Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Góc Việt Thi : Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM (kỳ nhị. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Góc Việt Thi : Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM (kỳ nhị. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

2 thg 8, 2020

Góc Việt Thi : Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM (kỳ nhị)

Góc Việt Thi :  
                  
                            Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM
                                                    Kỳ nhị
6. Bài thơ LOẠN HẬU QUY CỐ VIÊN VỊNH MAI :

亂後歸故園詠梅     LOẠN HẬU QUY CỐ VIÊN VỊNH MAI
萬紫千紅都是春,    Vạn tử thiên hồng đô thị xuân,
等閑開謝總紛紛。    Đẳng nhàn khai tạ tổng phân phân.
雪中不改堅貞操,    Tuyết trung bất cải kiên trinh tháo,
惟有寒梅伴主人。    Duy hữu hàn mai bạn chủ nhân !
                  阮秉謙                              Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chú Thích :
    - Tựa bài thơ : Sau loạn về quê cũ vịnh hoa mai.
    - Vạn Tử Thiên Hồng 萬紫千紅 : là Muôn tía ngàn hồng, ta nói là "Muôn hồng ngàn tía" hoặc "Ngàn tía muôn hồng".
    - Đẵng Nhàn 等閑 : là Bình thường, là Lẽ Tự Nhiên.
    - Kiên Trinh Tháo 堅貞操 : là cái Tiết tháo kiên trinh, kiên định chẳng đổi thay.

* Nghĩa Bài Thơ :
                                SAU LOẠN VỀ LẠI QUÊ NHÀ VỊNH HOA MAI
        Muôn hồng ngàn tía đều nở ra vì mùa xuân, theo lẽ thường tình hoa nở rồi hoa tàn đều bát nháo như thế cả. Chỉ có hoa mai là vẫn giữ tiết tháo kiên trinh trong trời đông tuyết phủ vẫn nở đúng hẹn để bầu bạn với chủ nhân, không thay đổi bao giờ !
        Hoa Mai, một trong Tuế Hàn Tam Hữu 歲寒三友, ba người bạn vẫn tốt tươi trong cuối năm lạnh lẽo của mùa đông. Hoa Mai vẫn ngạo nghễ vươn lên nở hoa trong tuyết giá, là biểu tượng của sự kiên định bất khuất, với hương thơm nhẹ thoảng tượng trưng cho sự thanh cao của người quân tử. Không chỉ có cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ca ngợi hoa mai, trong các danh nhân cổ đại của ta còn có Cao Bá Quát cũng bái phục mai hoa với đôi câu đối :

                        Thập tải luân giao cầu cổ kiếm,   十 載 輪 交 求 古 劍,
                        Nhất sinh đê thủ bái mai hoa.      一 生 低 首 拜 梅 花.
    Có nghĩa :
                         Mười năm lần lữa tìm gươm cổ,
                         Một đời cúi lạy trước hoa mai.

* Diễn Nôm :
 LOẠN HẬU QUY CỐ HƯƠNG VỊNH MAI
Muôn hồng ngàn tiá đón xuân sang,
                   Hoa nở hoa xinh lại úa tàn. 
                   Trong tuyết kiên trinh không dời đổi,
                   Hoa Mai duy nhất vẫn thi gan !
     Lục bát :
                   Muôn hồng ngàn tía đón xuân,
                   Hoa tàn hoa nở vốn trong tuần hoàn.
                   Kiên trinh trong tuyết đông sang,
                   Hoa mai vẫn nở ngập tràn với ta !
                                                         杜紹德
                                                     Đỗ Chiêu Đức 


7. Bài thơ NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI :

  遇中元捨罪          NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI

天地那容罪惡人,    Thiên địa na dung tội ác nhân,
是何捨罪有良辰。    Thị hà xá tội hữu lương thần ?
我今欲仗慈悲力,    Ngã kim dục trượng từ bi lực,
救得無辜塗炭人。    Cứu đắc vô cô đồ thán nhân !
               阮秉謙                       Nguyễn Bỉnh Khiêm
* Chú Thích :
    - NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI 遇中元捨罪 : Gặp ngày lễ Trung Nguyên xá tội vong nhân. TRUNG NGUÊN là ngày rằm tháng 7 âm lịch, còn gọi là ngày lễ VU LAN BỒN 盂蘭盆, do phiên âm chữ Phạn Ullambana, có nghĩa là cực khổ tột độ, lại có nghĩa là cứu vớt khỏi cảnh cực khổ tột độ. XÁ TỘI 捨罪 là Bỏ đi tội lỗi, là Tha tội.
    - Dung 容 : Danh từ là Dung nhan. Động từ DUNG là chứa đựng, là Chịu đựng, là Tha thứ; ta có từ kép DUNG THA hay DUNG THỨ.
    - Lương Thần 良辰 : LƯƠNG là Tốt lành; THẦN là Giờ giấc, ngày tháng. Nên LƯƠNG THẦN là Ngày lành tháng tốt. Ý chỉ ngày lễ Vu Lan Bồn.
    - Trượng 仗 : là Ỷ lại, là Nhờ vào..., vựa vào...
    - Từ Bi Lực 慈悲力 : là Sức mạnh của lòng từ bi.
    - Vô Cô 無辜 : là Vô Can, Vô tội.
    - Đồ Thán 塗炭 : ĐỒ là Bôi, là tô. THÁN là Than củi, là đen đúa. Nên ĐỒ THÁN là Bị bôi đen như than; ta nói là Lầm Than, Khổ nhọc.

* Nghĩa Bài Thơ :
                           GẶP NGÀY TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI
        Trời đất nào có dung tha cho những người làm nên tội ác. Nhưng tại sao lại có được ngày lành tháng tốt để xá tội vậy ?. Nay ta muốn vựa vào sức mạnh của lòng từ bi để cứu cho những người vô tội phải chịu cảnh lầm than khổ nhọc  (dưới Địa ngục).

         Câu chót của bài thơ nầy dường như chưa thông tình đạt lý cho lắm : 救得無辜塗炭人 Cứu đắc vô cô đồ thán nhân !. Có nghĩa : "Cứu được những người vô tội phải chiụ cảnh lầm than". Những người đã bị đày vào địa ngục thì đều là những người CÓ TỘI cả rồi, sao lại là người VÔ CÔ (Vô Can) cho được. Và TỪ BI LỰC 慈悲力 Sức mạnh của lòng từ bi để CẢM HÓA những người có tội, chớ không phải để CỨU những người có tội cho được. Nên theo thiển ý, câu chót của bài thơ nầy nên đổi lại là :
             GIẢI đắc TỘI ĐỒ đồ thán nhân.    解得罪徒塗炭人。
Có nghĩa :
            ( Vựa vào sức mạnh của lòng từ bi, để...)
         Giải thoát (cảm hóa) các tội đồ cho họ thoát khỏi cảnh lần than !  

