Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Nguyễn Cang bình thơ Thuyên Huy:Mẹ tôi và chiếc xuồng ba lá nhỏ. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Nguyễn Cang bình thơ Thuyên Huy:Mẹ tôi và chiếc xuồng ba lá nhỏ. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

20 thg 7, 2018

CẢM XÚC KHI ĐỌC BÀI THƠ "MẸ TÔI CHIẾC THUYỀN BA LÁ NHỎ" CỦA THUYÊN HUY/ Nguyễn Cang,Bài Cảm Tác VU LAN NHỚ MẸ của Triều Phong Đặng Đức Bích

CẢM XÚC KHI ĐỌC BÀI THƠ "MẸ TÔI CHIẾC THUYỀN BA LÁ NHỎ" CỦA THUYÊN HUY/ Nguyễn Cang
Tác giả Thuyên Huy sáng tác nhiều bài thơ trữ tình về tình yêu quê hương đất nước và con người mà nổi bật nhất là những bài thơ nói về tuổi thơ, đọc nghe cảm động bùi ngùi vì những hình ảnh đó gần gũi với tuổi thơ của chúng ta. Xin trân trọng giới thiệu bài thơ trên cùng bạn đọc:
Mẹ Tôi Chiếc Xuồng Ba Lá Nhỏ
(Nhớ mẹ, chiếc xuồng và bến đò nghèo Long Chữ - Tây Ninh)
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiiHDEAPBageIF3puu8ZrTKqnZQou80-VGTMARrJ8kubO6TXTUbdOV4muDG91uPlje1K_YTmo6z7WZLr9MLRYy7acwRQmJJ96SQV8QQZBq5k9VDZBP5ORDKGuLhg3XR8dMliRAMjEkWp7U/s320/xu%25E1%25BB%2593ng+ba+l%25C3%25A1.jpg
Chèo chiếc xuồng con ba lá nhỏ
Mẹ đưa con ra tận bến đò
Con lên tỉnh học mùa Sim nở
Bếp chiều mẹ từ đó buồn so

Những sáng lạnh đông thôi nhóm lửa
Nhớ con mẹ chỉ biết nhìn sông
Áo bạc vai màu bông súng úa
Xuồng con mẹ lủi thủi ngược giòng

Chiều tan trường học về nhà trọ
Nhớ mẹ nhớ khói bếp chiều buông
Nhà người tiếng ai cười đâu đó
Mở trang tập viết những chữ buồn

Rồi mẹ cũng già theo năm tháng
Đôi tay gầy guộc đếm tuổi đời
Chiếc xuồng cột lững bờ mương cạn
Đèn nghèo leo lét bóng chiều rơi

Một sáng mưa dầm thưa mái dột
Mẹ bỏ con đi bỏ mái chèo
Còn ai mà hẹn mai hẹn mốt
Nghẹn ngào xuồng ba lá khóc theo

