nha Trang đón Cường về nhà, chuẩn bị cho một cuộc triển lãm cá nhân do Đại học Duyên Hải tổ chức. Chúng tôi trở thành bạn thân từ đó. Cùng với Lê Thành Nhơn, Trịnh Công Sơn, Bửu Ý, Huy Tưởng chúng tôi làm việc chung với nhau ở Duyên Hải trong một số chương trình nhân văn, chia sẻ những ước mơ đẹp về một tương lai cần có cho những thế hệ tiếp nối đào tạo từ ngôi trường này. Thời gian sinh hoạt chung với nhau khá ngắn nhưng đã để lại nhiều kỷ niệm khó quên.
Sau 1975, Đại học Duyên Hải không còn nữa. Lê Thành Nhơn đi tỵ nạn ở Úc, sau đó tôi đi Mỹ. Hơn hai mươi năm sau tôi mới gặp lại Cường, chị Tuyết Nhung, và các cháu, sang định cư ở Virginia. Tôi có phụ với Phạm Nhuận và một số bạn khác tổ chức cuộc triển lãm đầu tiên của Cường ở Mỹ. Từ đó, chúng tôi gặp gỡ nhau khá thường xuyên. Tôi ngờ rằng đời sống ở Mỹ có thể tốt cho các cháu nhưng không chắc nó hợp với Đinh Cường, vốn sống nặng về nội tâm, quen gần gũi những bạn bè thân tình từ thuở còn trẻ. Tuy vậy, tôi vẫn thấy được nơi Cường một thái độ nhẫn nại, thâm trầm trong cố gắng giữ cân bằng giữa đời sống một con người bằng xương thịt phải đương đầu với những vấn đề rất thực tế của xã hội Mỹ với đời sống của một nghệ sĩ có một thế giới rất riêng tư. Một thế giới của nghệ thuật, của tình bạn, của những nơi chốn luôn gắn liền với cuộc đời mình, như Huế, như Sài Gòn, như Dran, như Bình Dương, … và của hồi tưởng, nói chung. Thỉnh thoảng, tôi vẫn cảm nhận được nơi Cường ít nhiều chao đảo trong nỗ lực cân bằng đó.
Đinh Cường là một tài danh lớn của hội họa Việt Nam, và là một bạn hiền, bạn tốt của hầu hết họa sĩ, văn thi sĩ được biết đến, thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Lớp già, không còn trên trần gian nữa, như Bùi Giáng, Nguyễn Tuân, Bùi Xuân Phái, Mai Thảo, Võ Phiến, Võ Đình, Thái Tuấn, Thanh Tâm Tuyền, … Cùng trang lứa, như Trịnh Công Sơn, Lê Thành Nhơn, Bửu Ý, Bửu Chỉ, Hải Phương, Nguyễn Đức Sơn, Lữ Quỳnh, Trịnh Cung, Nguyễn Trung, … Lớp trẻ hơn, như Trần Vũ, Nguyễn Thị Thanh Bình, Hoàng Ngọc Tuấn, Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Trọng Khôi, Trần Hoài Thư, Nguyễn Đình Thuần,… Không giống như nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng, Đinh Cường rất trân trọng công trình của người khác, một cách đặc biệt. Hầu như tất cả được Cường vẽ chân dung hay phác họa chân dung, hay làm thơ đề tặng, không phải chỉ một lần, mà có người, rất nhiều lần. Có lẽ Đinh Cường là người họa sĩ nổi tiếng duy nhất của Việt Nam đã viết sách, rất công bình, với nhận định sâu sắc và từ tốn, về những họa sĩ thuộc lớp đàn anh đã có công lớn cho hội họa Việt Nam, bằng tác phẩm của họ hay bằng công trình đào tạo tài năng cho các thế hệ sau.