* Diễn Nôm :
                    NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI

                  Đất trời vốn dĩ không dung ác,
                  Xá tội sao còn có Vu Lan ?
                  Sức mạnh từ bi ta muốn vựa,
                  Cứu người vô tội khỏi lầm than !
      Lục bát :
                  Ác nhân trời đất không dung,
                  Sao còn có được Trung tuần Vu Lan ?
                  Từ bi sức mạnh vô vàn,
                  Cứu người vô tội lầm than cửu tuyền.
                                                        杜紹德
                                                     Đỗ Chiêu Đức 

8. Bài thơ NGỤ Ý :

      寓意                               NGỤ Ý
名遂功成休矣休,    Danh toại công thành hưu hĩ hưu,
等閒世故一虛舟。    Đẳng nhàn thế cố nhất hư chu.
風來江館涼宜夏,    Phong lai giang quán lương nghi hạ,
月到書樓明正秋。    Nguyệt đáo thư lâu ming chính thu.
紅日東昇知大海,    Hồng nhật đông thăng tri đại hải,
白雲西望是神州。    Bạch vân tây vọng thị thần châu.
溪山亦足供吾樂,    Khê sơn diệc túc cung ngô lạc,
忍負前盟萬里鷗。    Nhẫn phụ tiền minh vạn lý âu.
              阮秉謙                         Nguyễn Bỉnh Khiêm
* Chú Thích :
    - Ngụ Ý 寓意 : Gởi gắm cái ý niệm của mình hoặc Gởi gắm một ẩn ý nào đó.
    - Hưu Hĩ Hưu 休矣休 : là Thôi hãy hưu trí cho rồi đi.
    - Đẵng Nhàn Thế Cố 等閒世故 : Chuyện Nhân tình thế cố thường ngày trong cuộc sống.
    - Hư Chu 虛舟 : là Chiếc thuyền trống rổng, không có gì cả.
    - Thần Châu 神州 : là Đất liền, nơi ta đang cư ngụ. Đây là khái niệm về Địa lý lúc ban đầu của người Trung Hoa, chia đất liền thành 9 châu huyện, gọi là Cửu Châu và gọi chung đất đai mà con người cư ngụ là Xích Huyện Thần Châu. 
    - Cung 供 : là Cung cấp, cung ứng. CUNG NGÔ LẠC 供吾樂 : là Cung cấp đáp ứng cho niềm vui của ta.
    - Nhẫn 忍 : là Nhịn, là Đành cam, nên NHẪN PHỤ 忍負 : Không đành lòng phụ.
    - Tiền Minh 前盟 :Những lời hẹn ước trước đó.

* Nghĩa Bài Thơ :
                                                     NGỤ Ý
      Công đã thành danh đã toại rồi thì thôi hãy về hưu đi thôi ! Những chuyện nhân tình thế cố thường ngày như một chiếc thuyền trống rổng, (rốt cuộc cũng chẳng có gì). Khi gió thổi vào cái quán nhỏ mà ta ngồi hứng gió ở ven sông thì đó chính là mùa hè; còn lúc trăng chiếu vào thư lâu nơi ta đọc sách, thì đó chính là đang lúc mùa thu. Mắt trời đỏ rực mọc lên ở hướng đông thì biết nơi đó là biển cả, còn mây trắng bay xa xa về hướng tây thì biết đó là đất liền nơi ta cư ngụ. Sơn khê sông suối núi rừng cũng đã đủ đáp ứng cho niềm vui của ta rồi, lại nở nào đành lòng quên đi lời hứa trước đây với lũ chim âu trên sông nước hay sao ?!

      Quả là cảnh nhàn nhã, ung dung tự tại suốt bốn mùa, quanh năm vui với trăng thanh gió mát, đọc sách ngâm thơ, đón mặt trời lên và ngóng nhìn mây trắng, vui với sông suối núi rừng và lũ chim âu trên sông nước để tiêu dao ngày tháng tự do tự tại tựa tiểu thần tiên.

* Diễn Nôm :
                                 NGỤ Ý 
 Công thành danh toại đến kỳ hưu,
                  Thế sự nhân tình đã chán ru !
                  Gió mát đón hè vui sông nước,
                  Trăng thanh đọc sách sáng lầu thu.
                  Trời đông rực nắng ngoài xa biển,  
                  Mây trắng về tây tận cuối châu.
                  Khe suối núi sông vui ngất ngưởng,
                  Lòng nào nở phụ lũ chim âu !
      Lục bát :
                  Công thành danh toại nghỉ hưu,
                  Nhân tình thế sự hư chu não lòng.
                  Hè về hóng gió ven sông,
                  Thu thì đọc sách trăng trong bên lầu.
                  Biển đông trời mọc nắng cao,
                  Thần châu mây trắng nơi nào về tây.
                  Sơn khê đã thỏa lòng này,
                  Sao đành lỗi hẹn với bầy chim âu !?
                                                         杜紹德
                                                     Đỗ Chiêu Đức                                         