Mùa này cũng mùa Sim tím nở
Đặt lên mộ mẹ những nụ đầu
Bên bếp hiên chiều con nhóm lửa
Mẹ về con kể chuyện ngày sau.
Thuyên Huy
(Một sáng mưa dầm ngang qua xóm quê Lake Boga 2017)
   Những bài thơ nói về người mẹ chúng ta có nhiều lắm vì mỗi người sinh ra đều có một người mẹ. Người mẹ hiện diện trong mỗi con người chúng ta, theo ta mãi mãi cùng năm tháng. Đọc những bài thơ, những hồi ức về mẹ khiến ta bùi ngùi xúc động nhớ mẹ vô cùng, nhất là khi mẹ đã mất.  Dù nơi góc bể chân trời dù đang ngược xuôi kiếm sống, ta đôi khi nhớ mẹ, bất chợt muốn dừng lại một phút để kéo lùi thời gian, quỳ gối bên mẹ nói lời xin lỗi : Mẹ ơi ! Con xin lỗi mẹ, con sai rồi ! Xin mẹ tha thứ cho con! Bài thơ "Mẹ tôi chiếc thuyền ba lá nhỏ " là một trong những bài trên.
Mở bài tác giả giới thiệu người mẹ quê đưa con đi học bằng chiếc thuyền ba lá nhỏ, một hình ảnh hiếm thấy nơi quê nghèo của một làng xả thuộc quận Gò Dầu tỉnh Tây Ninh nơi tác giả sống những ngày thơ ấu với người mẹ trẻ cô đơn. Mỗi người trong chúng ta đều có một bà mẹ vĩ đại trong lòng, hình tượng nầy vẫn tồn tại mãi cho dẫu mẹ có mất đi nhưng bóng dáng của mẹ vẫn khắc mãi trong tim. Người mẹ của tác giả(TH) đưa con lên tỉnh học bằng chiếc xuồng nhỏ bên dòng sông Vàm Cỏ Đông thật thi vị, cảm động  nhưng qua đó ta cũng hình dung được cảnh sống của người dân quê Việt Nam dẫu nghèo cùng cực cũng ráng nuôi con để sau nầy đở vất vả tấm thân không như mẹ bây giờ. Từ đó nơi quê nhà người mẹ sống quạnh hiu, khói lam chiều như mang theo hình ảnh của mẹ. Lời thơ bình dị mang âm hưởng ca dao như rót vào hồn thơ tác giả thêm bùi ngùi tha thiết:
Chèo chiếc xuồng con ba lá nhỏ
Mẹ đưa con ra tận bến đò
Con lên tỉnh học mùa Sim nở
Bếp chiều mẹ từ đó buồn so.
Hình ảnh bà mẹ quê Việt Nam có cuộc sống đơn sơ bên giàn giậu thưa mái tranh nghèo, nuôi một đàn con dại cũng được nhạc sĩ Phạm Duy miêu tả thật sinh động đầy màu sắc và ấn tượng :
Vườn rau, vườn rau xanh ngắt một mầu
Có đàn, có đàn gà con nương náu
Mẹ quê, mẹ quê vất vất vả trăm chiều
Nuôi đàn, nuôi một đàn con chắt chiu
Bà bà mẹ quê !
Gà gáy trên đầu ngọn tre
Bà bà mẹ quê !
Chợ sớm đi chưa thấy về
Chờ nụ cười con, và đồng quà ngon.
(Bà Mẹ Quê/Phạm Duy)
Bất chợt có những đêm về im vắng mỗi người trong chúng ta khi nhớ về mẹ, chắc không cầm được nước mắt. Ta nhớ mẹ, nhớ những khi mẹ đi chợ về, ra đứng ngóng ngoài ngõ đợi mẹ để được mẹ cho vài viên kẹo ngọt hoặc miếng bánh tráng mè, ôi sao thích quá :
"Bỗng dưng chợt nhớ quê nhà
Nhớ giàn mướp đắng nhớ quà mẹ mua
Ước gì bé lại như xưa
Để mong đi chợ mẹ mua chút quà".
(Nhớ/Phan Trần)
Đọc tiếp 4 câu đoạn II, ta ngậm ngùi xúc động khi nghe tác giả tả hình dáng cử chỉ mẹ sau khi đưa con đi học xa:
Những sáng lạnh đông thôi nhóm lửa
Nhớ con mẹ chỉ biết nhìn sông
Áo bạc vai màu bông súng úa
Xuồng con mẹ lủi thủi ngược giòng.