Có một điều tôi muốn thổ lộ ở đây, vì, có thể, nó cũng giống với tâm trạng nhiều bạn bè khác hay của nhiều người xem tranh, đọc thơ Đinh Cường. Dù luôn luôn là bạn tốt, trong suốt một thời gian khá dài, tôi với Cường sống trong hai thế giới khác nhau, phần trùng hợp không lớn. Thế giới của tôi khá bình dị, gần với thực tế, không có những lực đè nén để buộc tôi phải chìm đắm vào những lớp sâu của tâm hồn. Tôi thích thơ của Đinh Cường, tôi ngưỡng mộ tranh của Đinh Cường. Tôi cảm được có một giá trị cao nơi tác phẩm của bạn tôi. Bố cục, màu sắc, hình họa, và tính trừu tượng rất đặc thù. Tôi cũng cảm được rằng ở đây dường như có một chút phối hợp hài hòa giữa Modigliani với Picasso, và trên hết là của chính tài năng và tâm hồn của Đinh Cường, rất riêng. Tuy nhiên, dù ngưỡng mộ, tôi vẫn cảm thấy một chút xa cách. Chẳng hạn, tôi biết được, thấy được những thiếu nữ trong tranh Đinh Cường đẹp, rất đẹp, nhưng tôi không thấy gần với họ, không có cảm giác mình đụng được những con người như thế. Cho đến khi, tôi bắt đầu vẽ, bắt đầu xa rời dần cái thực tại bình thường của đời sống hằng ngày để đi vào cái thực tại của nội tâm. Lúc đó, những thiếu nữ của Đinh Cường cũng bắt đầu rời khỏi những con đường nhỏ của cố đô Huế năm xưa, hay rời khỏi những nấm mồ hoang sau nhà Bồ Tùng Linh, để đi vào thế giới riêng của tôi, như những con người rất thật. Cả cái nhà thờ con gà ở Đà Lạt, núi đồi trong mù sương ở Dran, hay anh da đen thổi kèn đồng ở Mỹ, v.v., đều như thế. Tất cả khiến cho cái thế giới nội tâm của tôi nhộn nhịp lên, làm cho đời sống giàu hơn.
Người vẽ tranh, người làm thơ Đinh Cường chắc chắn có được một niềm hạnh phúc lớn khi bằng nỗi đam mê, tài năng, trí thông minh, và sức làm việc kiên trì để tạo nên những tác phẩm để đời, ưng ý. Niềm hạnh phúc đó không mấy ai khác có được. Tuy nhiên, khi tập tễnh bước vào cái thế giới của nghệ thuật, tôi cũng bắt đầu hiểu ra rằng mọi thứ không hẳn đơn giản như thế. Không hẳn chỉ có cái hạnh phúc đó. Nó còn có đau đớn, dằn vặt. Nó phải như thế nào để có chuyện Van Gogh tự cắt tai ông. Đam mê càng lớn, ước vọng càng cao, càng dễ thấy cái giới hạn của sức lực mình. Ráng tạo một tác phẩm như ý rất thường khi không khác như lao đầu vào một cuộc chiến của nội tâm. Dù xung quanh có bao người thân yêu, có bao bạn bè tốt, cuối cùng cũng chi có một mình mình thôi phải đương đầu với nó. Nỗi cô đơn rất khó tả.
Thường tình là như vậy, huống chi, khi biết mình mắc thêm một chứng bệnh trầm kha. Lúc đầu, bạn tôi vẫn giữ nguyên cái an nhiên, tự tại thường tình, và tin tưởng nhiều vào khả năng của y học. Vẫn vẽ nhiều, vẫn viết nhiều, vẫn gặp gỡ bạn bè thường xuyên, như không có gì xảy ra. Chấp nhận những đau đớn của chemo như điều không thể tránh. Cho đến khi, cơ thể yếu hẳn dần. Lúc đó, theo dõi những bài thơ trên blog Phạm Cao Hoàng, những bài thơ được viết ra như viết nhật ký, tôi có cảm tưởng nửa khuya nào bạn tôi cũng thức dậy. Ngó qua khung cửa sổ, nhìn bóng đêm, nhìn vầng trăng. Rồi, nhìn lên kệ sách. Rồi đi tìm những cuốn sách, những bài thơ của bạn bè. Rồi viết cho người này, người nọ, cho những người còn sống, cho những người đã chết. Thi thoảng còn từ ký ức phác họa vài chân dung của bạn bè. Tôi cảm phục sức làm việc phi thường, ý chi cống hiến thanh thoát, nhưng đồng thời, tôi cũng cảm nhận được nỗi cô đơn cùng cực của bạn. Nói như Đinh Trường Chinh, "cô đơn đi vào bóng tối".