9. Bài thơ NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI :                  
  
   元旦述懷               NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI

今我行年六十支,      Kim ngã hành niên lục thập chi,
老來卻與病相期。      Lão lai khước dữ bệnh tương kỳ.
惜春強勸數杯酒,      Tích xuân cưởng khuyến sổ bôi tửu,
憂國休言兩鬢絲。      Ưu quốc hưu ngôn lưỡng mấn ty.
織紝不勤嗟懶婦,      Chức nhẫm bất cần ta lãn phụ,
家庭無教笑癡兒。      Gia đình vô giáo tiếu si nhi.
閒中聊寓閒中趣,      Nhàn trung liêu ngụ nhàn trung thú,
豈為逢人說浪詩。      Khởi vị phùng nhân thuyết lãng thi.
               阮秉謙                                 Nguyễn Bỉnh Khiêm
* Chú Thích :
    - Thuật Hoài 述懷 : Tỏ bày hoài bão; Kể lể nỗi niềm tâm sự.
    - Chi 支 : là Thập Nhị Địa Chi 十二地支, mỗi CHI là một Con Giáp, tượng trưng cho một năm, nên LỤC THẬP CHI 六十支 là Sáu mươi tuổi.
    - Tương Kỳ 相期 : là Cùng nhau hẹn ước; là Hẹn hò với nhau.
    - Cưỡng Khuyến 強勸 : là Miễn cưỡng khuyên nhau...
    - Hưu Ngôn 休言 : Đừng bao giờ nói; Đừng bảo là...
    - Chức Nhâm 織紝 : là Canh cửi, là dệt vải. Chữ NHÂM ở đây được đọc là NHẪM cho ăn với luật Bằng Trắc để nghe cho êm tai.
    - Lãn Phụ 懶婦 : là người đàn bà lười biếng; là Người vợ lười.
    - Si Nhi 癡兒 : là Con ngu dại, si ngốc.
    - Liêu Ngụ 聊寓 : Ngụ ý là...; Cứ cho là...
    - Thuyết Lãng Thi 說浪詩 : Lạm bàn lan man về thơ ca.

* Nghĩa Bài Thơ :
                           TẾT NGUYÊN ĐÁN KỂ LỂ NỖI LÒNG
        Tết nay thì ta cũng đã được sáu mươi tuổi rồi; Càng già lại càng như là có ước hẹn với bệnh tật vậy. Tiếc xuân nên miễn cưỡng mời nhau vài ly rượu. Lo cho nước thì chớ bảo là hai mái tóc mai đã bạc như tơ cả rồi. Canh cưởi không siêng năng thì than là con vợ biếng nhác; Gia đình không dạy dỗ thì sợ người ta cười con mình ngu ngốc. Trong lúc nhàn nhã thì cứ cho là hưởng thú nhàn nhã đi, sao lại phải nói chuyện lan man về thơ ca khi gặp người nầy người nọ.
        Than già than bệnh, nhưng uống rượu vui chơi với nhau lúc xuân về thì miễn cưỡng vẫn còn được, còn nói đến lo cho nước thì chớ có thoái thác là tóc đã bạc người đã già. Cũng như con vợ không siêng năng dệt cửi là tại ta thiếu quan tâm đôn đốc; gia đình không giáo dục thì con cái ngu dốt sẽ bị người cười chê. Tề gia không tốt lại đi đổ thừa cho vợ lười biếng, con ngu si. Trong khi chỉ thích hưởng thụ nhàn tản để nói ba điều bốn chuyện về những thơ ca lan man không đâu với những người gặp gỡ vô tích sự. Không biết là cụ Trạng đã mượn chuyện của mình để nhắc nhở người khác hay là cụ đang ám chỉ ai đây trong cái xã hội khá rối ren bát nháo, vàng thao lẫn lộn của lúc bấy giờ : Vừa Mạc vừa Lê vừa Trịnh vừa Nguyễn...
* Diễn Nôm :
                     NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI
Đến Tết ta đà sáu chục rồi,
                   Càng già bệnh tật lại theo đuôi.
                   Tiếc xuân miễn cưởng vài chung rượu,
                   Lo nước chớ màng tóc bạc vôi,
                   Canh cửi không siêng bà vợ biếng,
                   Ngu si thiếu dạy lũ con tồi.
                   Muốn nhàn thì cứ vui nhàn tản,
                   Sao phải vì ai lãng phí lời !
     Lục bát :
                   Nay ta sáu chục tuổi rồi,
                   Càng già bệnh tật như mời theo đuôi.
                   Tiếc xuân vài chén uống vùi,
                   Nước không lo nổi rối nùi tóc mai.
                   Vợ lười canh cửi tại ai,
                   Con ngu vì bởi vô tài dạy khuyên.
                   Nhàn thì hãy cứ nhàn liền,
                   Sao còn thơ thẩn huyên thuyên với người !
                                                         杜紹德
                                                     Đỗ Chiêu Đức                                         
                                                
10. Bài thơ BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN :

步明人思明府公差員   BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN
鶯聲啼趂馬聲驕,      Oanh thanh đề sấn mã thanh kiêu,
快著行鞭春色饒。      Khoái trước hành tiên xuân sắc nhiêu.
况値北南無事日,      Huống trực bắc nam vô sự nhật,
一天明月共良霄。      Nhất thiên minh nguyệt cộng lương tiêu.
              阮秉謙                                       Nguyễn Bỉnh Khiêm
* Chú Thích :
    - BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN 步明人思明府公差員 : Tản bộ với viên Công sai người Minh ở phủ Tư Minh.
    - Sấn 趂 : Một hình thức khác của chữ SẤN 趁, có nghĩa Nhân lúc, nhân dịp, thừa cơ, thừa lúc...
    - Nhiêu 饒 : là Nhiều, đầy đủ, phì nhiêu.
    - Trực 値 : là Đúng dịp, gặp dịp. Một âm nữa là TRỊ 値 là Đáng giá, Trị giá.
    - Lương Tiêu 良霄 : là Đêm an lành, đêm đẹp đẽ.

* Nghĩa Bài Thơ :
                   Tản Bộ Với Viên Công Sai Người Minh Ở Phủ Tư Minh. 
        Tiếng chim oanh hót cũng vừa đúng lúc tiếng ngựa đang hí vang vang, trong tiếng roi ngựa vun vút lúc sắc xuân đang tràn ngập khắp nơi. Cũng vừa đúng lúc bắc nam gì đều thái bình vô sự, giữa một đêm an lành cũng tràn ngập ánh trăng sáng khắp cả bầu trời.
        Qủa là một cảnh đẹp trong mùa xuân giữa lúc thái bình thịnh thế, làm cho ta nhớ đến câu tả cảnh đẹp của đêm xuân trong Thiên Gia Thi của Tô Đông Pha đời Tống là :
                    Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim.    春宵一刻值千金. 
    Có nghĩa : Đêm xuân một khắc giá đáng ngàn vàng.(Chỉ đêm xuân khí trời êm ả, mát mẻ đẹp đẽ vô cùng. Sau nầy được người ta trích câu nói nầy để chỉ một ý khác với ý của tác giả lúc ban đầu).