Tác giả biết mẹ không còn nhóm lửa khi đông về lạnh giá nữa. Ngày trước mỗi sáng mùa đông mẹ thường đốt lửa rơm cho con hơ ấm trước khi đến trường vì nhà nghèo không có áo ấm cho con mặc. Đốt lửa hơ ấm cũng là cách giải quyết hay, chứng tỏ mẹ thương con vô bờ bến ! Bây giờ con đi rồi mẹ không còn đốt lửa nữa. Những ai từng sống nơi quê nghèo Việt Nam mới thông cảm và hiểu được việc làm nầy của mẹ:
Những sáng lạnh đông thôi nhóm lửa
Nhớ con mẹ chỉ biết nhìn sông
Áo bạc vai màu bông súng úa
Xuồng con mẹ lủi thủi ngược giòng.
Tác giả, như có thần giao cách cảm, thấy mẹ đang ra bến đò nhìn dòng sông mà nhớ tới con, lo cho con không biết bây giờ ra sao, con có bịnh hoạn gì không có yên tâm học hành không? Bao nhiêu nỗi lo trong lòng. Bóng dáng mẹ hiền nhạt nhòa trong chiếc áo bà ba bằng vải thô hoen màu bông súng úa, mẹ đang chèo thuyền trở về nhà khi nắng chiều vừa tắt. Mẹ đi trong cô đơn buồn lay lất trên dòng sông nước chảy ngược ! Tại sao lại đi ngược dòng, phép ẩn dụ được sử dụng tài tình, một dụng ý của tác giả cho ta thấy người mẹ gặp dòng nước ngược khó chèo mà còn ngụ ý mẹ đang gặp nhiều khò khăn trong cuộc sống, mẹ phải tranh đấu với nghịch cảnh đầy cam go vất vả. Trạng từ "lủi thủi" sử dụng rất đắc vị nói 1ên sự riêng lẻ một mình chống chọi với bão táp phong ba trong nỗi buồn mênh mang của người mẹ.
Thế mới biết lòng mẹ bao la biết chừng nào. Nghe mấy lời ca từ và nhạc điệu trong bài "Lòng mẹ" của nhạc sĩ Y Vân ta mới thấy hết tấm lòng của người mẹ Việt Nam:
Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào,
Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào,
Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.
Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu.
Tình Mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ.
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ.
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ.
   Đoạn III là tâm trạng của tác giả:
Chiều tan trường học về nhà trọ
Nhớ mẹ nhớ khói bếp chiều buông
Nhà người tiếng ai cười đâu đó
Mở trang tập viết những chữ buồn.
Đoạn nầy tả nỗi nhớ thương của tác giả đối với mẹ mình. Những buổi chiều khi đi học về nằm một mình trong phòng trọ, hồn nghe cô đơn quạnh vắng, nhớ mẹ vô cùng. Tác giả nhớ nhiều thứ lắm, trước hết là nhớ mẹ sau đó nhớ khói bếp sau hè bay tỏa trên mái nhà tranh chuẩn bị cho buổi cơm chiều. Trong lúc miên man nghĩ về mẹ bỗng có tiếng ai đó cười vang khiến lòng tác giả chùng xuống, buồn tê tái, tác giả TH muốn tìm quên lãng bằng cách viết vào trang vở những dòng kỷ niệm nhưng sao lời văn chứa toàn nỗi buồn vì " Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"( Nguyễn Du).
Đoạn IV chứa nội dung tập trung cao nhất của bài thơ, với nhiều tình tiết diễn biến trạng thái tâm lý đem đến cho tác giả nhiều buồn đau khôn xiết :
Rồi mẹ cũng già theo năm tháng
Đôi tay gầy guộc đếm tuổi đời
Chiếc xuồng cột lững bờ mương cạn
Đèn nghèo leo lét bóng chiều rơi