Chỉ trong ba năm sau cùng, Đinh Cường đã đăng 875 bài thơ cùng với một số lượng tranh tương tự, theo ghi nhận trên blog của Phạm Cao Hoàng. Chúng ta không cần phải trở về thi ca đời Sơ Đường, đọc Lý Thương Ẩn để cảm thán với câu "xuân tàm đáo tử ti phương tận" mà Nguyễn Du dịch là "con tằm đến thác vẫn còn vương tơ". Chỉ cần đọc hết một phần những bài thơ đó, xem hết một phần những bức tranh đó, cũng đủ kinh hoàng với sức nhả tơ của một con tằm như chúng ta biết.
Họa sĩ Đinh Cường đã cống hiến cho hội họa Việt Nam một tài sản lớn. Nhà thơ Đinh Cường đã làm thơ rất nhiều, như một cách thể hiện cái vi tế và phong phú của đời sống, rất đặc thù. Tôi nhớ, có một câu nói ở đâu đó, "nhân tài như lá mùa thu".
Một chiếc lá mùa thu rất đẹp vừa rơi xuống!
Tiểu sử
Tên thật: Trương Hồng Sơn.
Tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa và học Đệ tam cấp Toán, Đại học Sài Gòn. Thạc sĩ Vật lý Hạt nhân, University of Pennsylvania. Thạc sĩ Kỹ sư Điện (Truyền thông) và Tiến sĩ Khoa học (Điện trong Kỹ thuật Không gian), The George Washington University.
Trước 1975, dạy toán và đặc trách Sinh viên vụ tại Đại học Duyên Hải, Nha Trang.
Vượt biển và định cư tại Hoa Kỳ từ 1976.
Chuyên gia nghiên cứu cho NASA tại Trung tâm Không gian Goddard từ 1980 cho đến khi nghỉ hưu năm 2006. Tham dự và phụ trách nhiều công trình khác nhau, về khoa học và kỹ thuật. Đóng góp quan trọng nhất thuộc lãnh vực nghiên cứu và phát triển kỹ thuật xác định quỹ đạo (Orbit Determination) và phi hành tự động cho phi thuyền (Autonomous Spacecraft Navigation). Đăng tải nhiều công trình nghiên cứu với tư cách tác giả chính về vật lý và kỹ thuật không gian.
Luận án Tiến sĩ: A Robust and Self-tuning Kalman Filter for Autonomous Spacecraft Navigation.
Ngoài công việc chính ở NASA, đóng góp vào một số sinh hoạt văn học ở hải ngoại. Đồng chủ biên tuyển tập văn chương chiến tranh The Other Side of Heaven (do Curbstone Press xuất bản năm 1995). Nguyên đồng chủ biên tập san Việt Học The Vietnam Review (1996-1998).
Thơ Đinh Cường
và ngọn đèn trên phố núi
thơ đinh cường
trở về phố cũ/ tranh sơn dầu đinh cường
(blog phạm cao hoàng)
gởi NGUYỄN ĐẠT (*)
Khi người qua đồi B' lao
mây mù nhiều về phía ấy
khi tôi đi ngang qua rừng lau
trắng rợp trời thương nhớ
rừng lau và gió phất phơ bay
như mùa thu sáng nay về sớm
mây như xám ngắt vùng này
tôi cứ cặm cụi về hoài, phố núi
người đi qua ngọn đồi Dran
làm sao tôi không nhớ núi
căn nhà gỗ bạn đang ngồi kia
có mấy giỏ lan rừng trắng mượt
khi bạn đường trường lên B' lao
quán Thềm xưa khuya khoắt ấy
còn ngọn đèn chong bên quầy sách cũ
tôi đang ngồi im ở rừng sâu nơi đây
chỉ nghe một tiếng quạ kêu khan
rồi vụt bay lên chóp đỉnh cây phong
có mấy chiếc lá vàng rụng xuống
mai kia đã mùa thu, lại một mùa thu nữa.