* Diễn Nôm :
                   BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN
 Tiếng oanh lẫn tiếng ngựa rền vang,
                     Roi vút ngựa phi xuân ngập tràn.
                     Huống lúc Bắc Nam đều vô sự,
                     Một trời trăng sáng đáng ngàn vàng !
      Lục bát :
                     Tiếng oanh hót, tiếng ngựa vang,
                     Tiếng roi vùn vụt xuân tràn khắp nơi.
                     Bắc Nam phải buổi thảnh thơi,
                     Một đêm trăng đẹp, một trời sáng trăng.


         Hẹn bài dịch tới :  
                                 Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM (kỳ Tam)
                                                                                                 杜紹德
                                                                                                Đỗ Chiêu Đức       
🌸🌸🌸🌸

5 thg 9, 2020

Góc Việt Thi : Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM (kỳ Tứ)

 Góc Việt Thi :               

                            Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM
                                                    Kỳ Tứ
16. Bài thơ ƯU ĐÀM HOA :

     優曇花                         ƯU ĐÀM HOA
碧水池邊長綠陰,    Bích thủy trì biên trưởng lục âm,
幽林花好趁禪林。    U lâm hoa hảo sấn thiền lâm.
開時不要爭春色,    Khai thời bất yếu tranh xuân sắc,
只要如如見佛心。    Chỉ yếu như như kiến Phật tâm !

* Chú Thích :
    - ƯU ĐÀM HOA 優曇花 : Là một loại hoa qúy của nhà Phật, có tên khoa học là Epiphyllum oxypetalum, Ưu Đàm là gọi tắt của ƯU ĐÀM BÁT HOA 優曇缽華 do phiên âm từ tiếng Phạn là udumbara trong Pháp Hoa Kinh mà ra. Tương truyền ba ngàn năm mới nở một lần. Khi nở thì Kim Luân xuất thế, chân Phật ra đời. Theo thành ngữ Đàm Hoa Nhất Hiện 曇花一現 thì là một loại Quỳnh Hoa, chỉ nở trong đêm phút chốc rồi tàn.
 - U Lâm 幽林 : là Rừng thâm u tĩnh lặng.
    - Thiền Lâm 禪林 : là Rừng Thiền.
    - Như Như 如如 : Từ nhà Phật, chỉ chân như luôn tồn tại vĩnh hằng. Chỉ chư pháp đều bình đẵng theo pháp tính của nhà Phật. NHƯ NHƯ cũng có nghĩa là Như Lai, Như Thị.

* Nghĩa Bài Thơ :
                        HOA ƯU ĐÀM
        Bên ao nước xanh biếc mọc lên một bóng hoa cũng xanh biếc. Bên rừng vắng thâm u hoa đẹp cũng nở nương vào rừng thiền. Khi nở hoa cũng không phải để tranh xuân sắc với các loại hoa khác, mà chỉ muốn soi rọi pháp tính chân như của đức Như Lai vĩng hằng mà thôi !

        Bài thơ ẩn chứa ý thiền, nên không tiện lạm bàn, chỉ tùy ngộ duyên của người đọc tự mình cảm nhận mà thôi.

* Diễn Nôm :
                        ƯU ĐÀM HOA

                  Inline image

                 Bên ao nước biếc lá xanh om,
                 Rừng vắng hoa nương nở cửa thiền.
                 Không để cạnh tranh xuân sắc thắm,
                 Chỉ thay lòng Phật kết thiền duyên.
     Lục bát :
                 Bên ao nước biếc lá xanh,
                 Rừng thiền nương bóng hoa lành nở ra.
                 Chẳng tranh xuân sắc ngàn hoa,
                 Chân như Phật tánh là hoa vĩnh hằng.
                                                 杜紹德
                                              Đỗ Chiêu Đức
17. Bài thơ VŨ :

          雨                                        VŨ
陰陽和合運玄機,    Âm dương hòa hợp vận huyền cơ,
解作甘霖喜及時。    Giải tác cam lâm hỉ cập thời.
沛自九天恩既渥,    Bái tự cửu thiên ân ký ốc,
潤沾次土物咸宜。    Nhuận triêm thứ thổ vật hàm nghi.
民蘇霓望王師至,    Dân tô nghê vọng vương sư chí,
士吸風成聖教施。    Sĩ hấp phong thành thánh giáo thi.
雨順豐登金上瑞,    Vũ thuận phong đăng kim thượng thụy,
太平又一此休期。    Thái bình hựu nhất thử hưu kỳ.
                   阮秉謙                          Nguyễn Bĩnh Khiêm

* Chú Thích :
    - Âm Dương Hòa Hợp 陰陽和合 : Chỉ trời đất thích ứng hòa vào nhau.
    - Huyền Cơ 玄機 : Bộ máy huyền diệu. Ở đây chỉ sự vận hành của trời đất.
    - Cam Lâm 甘霖 : LÂM 霖 nầy có bộ VŨ ở trên, có nghĩa là Mưa dầm. Cam Lâm chỉ mưa rào trong lúc trời hạn hán.
    - Cập Thời 及時 : là Đúng lúc, nên CẬP THỜI VŨ 及時雨 là Mưa đúng lúc; đây cũng là ngoại hiệu của Tống Giang, thủ lãnh của 108 Anh hùng Lương Sơn Bạc, vì khi đang làm chức Áp Ti, Tống Giang thường hay cứu giúp những anh hùng hảo hán rất đúng lúc khi họ đến bước đường cùng hay gặp hoạn nạn nửa chừng.
    - Bái 沛 : là Bái Nhiên Hạ Vũ  沛然下雨 là Mưa sầm sập đổ xuống.
    - Nhuận Triêm 潤沾 : là Thấm nhuần.
    - Tô Nghê 蘇霓 : TÔ là Thức tỉnh; NGHÊ là Cầu vồng, chỉ mưa; nên TÔ NGHÊ là thức tỉnh sau cơn mưa.
    - Vương Sư 王師 : Lực lượng chính quy, quân chính thống của triều đình.
    - Phong Thành 風成 : Phong hóa được hình thành.
    - Phong Đăng 豐登 : là Lúa thóc được mùa.
    - Thụy 瑞 : Còn đọc là THOẠI : là Điềm lành.
    - Hưu Kỳ 休期 : là Thời kỳ tốt đẹp.