Một sáng mưa dầm thưa mái dột
Mẹ bỏ con đi bỏ mái chèo
Còn ai mà hẹn mai hẹn mốt
Nghẹn ngào xuồng ba lá khóc theo.
   Dòng đời cứ lặng lẽ trôi nhanh , mới đó mà mẹ đã già theo ngày tháng. Bàn tay mẹ trở nên gầy guộc, chai cứng theo tuổi đời. Sức khỏe mẹ đã suy giảm, cánh tay không còn mạnh để chèo thuyền nữa. Chiếc ghe buộc lững bên bờ mương cạn, mằm trơ ra đó, nó cũng già đi theo thời gian, cũng mệt mỏi không còn ra sông, giống như chủ nhân của nó vậy !Phép so sánh được sử dụng thật khéo léo làm nổi bật tuổi già và sự mệt mỏi của mẹ. Từ ngữ "cột lững" diễn tả tình trạng chiếc thuyền: cột lững là cột hờ, cột không chắc. Chủ ghe không còn dùng nữa nên để mặc cho nó ra sao thì ra.
Câu thơ: "Một sáng mưa dầm thưa mái dột", trời mưa báo hiệu một biến cố đột ngột sắp xảy ra đó là mẹ tác giả ra đi về nơi cõi vĩnh hằng. “Mẹ già như chuối chín cây/ Gió lay mẹ rụng, con rày mồ côi”(ca dao). Tác giả xúc động mạnh kêu lên : "Mẹ bỏ con bỏ cả mái chèo" ! Thế là hết, còn gì nữa đâu ! Trời xanh tím ngắt một màu tang tóc ! Từ đây không cón ai đưa đón con nữa, không còn nghe câu hỏi: ngày mai con có về thăm mẹ không? Chiếc xuồng ba lá cũng buồn theo, cũng rơi nước mắt cho cảnh biệt ly nầy ! Tác giả đã nhân cách hóa chiếc thuyền như một người bạn biết thông cảm và chia sẻ nỗi đau của tác giả !
Đoạn kết:
Mùa này cũng mùa Sim tím nở
Đặt lên mộ mẹ những nụ đầu
Bên bếp hiên chiều con nhóm lửa
Mẹ về con kể chuyện ngày sau.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhân một chuyến đi thăm phong cảnh ở xóm quê Lake Boga, Úc Châu năm 2017, tác giả nhìn cảnh mà nhớ mẹ nhớ quê nhà lúc nhỏ ở Việt Nam, chạnh lòng viết nên những vẩn thơ đầy cảm xúc. Nơi đây mùa nầy cũng là mùa sim tím nở, TH nhớ mẹ mất vào mùa hè khi hoa sim tím nở rộ, tác giả mang tro cốt sang tận Úc Châu chôn cất, rồi đốt nhan cúng mẹ, cắm lên mộ những nụ sim tím đầu mùa. Trở về nhà TH đốt lữa bên mái hiên để nhớ mẹ nhớ mái hiên nhà ngày xưa, lâm râm khấn vái : mẹ hãy về đây chứng giám lòng thành kính của con dâng lên mẹ. Đoạn thơ nầy TH không nói rõ hài cốt của mẹ chôn cất tại đâu để có thể đặt lên mộ mẹ những nụ sim tím đầu mùa. Ẩn ngữ trong thơ văn có thể là dụng ý của tác giả nhằm gây thắc mắc và chú ý nơi người đọc, là một nét đặc biệt trong nghệ thuật sáng tác thi ca. Tôi đưa ra hai giả thuyết: thứ nhất TH đem tro cốt của mẹ sang Úc Châu nơi tác giả đang sống. Giả thuyết thứ hai là TH đang đứng bên bờ hồ Lake Boga, đưa mắt nhìn ra xa thấy cạnh hồ là một cánh đồng cỏ có nhiều hoa sim tím đang mở rộ nên cảm tác bài thơ nầy. Tác giả tưởng tượng như đang đứng trước mộ phần của mẹ ở quê nhà nên nhẹ tay bứt mấy bông sim tím đặt lên mộ mẹ, sau đó nhóm lữa, đốt nhang cầu nguyện mẹ về để nghe tác giả kể chuyện tang thương dâu bể, cuối cùng vượt biên sang Úc thành công. Câu chót: "Mẹ về con kể chuyện ngày sau", câu nầy ý nói xin mẹ hãy về đây con nói cho mẹ nghe : bây giờ con không còn ở quê nghèo Việt Nam nữa ! Thời cuộc đã đưa đẩy con sang Úc Châu xây dựng cuộc đời mới, cháu con an cư lạc nghiệp sống đời ấm no hạnh phúc, không còn vất vả như ngày xưa nữa mẹ ơi! Rất tiếc mẹ không còn sống để hưởng phước với con cháu, Mẹ ơi!
   Mỗi người đều có quyền tự hào về người mẹ vĩ đại của mình. Dẫu mẹ là một người nhà quê hay mẹ là người thành thị, tất cả đều đáng kính trọng tôn vinh. Mẹ nhà quê cũng là mẹ, nuôi ta bằng dòng sữa mẹ, bằng con cá bó rau, vất vả ngoài đồng hay gánh gạo bán hàng rong quanh xóm chỉ để nuôi con, lo cho con có đươc cái ăn cái mặc , còn nếu mẹ bạn là người thành thị thì cũng thương con, lo cho con, cũng vất vả trăm đường. TH mô tả người mẹ bình thường ở nhà quê, tác giả không nói rõ những việc làm cực nhọc của mẹ mà chỉ phát họa vài nét bằng 4 câu thơ ở đoạn giữa đã nói lên sự vất vả cực nhọc của mẹ trong suốt năm tháng dài kiếm sống bên bờ sông với chiếc xuồng ba lá nhỏ khiến ta bùi ngùi cảm động thương cho bà mẹ cô đơn đi giữa cuộc đời mà cũng thương cho chính mình:
Rồi mẹ cũng già theo năm tháng
Đôi tay gầy guộc đếm tuổi đời
Chiếc xuồng cột lững bờ mương cạn
Đèn nghèo leo lét bóng chiều rơi.
Đoạn kết TH muốn nói với mẹ rằng nhờ công đức của mẹ mà con mới có được ngày hôm nay, tiếc rằng mẹ không còn sống để hưởng cái phúc nầy ! Trong bài tác giả không đưa ra một lời nhắn nhủ nào cho độc giả hay cho thế hệ đi sau nhưng ta ngầm hiểu TH muốn gởi đi một thông điệp rõ ràng là hãy thương mẹ thật nhiều lo cho mẹ thật đầy đủ khi mẹ còn sống vì lỡ mai kia khi mẹ ra đi bất ngờ thì có muốn lo cho mẹ cũng không còn cơ hội nữa !
Đọc xong bài thơ tôi cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, tự dưng nghe mắt cay cay niềm thương nhớ mẹ. Mẹ ơi!!!
Cám ơn tác giả đã gợi cho tôi niềm cảm hứng để viết lên những lời chân thành nầy đối với mẹ Việt Nam.
Nguyễn Cang (13/7/2018)