ĐINH CƯỜNG
VIRGINIA, SEPT. 12, 2015
9 thg 9, 2026
Hoàng Tước Ve Sầu - Vũ Thế Thành
Tối qua nằm nhà xem phim Tàu. Nghe một viên quan lớn than với phe phái, “Ai là hoàng tước, ai là ve sầu”. Tôi chợt nhớ câu chuyện “Hoàng tước ve sầu” đọc hồi nhỏ. Nhớ đại khái thế này:
Ve sầu đang cất tiếng kêu rền cả mùa hè, không ngờ phía sau có con bọ ngựa đang rình rập ăn thịt mình. Bọ ngựa mải mê rình mồi lại không ngờ trên cành cây gần đó có con chim hoàng tước hiền lành đang lăm le sà xuống dùng mỏ kẹp bọ ngựa. Rồi đến lượt hoàng tước cũng không ngờ từ xa, một người thợ săn đang giương cung.
Tôi đoán, ve sầu trong chuyện hẳn là ve sầu đực, vì chỉ ve .sầu đực mới cất tiếng kêu vang rền như vậy. Nó kêu không phải vì buồn, mà đang gọi người tình. Tiếng ve rền vang cả mùa hè, hóa ra cũng chỉ là một thứ tiếng gọi yêu đương.
Con bọ ngựa chắc là con cái. Bọ ngựa cái rất hung hãn, thịt luôn bọ ngựa đực, huống chi loại côn trùng khác.
Chim hoàng tước, chẳng biết đực hay cái, rất “yểu điệu”, vậy mà lại chuyên phá đám chuyện tình của ve và bữa ăn của bọ ngựa.
Người thợ săn? Có lẽ nghĩ bụng: tối nay chắc có món chim quay.
Tôi không biết “tiểu thư” hoàng tước là chim loại gì? Ở Việt Nam có hoàng tước không? Tôi cũng không biết điển tích “hoàng tước ve sầu” bắt nguồn từ đâu bên Tàu. Múa rìu như vậy đủ rồi.
Ngẫm lại chuyện ve sầu, bọ ngựa và hoàng tước mới thấy đời cũng vậy. Ai cũng tưởng mình là hoàng tước, đứng trên cao nhìn xuống, nhưng có khi mình chỉ là bọ ngựa trong con mắt người khác. Hoàng tước nghĩ mình là nữ đế chăng?
Một chuỗi ham muốn, săn đuổi, rồi bị săn đuổi. Ve sầu chết vì tình, bọ ngựa chết vì ăn, hoàng tước chết vì tham. Còn người thợ săn với món chim quay, liệu có phải là người cuối cùng trong chuỗi.
Thôi thì, quan nhất thời, dân vạn đại. Nâng ly, “Tiêu khiển một vài chung lếu láo.
Vũ Thế Thành
( 304Đen – llttm - sgtc )
8 thg 9, 2026
Thơ BTĐ ; TẢN MẠN NGHỀ GIÁO , LỜI NÓI,NGHÈO,GIÀU
7 thg 9, 2026
NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN (FB.Pham văn Bắc -- SP.Saigon )
các giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh giỏi và các cán bộ phòng giáo dục Đức Linh, chụp hình lưu niệm ở sân trường A Đức Hạnh năm 1980
Tháng 11, ở miền Nam chỉ còn vài cơn mưa rải rác. Nắng đôi lúc đã có một chút gì hanh hao, và gió thỉnh thoảng vương một chút hơi lạnh của những cơn gió mùa đông bắc đến sớm, chợt đến rồi chợt đi. Thời tiết đó làm mình nhớ đến thuở đầu đời khi vừa từ giã tuổi thư sinh, từ giã ngôi trường Sư phạm Saigon. Vậy mà đã 49 năm rồi. Thời gian trôi qua mau quá! Những ngày xưa ấy, có lúc mình ngỡ như vừa mới hôm qua, nhưng có khi mình tưởng như là chuyện xa xôi mông lung nào đó không có trên cuộc đời này. Rồi mỗi khi những cơn gió lành lạnh trở về, lòng mình lại quay quắt nhớ về những kỷ niệm xưa.
ÁO TRẮNG NGÀY XƯA - - Thơ Nguyễn Thị Chău
ÁO TRẮNG NGÀY XƯA

.jpg)

.jpg)