* Nghĩa Bài Thơ :
                                 MƯA
       Âm dương trời đất hòa vào nhau như một chiếc máy huyền diệu đang vận hành, giải tỏa cho ra một trận mưa rào thật đúng lúc với thời vụ canh tác. Cơn mưa sầm sập từ chín từng trời đổ xuống chan hòa khắp cả, thấm nhuần mặt đất và vạn vật được hài hòa. Dân chúng như thức tỉnh sau cơn mưa chờ vương sư đến, kẻ sĩ cũng đã thấm nhuần và hình thành phong hóa của thánh nhân. Mưa thuận gió hòa nên được mùa là nhờ đức lành của nhà vua (Kim Thượng), và thời kỳ tốt đẹp lại được mở ra trong cảnh thái bình.

* Diễn Nôm :
                                         VŨ
  Âm dương hòa hợp máy huyền cơ,
                      Mưa ngọt tạo nên thật kịp giờ.
                      Sầm sập chín từng cây cỏ ướt,
                      Thấm nhuần mặt đất vật người mơ.
                      Dân choàng tỉnh đợi vương sư tới,
                      Sĩ kịp hình thành phong hóa xưa.
                      Mưa thuận được mùa nhờ thánh đức,
                      Thái bình lại mở vận âu ca !
       Lục bát :
                      Âm dương hòa hợp máy trời, 
                      Tạo cơn mưa ngọt kịp thời hạn khô.
                      Chín từng sầm sập tuôn mưa,
                      Thấm nhuần mặt đất cho vừa cỏ cây.
                      Vương sư dân đợi về đây,
                      Hình thành phong hóa vui vầy tương thân.
                      Được mùa nhờ đức thánh ân,
                      Thái bình thịnh trị xa gần hân hoan ! 
                                                              杜紹德
                                                         Đỗ Chiêu Đức 

18. Bài thơ VẤN NGƯ GIẢ :

      問漁者                        VẤN NGƯ GIẢ
湖海扁舟漁者誰,     Hồ hải thiên chu ngư giả thùy ?
生涯一笠一蓑衣。     Sinh nhai nhất lạp nhất thoa y.
水村沙近鴟為侶,     Thủy thôn sa cận si vi lữ,
江興秋高鱸正肥。     Giang hứng thu cao lư chính phì.
短笛清風閒處弄,     Đoản địch thanh phong nhàn xứ lộng,
孤帆明月醉中歸。     Cô phàm minh nguyệt túy trung quy.
桃源往事依然在,     Đào nguyên vãng sự y nhiên tại,
秦晉興亡是卻非。     Tần Tấn hưng vong thị khước phi !
                  阮秉謙                                 Nguyễn Bĩnh Khiêm

* Chú Thích :
    - Ngư Giả 漁者 : là Người câu cá, người đánh bắt cá.
    - Thiên Chu 扁舟 : chữ 扁 đọc là BIỂN thì có nghĩa lã Dẹp; đọc là THIÊN thì có nghĩa là Nhỏ. Nên THIÊN CHU là chiếc thuyền nhỏ, không phải Thuyền dẹp.
    - Lạp 笠 : Nón Lá; Thoa 蓑 : là Áo tơi, áo lá.
    - Si 鴟 : Chim cú mèo. Lữ 侶 : là Bầu bạn.
    - Lư 鱸 : còn đọc là LÔ, là cá vượt, cá chép. Thịt ăn rất ngon.
    - Địch 笛 : Cây sáo; Lộng 弄 là Chơi, chọc. LỘNG ĐỊCH 弄笛 là Thổi sáo.
    - Đào Nguyên 桃源 : là Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Uyên Minh đời Tấn, kể lại chuyện của người giăng câu đi lạc vào xóm Đào Nguyên, nơi dân chúng sống an lành như cỏi thần tiên.
    - Thị Khước Phi 是卻非 : Phải mà trái, đúng mà sai.

* Nghĩa Bài Thơ :
                                                    Hỏi Người Câu Cá 
       Người đánh bắt cá trên sông hồ với một con thuyền nhỏ kia là ai, mà chỉ thấy sinh nhai với một chiếc nón lá và một manh áo tơi. Xóm ven sông gần bãi cát nên chỉ thấy làm bạn với diều hâu cú mèo, mùa thu nước thu dâng cao chính là lúc các loài cá vượt cá chép đang mập mạp ngon lành. Thỉnh thoảng đưa ngang tiếng sáo theo làn gió mát nhàn nhã, hoặc trong say thả chiếc buồm con theo vầng trăng sáng mà về. Chuyện cũ về Đào Nguyên như vẫn còn phảng phất đâu đây và chuyện hưng vong của nước Tần nước Tấn nghe như phải mà trái, như đúng mà lại sai !
       Nguyễn Bỉnh Khiêm tự ví mình như ông lão đánh cá, bạn cùng chim chóc cá tôm, khi nhàn nhã thì thổi một khúc sáo theo gió sông, khi hứng thì uống say rồi thả thuyền theo trăng sáng mà về. An nhiên tự tại như cuộc sống của dân chúng ở Đào Nguyên mà không màng đến thế sự thị phi đúng sai phải trái nữa !  

* Diễn Nôm :
                         VẤN NGƯ GIẢ
Thuyền câu đánh cá ấy là ai ? 
                    Nón lá áo tơi với lưới chài.
                    Bến nước hải âu cùng hủ hỉ,
                    Thu cao cá vượt nhậu lai rai.
                    Khi nhàn thổi sáo sông theo gió,
                    Lúc xỉn mặc thuyền trăng khứ lai.
                    Chuyện cũ Đào Nguyên như hiển hiện,
                    Mặc Tần mặc Tấn đúng mà sai ! 
       Lục Bát :
                    Ai người đánh cá sông hồ ?
                    Áo tơi nón lá là đồ sinh nhai.
                    Chim âu bầu bạn hôm mai,
                    Thu cao bến cát nhiều loài cá tôm.
                    Gió đưa khúc sáo chiều hôm,
                    Khi say trăng sáng thuyền con đưa về.
                    Đào Nguyên chuyện cũ bề bề,
                    Hưng vong Tần Tấn đúng hề...mà sai !
                                                                           杜紹德
                                                                       Đỗ Chiêu Đức 