Xin giới thiệu quí thân hữu một thi hữu mới kết:Triều Phong Đặng Đức Bích,hiện cư ngụ tại Sạnjose, CA, tác giả quyển  sách Tuyển Tập Thơ Đường Bình Định ( nhiều tác giả)in tại Sanjose năm 2015.

Sau đây là bài Lễ Vu Lan nhớ mẹ của tác giả. 

Anh Bich cho biết sau khi đọc bài bình thơ TH, anh có cảm hứng làm bài thơ trên.
Nguyẻn Cang

VU LAN NHỚ MẸ     

Chiếc võng đong đưa Mẹ mắc giăng
Ngoài kia mùa hạ nắng khô cằn
Lòng già trĩu nặng thương con cháu    
Tóc bạc da mồi sớm héo nhăn
Dưỡng dục ơn sâu lòng khắc nhớ
Sinh thành nghĩa nặng dạ thân oằn
Bông hồng dâng Mẹ ngàn hoa thắm
Thương Mẹ biển, trời có thấu chăng ?

Triều Phong Đặng Đức Bích













8 thg 6, 2019

CẢM NHẬN KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN "MÙA HOA TRÂM BẦU CHƯA KỊP NỞ" CỦA THUYÊN HUY


    Tôi thường đọc bài trên trang 304ĐEN, để giải trí và cũng như để thưởng thức thơ văn của các tác giả tứ phương gởi về. Sau một thời gian là độc giả của trang này, theo thiển ý của mình, tôi có nhận xét như sau: những bài đăng trên blog là những bài chọn lọc có giá trị thuộc nhiều lãnh vực: thơ văn, chánh trị, thời sự trong và ngoài nước thật dồi dào. Theo đánh giá của cá nhân tôi, mà không sợ sai lầm, cũng như không có gì quá đáng để có thể nói, TH là một người viết văn, làm thơ khá hay do khả năng làm thơ viết văn vốn có từ thuở còn học trung học. TH hiện định cư ở Úc, là cựu học sinh trung học công lập Tây Ninh, ngoài việc làm thơ, viết văn, TH cũng thường viết một số bài xả luận và bình luận cho các tờ báo và tạp chí bạn quen, tôi là bạn thơ cũng là người đồng hương và đồng môn ở Trung Học Công Lập Tây Ninh với anh.


    Tôi thích đọc truyên ngắn của anh, để ý từng chữ từng câu để hiểu, thưởng thức và cảm thông nỗi lòng của anh đã gởi trong đó. Tôi nhận thấy mình là người khó tánh trong việc đọc truyện. Nhiều khi đọc hết một trang mà chưa thấy tác giả đi vào đề tài là tôi bỏ ngang, nhưng với TH thì không, vì tôi tìm thấy trong mỗi bài của anh những cái hay cái mới để học hỏi nhất là cách hành văn rất chuyên nghiệp. Truyện ngắn kể trên thật hay, lời văn dung dị bình thường như chính cuộc đời thực của tác giả. Cách phân đoạn, phân nhánh, cách hành văn cũng mộc mạc chơn chất  dễ đi vào lòng người đọc. Nhiều bài viết của anh có nội dung buồn, buồn cho nhân vật cũng cho chính mình vì hoàn cảnh tác giả lúc nhỏ rất nghèo như chính quê nghèo Long Chữ của anh vậy. Lớn lên, vào đời chẳng được bao lâu thì biến cố 1975 xảy ra, TH mang nỗi đau chung của cả một dân tộc, nó kéo dài cho đến tận bây giờ thì làm sao mà vui cho được? Hơn nữa câu chuyện thường lấy bối cảnh trong thời chiến tranh ác liệt, nhất là giai đoạn cuối của cuộc chiến.


    Để bạn đọc tiện theo dõi, câu chuyện được tóm tắt như sau:


“Bưởi (đứa con gái 13 tuổi) cùng em trai là Chương 3 tuổi theo mẹ về xã Long Chữ, quận Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh sinh sống. Mẹ là người Hớn Quản làm nghề cạo mũ cao su, phải lòng một người đàn ông, gá nghĩa vợ chồng sinh ra thằng Chương. Khi đứa bé được 3 tuổi thì chồng bỏ đi biền biệt, không một lần trơ lại. Bà mẹ thất chí dẫn thằng Chương xuôi Nam tìm đất sống mới để nguôi ngoai mối tình buồn. Khi tới Thủ Dầu Một bà gặp một đúa con gái tuổi 13 đang chạy dọc theo xe đò chở hàng lên xuống Thủ Dầu Một-Tây Ninh, bán nước trà đá. Thấy đứa nhỏ côi cút bà xin nó làm con nuôi, về sống chung với bà, từ đó bà coi nó như con ruột của mình. Nhà của bà chỉ là một cái chái che bằng mấy tấm tôn rách nát cong queo, dựa vào tường căn nhà ngói của một nhà hảo tâm. Hằng ngày Bưởi và mẹ đi ra chợ lượm ve chai, bịch ni lông, đồ phế thải quanh đống rác đem về bán cho chủ vựa bên kia đường. Hơn hai năm sau mẹ tình cờ gặp lại người bà con xa bên ngoại rủ về Gò Dầu Hạ sinh sống. Ba mẹ con lại gom góp đồ đạc lặt vặt lên đường tìm về vùng đất mới. Nhờ người bà con và sự giúp đỡ của lối xóm, họ dựng giùm bà một căn nhà tranh vách đất gần con rạch Gò Suối, có hàng cây trâm bầu, ăn thông ra tới con sông lớn Vàm Cỏ Đông. Hằng ngày bà đi làm thuê làm mướn, đập lúa giã gạo, nhổ mạ cấy lúa...