19. Bài thơ THỦY HÀNH PHÓ DOANH CẢM TÁC :
 
 水行赴營感作       THỦY HÀNH PHÓ DOANH CẢM TÁC

祇期誓復舊山河,     Chỉ kỳ thệ phục cựu sơn hà,
慷慨登舟發浩歌。     Khảng khái đăng chu phát hạo ca.
棹擺水紋推白雪,     Trạo bãi thủy văn đôi bạch tuyết,
帆移月影弄寒波。     Phàm di nguyệt ảnh lộng hàn ba.
孤忠敦越乾坤老,     Cô trung đối việt càn khôn lão,
四顧微茫草樹多。     Tứ cố vi mang thảo thụ đa.
記取賊奴平定後,     Ký thủ tặc nô bình định hậu,
重尋津館侶魚蝦。     Trùng tầm tân quán lữ ngư hà.
                   阮秉謙                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chú Thích :
    - PHÓ 赴 : là Đi đến. PHÓ DOANH 赴營 là đi đến doanh trại.
    - Chỉ Kỳ 祇期 : là Chỉ kỳ vọng rằng. Chỉ mong mõi rằng.
    - Thệ Phục 誓復 : là Thề sẽ khôi phục lại.
    - Hạo Ca 浩歌 : là Lời ca hào hùng.
    - Trạo Bãi Thủy Văn 棹擺水紋 : là Chèo đùa sóng nước.
    - Phàm Di Nguyệt Ảnh 帆移月影 : là Cánh buồm làm ánh trăng lay động.
    - Đối Việt 敦越 : là Rất dãi dầu vất vả.
    - Vi Mang 微茫 : là Mờ mịt, mông lung.
    - Tặc Nô 賊奴 : Giặc giã thổ phỉ hèn hạ.
    - Trùng Tầm Tân Quán 重尋津館 : là Tìm lại căn nhà ở ven sông.
    - Lữ Ngư Hà 侶魚蝦 : là Làm bạn với Cá Tôm.

* Nghĩa Bài Thơ :
                     Cảm Tác Khi Đi Đường Thủy Đến Doanh Trại
       Lòng chỉ kỳ vọng vào lời thề khôi phục lại núi sông ngày cũ, nên rất khảng khái mà bước lên thuyền cất cao lời ca đầy hào khí. Mái chèo quạt nước đẩy đi những mảng tuyết trắng trên sông, và những cánh buồm di chuyển làm lay động cả bóng trăng trên sóng nước lạnh căm. Lòng trung thành miệt mài theo năm tháng khiến cho trời đất cũng như già đi. Nhìn quanh bốn bên mờ mịt thấy cây cỏ như nhiều thêm ra. Nhớ lấy là khi đã bình định được lũ giặc như thổ phỉ kia rồi, thì hãy tìm về với cái quán nhỏ ven sông mà làm bạn với cá tôm cho qua ngày đoạn tháng.  

* Diễn Nôm :
                    THỦY HÀNH PHÓ DOANH CẢM TÁC
Kỳ vọng phục hồi lại núi sông,
                   Lời ca khảng khái trước thuyền rồng.
                   Chèo khua đẩy tuyết thuyền nương sóng,
                   Buồm động rung trăng nước lạnh căm.
                   Mài miệt lòng trung trời đất thấu,
                   Mịt mờ tầm mắt cỏ cây thâm.
                   Sau ngày bình giặc nên ghi nhớ,
                   Quán cũ tìm về với bến sông.
      Lục bát :
                   Thề mong khôi phục sơn hà,
                   Lên thuyền khảng khái lời ca hào hùng.
                   Mái chèo quẫy tuyết trên sông,
                   Cánh buồm lay động trăng rung sóng vờn.
                   Lòng trung mài miệt càn khôn,
                   Mịt mờ bốn phía xanh rờn cỏ cây.
                   Nhớ sau bình định giặc nầy,
                   Trở về bến nước vui vầy cá tôm.
                                             Đỗ chiêu Đức
                                                杜紹德
20. Bài thơ XUÂN HÀN :

   春寒                      XUÂN HÀN
十二韶光春一團,      Thập nhị thiều quang xuân nhất đoàn,       
一天料峭送餘寒.      Nhất thiên liệu tiễu tống dư hàn.
輕陰借雨侵花易,      Khinh âm tá vũ xâm hoa dị,
殘雪因風墜柳難.      Tàn tuyết nhân phong trụy liễu nan.
繡闥佳人低玉帳,      Tú thát giai nhân đê ngọc trướng,
香街醉客促金鞍.      Hương giai túy khách xúc kim an.
旋乾自有神功在,      Toàn kiền tự hữu thần công tại,   
已播陽和滿際蟠.      Dĩ bá dương hoà mãn tế bàn.
              阮秉謙                       Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chú Thích :
    - XUÂN HÀN 春寒 : Cái lạnh của buổi đầu xuân.
    - Thiều Quang 韶光 : là Cái khoảng thời gian đẹp đẽ.
    - Liệu Tiễu 料峭 : là LIỆU TIỄU XUÂN HÀN 料峭春寒 là thành ngữ dùng để hình dung cái lạnh của buổi đầu xuân.
    - Khinh Âm Tá Vũ 輕陰借雨 : là Trời âm u nhẹ trong cơn mưa xuân.
    - Tàn Tuyết Nhân Phong 殘雪因風 : là Gió cuốn những tàn dư của băng tuyết còn lại.
    - Tú Thát 繡闥 : là Trong phòng thêu, tức là Khuê phòng của các cô gái.
    - Hương Giai 香街 : là Đường phố thơm, ý chỉ những đường phố có nhiều người đẹp ở hay đường phố có nhiều kỹ viện.
    - Xúc 促 : là Thúc mạnh vào. KIM AN 金鞍 : là Yên cương ngựa mạ vàng.
    - Toàn Kiền 旋乾 : là Tuyền Càn Chuyển Khôn 旋乾轉坤 là thành ngữ chỉ xoay chuyển từ Càn qua Khôn, từ Dương sang Âm và ngược lại; Nói chung là chỉ sự xoay vần của trời đất, vạn vật, mùa màng... hết đông rồi đến xuân...
    - Bá 播 : là Gieo hạt giống , là Truyền Bá, là Rải khắp.
    - Dương Hoà 陽和 : là Khí dương xuân, chỉ khí trời ấm áp của mùa xuân.
    - Tế Bàn 際蟠 : là Trời Đất, do sách Trang Tử có câu: "Thượng tế vu thiên, hạ bàn vu địa 上際于天,下蟠于地", nghĩa là: Trên rộng đến trời, dưới khắp cả đất. Sau người ta dùng gọn bốn từ "Tế thiên bàn địa 際天蟠地" như là một thành ngữ. Ở đây, tác giả lại lược đi hai từ, chỉ còn hai từ "tế bàn 際蟠" nhưng cần hiểu như nghĩa của cả câu "tế thiên bàn địa".