Bà xin ai đó một chiếc xuồng ba là cũ rách, đem về sửa lại, chèo ghe theo con rạch, vớt bông súng đem ra chợ bán, chiều về bà cột xuồng dưới rặng trâm bầu. Rồi ngày tháng bình thản trôi qua, mới đó mà Bưởi đã 18 tuổi, nàng biết e thẹn khi gặp trai làng trêu ghẹo. Qua tết mẹ mất, Bưởi và em Chương khóc hết nước mắt. Sau đó là những ngày đen tối, đau khổ, vất vả, buồn tủi. Bây giờ thì Chương đã lớn, nó thi đậu vào trung học quận Gò Dầu Hạ. Nhờ người hảo tâm thông cảm hoàn cảnh hai chị em nên Chương ở trọ nhà cô giáo miễn phí. Thỉnh thoảng Chương về Long Chữ thăm chị.
Cuối hè khi Chương lên lớp đệ tam thì được tin chị đi lấy chồng, một chàng trai ở làng Long Giang, tên Tín do người mai mối tới hỏi. Từ đó hai chị em xa nhau. Trước khi về nhà chồng, Bưởi và em ra mộ mẹ khấn vái, cầu xin mẹ phù hộ cho hai con gặp nhiều may mắn, hạnh phúc. Bưởi hứa sẽ vê thăm mẹ vào mùa hè năm sau khi hoa trâm bầu nở rộ.

     Mấy mùa trăm bầu nở rộ đã qua mà Bưởi vẫn không trở lại, có người nói nhà chồng đối xử tệ bạc với con dâu mà chồng thì không dám đứng ra bênh vực cho vợ nên Bưởi buồn, bỏ nhà ra đi, có người nói thấy Bưởi đón xe lên miệt biên giới Miên. Còn Chương thì tình nguyện đi Thủ Đức, ra trường là sĩ quan chuẩn úy Biệt Động Quân, phục vụ tại tiểu đoàn 41 đóng tại Kiến Phong, Cao Lãnh. Đầu mùa hè năm 1971, Tư Lịnh Vùng 4 Chiến Thuật mở cuộc hành quân vùng Phụng Hiệp, càn quét VC đang âm mưu đánh chiếm quận lỵ, đơn vị Chương đụng mạnh với lực lượng chánh quy CSBV, hai bên bị thiệt hại nặng. Tàn trận đánh, khi đi lục soát, bất ngờ Chương phát hiện ra ra một nữ cán binh VC bị thương nặng, đâu có ngờ người đó lại là Bưởi, chị mình. Chương xin cấp trên cho trực thăng chở binh sĩ bị thương và chị về điều trị tại bệnh viện Cần Thơ. Không lâu sau đó chị tắt thở, lục trong người thấy có một tờ giấy "hồi chánh" không biết Bưởi đã giữ nó từ bao lâu rồi? Chương xin chở xác chị về chôn cạnh mộ mẹ ở Long Chữ khi mùa trâm bầu chưa kịp nở!”.

    Câu chuyện thật cảm động xảy ra thời binh lữa trước 75. Chuyện có thể là thật, cũng có thể thêm vào một chút hư cấu. Nhưng dẫu hư cấu nó vẫn có giá trị riêng của nó về mặt nghệ thuật bởi môt cây viết chuyên nghiệp, già giặn trong chốn văn chương. Thật vậy có thể nói đây là một trong những bài hay nhất của TH, sau bài "Nơi dòng sông lẻ bạn", và trước bài "Gói xôi nước mắt mặn". Xin các bạn, dành chút thì giờ tìm đọc lại những bài nầy qua trang blog 304Đen để thưởng thức cái  hay của tác giả trong các truyện ngắn này.


    Với bút pháp sắc sảo, lối hành văn lôi cuốn, khiến độc giả như bị lôi cuốn vào câu chuyện ngay từ đầu. Đầu câu chuyện, tác giả đưa ta đi ngay vào tình huống "có vấn đề" khiến ta phải chú ý đọc tiếp phần kế coi câu chuyện ra sao?


    "Theo mẹ về Long Chữ từ ngày mới lên mười hai với đứa em trai, thằng Chương lúc đó chưa tròn ba tuổi, Bưởi đã biết chèo cái xuồng ba lá cũ kỹ, chỗ hở chỗ lành, phụ mẹ, vớt bông súng vào mùa dọc theo con rạch Gò Suối, ra tới đầu vàm lớn nơi sông Vàm Cỏ Đông, chảy vào địa phận Bến Cầu, bưng ra chợ xã bán. Mẹ là người Hớn Quản, làm phu cạo mủ cao su, phải lòng người thanh niên cũng cùng một nghề, lấy nhau, sinh ra thằng Chương, thì người đàn ông bỏ đi biệt tăm trong một đêm mưa dầm cuối mùa hạ, lúc có tiếng súng du kích Việt cộng bắt đầu nổ lai rai, rãi rác đâu đó trên khắp làng trên xã dưới của miền Nam".