* Nghĩa Bài Thơ :
                         CÁI LẠNH CỦA BUỔI ĐẦU XUÂN
       Cái khoảng thời gian đẹp đẽ của 12 ngày đầu năm đã mở màn cho một vừng xuân sắc, Từng ngày một ta sẽ lần lượt đưa tiễn cái lạnh của buổi đầu xuân. Trời râm nhẹ với mưa xuân phơi phới sẽ ngấm vào hoa cỏ một cách dễ dàng, những làn gió đầu xuân còn rất lạnh khó mà thổi được những băng tuyết còn sót lại cho rơi xuống gốc liễu. Trong khuê phòng các giai nhân còn buông thấp rèm ngọc xuống vì trời còn lạnh, trên đường phố nơi có nhiều người đẹp các khách say cũng thúc vào yên cương mạ vàng để đi mau qua. Trời đất âm dương đã xoay chuyển một cách thần kỳ từ đông sang xuân, vá ánh dương xuân đã được gieo đầy khắp cả trên trời dưới đất.  

* Diễn Nôm :
                         XUÂN HÀN 
 Mười hai xuân sắc đã vầy đoàn,
                 Cái lạnh lui dần tiết mới sang.
                 Phơi phới mưa xuân hoa ướm nhụy,
                 Rao rao gió nhẹ tuyết dần tan.
                 Khuê phòng người đẹp buông rèm ngọc,
                 Trên phố khách say thúc ngựa vàng.
                 Chuyển đổi thần công trời lẫn đất,
                 Ánh xuân chan chứa khắp nhân gian.
      Lục bát :
                 Mười hai ngày tiết xuân hàn,
                 Mỗi ngày cái lạnh lại càng bớt đi.
                 Mưa xuân dễ thấm hoa chi,
                 Gió xuân lay liễu tuyết thì chưa tan.
                 Phòng khuê người đẹp buông màn,
                 Trên đường khách hãy yên vàng thúc mau.
                 Càn khôn huyền diệu làm sao,
                 Ánh dương xuân đã phủ mau đất trời !
                  
                                                                           杜紹德
                                                                       Đỗ Chiêu Đức    
🌸🌸🌸🌸

 




24 thg 7, 2020

Góc Việt Thi : Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM (kỳ nhất)

 NGUYỄN BỈNH KHIÊM 阮秉謙 (1491-1585) huý là Văn Đạt 文達, tự Hanh Phủ 亨甫, hiệu Bạch Vân cư sĩ 白雲居士, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Xuất thân từ một gia đình trí thức Nho học, cha là Nguyễn Văn Định có văn tài. Mẹ là Nhữ Thị Thục, con thượng thư Nhữ Văn Lan, thông tuệ, giỏi văn chương, am tường lý số. Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh, hiếu học, từ nhỏ đã được mẹ đem thơ quốc âm và kinh truyện ra dạy. Lớn lên, vào Thanh Hoá, theo học bảng nhãn Lương Đắc Bằng, được thầy truyền thụ môn học Dịch lý và sách Thái Ất Thần Kinh. Tuy học giỏi, nhưng lớn lên vào lúc xã hội loạn lạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn chí, đợi thời, không chịu ra thi. Mãi sau này, Mạc thay Lê, tình hình xã hội ổn định, ông mới ra ứng thí, đậu Trạng Nguyên (1535), rồi làm quan với nhà Mạc, bấy giờ ông đã 45 tuổi. Làm quan ở triều đình được 8 năm (1535-1542), thấy gian thần hoành hành, bè phái, triều chính ngày một xấu thêm, ông dâng sớ xin chém 18 lộng thần, không được chấp nhận, bèn thác cớ xin trí sĩ. Về sau, vì sự ràng buộc của nhà Mạc với các sĩ phu có uy vọng, vì muốn tác động đến thời cuộc, ông trở lại tham gia triều chính với cương vị như một cố vấn. Ông từng theo quân Mạc, đi chinh phạt Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên. Ông cũng từng bày mưu tính kế giúp Mạc bảo toàn vương nghiệp. Vì thế, hoạn lộ của ông từ Lại bộ Tả thị lang, Đông các đại học sĩ, trải thăng đến Lại bộ Thượng thư, Thái phó, Trình Tuyền hầu, rồi lại gia phong Trình quốc công nên đời thường gọi là Trạng Trình. Mãi đến ngoài 70 tuổi, ông mới thực sự treo xe, treo mũ từ quan.
          Thời gian sống ở quê nhà, bên bờ sông Tuyết Hàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng am Bạch Vân, lấy đạo hiệu là Bạch Vân cư sĩ mở trường dạy học, rồi lập quán, xây cầu, dựng chùa, mở chợ, trồng cây... Ông có nhiều học trò nổi tiếng, như Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ v.v... người thờ Mạc, người theo Lê, người suốt đời ẩn dật. Ông được người đương thời tôn kính như bậc thầy. Ngoài triều Mạc, họ Trịnh, họ Nguyễn đều có sai sứ đến hỏi ý kiến ông về những việc hệ trọng. Tháng mười một năm Ất Dậu (1585) ông qua đời, hưởng thọ 94 tuổi, học trò truy tôn là Tuyết giang phu tử 雪江夫子.
          Tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có Bạch Vân Quốc Ngữ Thi Tập 白雲國語詩集, Bạch Vân Am Thi Tập 白雲庵詩集 và một số bài văn chữ Hán. Các tập sấm ký như Trình Quốc Công Sấm Ký, Trình Tiên Sinh Quốc Ngữ, v.v... tương truyền là của ông nhưng về mặt văn bản chưa đủ độ tin cậy.

         Sau đây là một số bài thơ chữ Hán tiêu biểu của ông trong Bạch Vân Am Thi Tập 白雲庵詩集 :


1. Bài thơ CẢM HỨNG :

   - Tương truyền bài thơ này làm ra để tiên đoán việc nhà Lê sẽ trung hưng và nói đến việc họ Trịnh sẽ chuyên quyền lấn áp vua Lê. Những việc của ông tiên đoán đều không sai mảy may.