Bằng một bút pháp điêu luyện, TH thường kết hợp tả cảnh xen lẫn tả tình, khai thác triệt để tâm lý nhân vật khiến người đọc cảm nhận ngay những biến chuyển tâm lý nhân vật qua từng biến cố lớn nhỏ đang xảy ra ,  khi thì phát họa sơ sài bằng vài nét chấm phá khi thì đào sâu chi tiết để lột tả hết sự khổ đau cùng cực của bà mẹ và của Bưởi , nghe mà đắng lòng :


"Buồn tủi, nghèo nàn, mẹ ôm con lếch thếch, lưu lạc trôi giạt về Nam, ngang Phước Long, Bình Long, qua Thủ Dầu Một rồi ở đây, tại ngã ba Củ Chi, mẹ gặp Bưởi, đứa con gái gầy còm, da mặt mốc thích, mười tuổi đầu, không cha không mẹ, chạy bán nước trà đá theo những chuyến xe đò, xe hàng lên xuống Tây Ninh, Hậu Nghĩa, cho người đàn bà mập mạp, chủ một sạp thức ăn, tóc Bưởi rối bời, vàng úa màu nắng khét, đang ngồi đếm lại tiền người mua trả dưới bóng mát giữa trưa, bên gốc hàng cây bả đậu già nua, không thấy hoa thấy trái".


Hay bằng vài nét chấm phá mà vẫn thấy ngọt ngào tình cảm bằng hai tiếng "má ơi":


"Về ở với bà, Bưởi vui sướng hẳn lên với hai tiếng “má ơi”, tiếng  mà nó không biết là đã có lần nào gọi ai đó chưa, Bưởi cũng chưa hề biết cha mẹ là ai và từ phương nào tới đây, và tới giờ này, thật ra nó cũng không buồn nghĩ tới".


Bưởi tuy là một đứa con gái nghèo, lam lủ nhưng khi thấy những đứa khác cùng tuổi được cha mẹ cho tới trường, em cũng cảm  thấy buồn tủi cho thân phận mình sao mà bạc phước .  Đoạn nầy TH tả tâm trạng của Bưởi rất xác thực:


" Nhiều hôm, nắm tay em chờ mẹ về, đứng nhìn ra đường, thấy học trò trai gái, cở tuổi mình, tan học đi ngang qua, Bưởi chợt thấy tủi thân tủi phận và đã có lúc ước gì... nhưng rồi thôi".


Chương tuy không phải là em ruột của Bưởi nhưng Bưởi coi nó như em ruột mình nên Bưởi lo cho em ăn học hy vọng sau nầy em nó có một viêc làm xứng đáng cho đở tấm thân, không như nó bây giờ. TH rất tâm lý khi diễn tả đoạn nầy :


"Từ đó, Bưởi cũng như mẹ, chèo xuồng ba lá vớt bông súng đầu mùa, làm thuê gặt mướn cho người láng giềng, cũng cắm câu tát đìa, nuôi em, không than không phiền một tiếng, nhất quyết lo cho em ăn học, trong cái hy vọng mỏng manh như ngày còn sống, đời thằng Chương sẽ phải khá hơn họ".  


Nhưng phải nói cái mà tôi thích nhứt là những đoạn tả về cuộc chiến ác liệt giữa ta và địch trên chiến trường . TH đã dùng một lối hành văn thật lôi cuốn hấp dẫn mô tả cảnh chiến trường như thật đang xảy ra, nó gợi cho thấy hình ảnh âm thanh của tiếng reo hò quân sĩ hai bên, trong một số các bài viết. Chiến tranh đã thôi thúc lòng yêu nước và vì đang gặp hoàn cảnh đau buồn nên Chương, cũng như nhiều thanh niên khác, phải từ giã mái trường thân yêu để đi vào miền khói lữa:


"Chiến tranh giờ lan rộng khắp nơi, không còn là cuộc chiến của những tiếng súng lẻ loi, lác đác mà của súng đại liên đại pháo, quân cộng sản miền Bắc đã có mặt nhiều nơi, xem ra trận đánh ngày càng ác liệt hơn, đậu tú tài một, Chương tình nguyện vào lính, từ trường Bộ Binh Thủ Đức ra, Chương theo binh chủng Biệt Động Quân, về tiểu đoàn 41, đóng tại  Kiến Phong - Cao Lãnh".


Về bố cục, TH theo đúng sách giáo khoa, xây dựng cốt truyện theo nhân vật chính phụ nhưng cách diễn tả thì khác, đầy màu sắc cảm hứng với lý luận chặt chẽ. Cách phân đoạn cũng vậy. Trọng tâm truyện là bà mẹ nhưng nhân vật chính lại là Bưởi. Tác giả cho biết bà mẹ chết sớm nên xoáy mạnh vào cuộc  đời còn lại của hai đứa trẻ mồ côi để thấy được cuộc sống của chúng  thêm đau khổ, khốn nạn biết chừng nào khiến người đọc ngậm ngùi thương cho hai trẻ nhiều hơn!


Sự đột biến xảy ra cho hai đứa bé khi mẹ nó chết bất ngờ sau cơn bịnh tưởng như không có gì nguy hiểm. Thực ra thì bà mẹ của hai đứa bé đã cạn kiệt sinh lực do làm việc quá sức mà không được bồi dưỡng.  Sự kiện nầy đã đẩy cuộc sống hai trẻ vào bước đường cùng khiến Bưởi phải đi lấy chồng không như ý muốn và Chương phải đi lính khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Tác giả khéo sắp xếp câu chuyện theo một trình tự lớp lang hẳn hoi khiến người đọc muốn theo dõi xem cuộc đời của hai đứa trẻ rồi sẽ ra sao?  tức gây được sự chú ý nơi người đọc, phải nói đó là thành công của tác giả. Còn một đột biến thứ hai có tính cách quyết định cho bước rẽ cuộc đời của Bưởi là khi nàng bước chân về nhà chồng chẳng đươc bao lâu thì lại bỏ đi mất không ai biết. Vậy lý do gì buộc nàng làm như thế? Tác giả dùng lý luận chặt chẽ để biện giải: nàng bị nhà chồng ngược đãi, bị Tín nhu nhược không dám đứng lên bênh vực vợ, nàng bị đẩy vào đường cùng không lối thoát nên buộc phải theo vc làm du kích. Đọc tới đây chắc hẳn các bạn cũng như tôi đều  thương và tội nghiệp cho Bưởi quá, nếu nàng được nhà chồng yêu thương thì nàng đâu có đi theo phía bên kia. Thảm kịch nầy xảy ra rất nhiều ở vùng nông thôn VN trước 75, đưa tới tình trạng anh em bà con, người theo bên nầy người bên kia xung đột nhau cho tới ngày tàn cuộc chiến mà hậu quả là sự mất mát, nghi kỵ, chia rẽ vẫn còn kéo dài cho tới ngày hôm nay chưa có dấu hiệu chấm dứt, làm suy yếu nội lực dân tộc thì mong gì động viên được toàn dân đứng lên cứu nước?


Hai chị em Bưởi cũng ở vào trưởng hợp nầy. Tác giả thật khéo léo biết sắp xếp câu chuyện  cho có tình có lý rồi dựng lên yếu tố bất ngờ bằng cách đua thằng em , lúc đó là thiếu úy đi hành quân phá vỡ âm mưu tấn công của VC vào tỉnh Cao Lãnh , nào ngờ khi bắt được một nữ cán binh VC, lại là chị mình ! Thật trớ trêu, oan trái,  bất ngờ, mà trước đó ít người nghĩ tới sự việc lại xảy ra như vậy . Yếu tố bất ngờ gây ngạc nhiên thích thú cho người đọc nhưng cũng gây nhiều cảm xúc đớn đau. Đoạn kết thật bùi ngùi cảm động: Chương chở xác chị mình về chôn tại quê nhà nằm cạnh mộ mẹ khi mùa trâm bầu chưa kịp nở hoa:


" Chương mướn xe đưa xác Bưởi về Long Chữ, khi được tiểu đoàn cho vài ngày phép, với sự giúp đở của bà con chung quanh ấp cũ, đem Bưởi chôn cạnh mộ mẹ, hai nấm đất nằm bên nhau, cùng nhìn hướng hàng cây trâm bầu bên bờ con rạch Gò Suối, nén nhang thơm chia đều, bên mẹ bên chị, Chương bùi ngùi, nghèn nghẹn khóc. Cuối cùng, dù có trễ chị Bưởi cũng “về lại nhà xưa như đã hẹn hôm ra đi nhưng không như mẹ, chị về khi mùa hoa trâm bầu chưa kịp nở”.
   Tôi đọc khá nhiều truyện ngắn của Thuyên Huy, lấy làm tâm đắc về những sáng tác loại nầy. Có thể nói sở trường của tác giả là viết truyện ngắn, truyện nào đọc nghe cũng hay cũng hấp dẫn ở cách dàn dựng câu chuyện, phân tích tâm lý nhân vật, tả cảnh xen lẫn tả tình, bằng một lối hành văn thật bình dị mà lôi cuốn khiến người đọc như đặt mình vào nhân vật đó, chia sẻ niềm vui nỗi buồn với họ. Thật  ngưỡng mộ.


Nguyễn Cang


(20/11/2018)