           感興                           CẢM HỨNG
  
泰和宇宙不虞周,     Thái hòa vũ trụ bất Ngu Chu,
互戰教爭笑兩讎。     Hỗ chiến giáo tranh tiếu lưỡng thù.
川血山骸隨處有,     Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu,
淵魚叢雀為誰驅。     Uyên ngư tùng tước vị thùy khu.
重興已卜渡江馬,     Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã,
後患應防入室貙,     Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu,
世事到頭休說著,     Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước,
醉吟澤畔任閒遊。     Túy ngâm trạch bạn nhậm nhàn du.
                 阮秉謙                                  Nguyễn Bỉnh Khiêm
* Chú Thích :
    - Thái Hòa 泰和 : Chỉ cảnh sống thật hòa bình không có chiến tranh.
    - Ngu Chu 虞周 : NGU là Ngu Thuấn; CHU là nhà Tây Chu, Hai triều đại thái bình thịnh thế của Trung Hoa cổ đại.
    - Hỗ Chiến 互戰 : HỖ là Hỗ Tương, là Lẫn nhau, nên Hỗ Chiến là Đánh đấm lẫn nhau.
    - Xuyên Huyết Sơn Hài 川血山骸 : XUYÊN là con sông; HÀI là Thi hài; nên XUYÊN HUYẾT là con sông máu; SƠN HÀI là Thi hài như núi. Ta thường nói : Thây người chất thành núi và máu chảy thành sông.
    - Uyên Ngư Tùng Tước 淵魚叢雀 : UYÊN là Vực sâu; Tùng là Bụi cây; nên UYÊN NGƯ TÙNG TƯỚC là Cá trong vực sâu và chim sẻ trong bụi rậm.
    - KHU 貙 : là người hóa ra cọp. Ở đây mượn ý để chỉ "Rước kẻ dữ vào nhà."
    - Trạch Bạn 澤畔 : là Bên đầm nước (Hồ nước nhỏ).

* Nghĩa Bài Thơ :
                                              CẢM HỨNG
             Trời đất trong cảnh thái bình thịnh vượng, nhưng sao không giống như thuở đời Chu và Ngu Thuấn. Lại bày trò đánh nhau như hai kẻ thù để làm trò cười cho thiên hạ. Đến nỗi nơi nào cũng có cảnh thây chất thành núi và máu chảy tựa sông cả. Làm cho cá trong vực sâu, chim sẻ trong bụi rậm như bị ai đó đuổi bắt mà không thể sống yên ổn được. Muốn trùng hưng lại triều chính thì phải xua ngựa qua sông, nhưng hậu hoạn phải đề phòng là coi chừng sẽ dẫn cọp vào nhà. Thôi thì chuyện đời khó có thể mà nói trước được, hãy cứ uống rượu ngâm thơ và nhàn du bên bờ hồ cho thỏa thích mà thôi !

* Diễn Nôm :
                               CẢM HỨNG
Thái bình sao chẳng giống Ngu Chu,
                    Đánh đấm lẫn nhau tựa kẻ thù.
                    Thây núi máu sông đầy rẫy khắp,
                    Chim lùm cá vực khó an cư.
                    Độ mã qua sông trùng hưng lại,
                    Dẫn cọp vào nhà hậu hoạn hư.
                    Thế sự đổi thay ai biết được,
                    Bên hồ thơ rượu cứ nhàn du !
    Lục bát :
                   Thanh bình chẳng giống Ngu Chu,
                   Đánh nhau dường tựa kẻ thù bao năm.
                   Thây như núi, máu thành sông,
                   Cá sông chim bụi cũng không yên nào.
                   Trùng hưng ngựa vượt chiến hào,
                   Hậu hoạn dẫn hổ chẳng sao phòng hờ.
                   Chuyện đời khó nói dường mơ,
                   Câu thơ bầu rượu vẩn vơ bên hồ !
                                                               Đỗ Chiêu Đức

2. Bài thơ CỰ NGAO ĐỚI SƠN :

   巨鰲戴山               CỰ NGAO ĐỚI SƠN
碧浸仙山徹底清,    Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh,
巨鰲戴得玉壺生。    Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh.
到頭石有補天力,    Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực,
著腳潮無卷地聲。    Trước cước triều vô quyển địa thanh.
萬里東溟歸把握,    Vạn lý đông minh quy bả ác,
億年南極奠隆平。    Ức niên nam cực điện long bình.
我今欲展扶危力,    Ngã kim dục triển phù nguy lực,
挽卻關河舊帝京。    Vãn khước quan hà cưu đế kinh !
                 阮秉謙                                Nguyễn Bỉnh Khiêm

* Chú Thích :
    - CỰ NGAO ĐỚI SƠN 巨鰲戴山 : là Con ngao lớn đội núi. NGAO là một loại Ba ba biển lớn. Theo chương Thang Vấn trong sách Liệt Tử chép rằng ở biển Bột Hải có năm ngọn núi là : “Đại Dư” 岱輿, “Viên Kiệu” 員嶠, “Phương Hồ” 方壺, “Doanh Châu” 瀛洲, và “Bồng Lai” 蓬萊. , chân núi không dính vào đâu cả, núi cứ theo nước thuỷ triều mà lên và xuống lênh đênh trên mặt biển. Thượng đế sợ các ngọn núi ấy trôi về Tây cực bèn sai 5 con ngao thần rất lớn lặn xuống lấy đầu đội lên, nên từ đó năm ngọn núi ấy mới đứng vững ở một chỗ.
      CỰ NGAO ĐỚI SƠN: ý của Nguyễn Bỉnh Khiêm là muốn làm việc lớn để gánh vác giang sơn như con ngao lớn đội núi đá cho vững để khỏi trôi nổi trên biển vậy.
    - Triệt Để 徹底 " là Tới đáy, nên Triệt Để Thanh là Trong thấy đáy.
    - Ngọc Hồ 玉壺 : Ở đây không có nghĩa là cái bình bằng ngọc, mà mượn để chỉ cái Đầm Nước nơi ẩn cư.
    - Thạch Hữu Bổ Thiên Lực 石有補天力 : là Đá có sức để vá trời. Theo Tam Hoàng Bản Kỷ trong Sử Ký của Tư Mã Thiên : Thời Thượng cổ, hai vị thần nước là Cung Công và thần lửa là Chúc Dung đánh nhau. Đánh mãi không thắng nổi thần Chúc Dung cho nên thần Cung Công nổi giận, lấy đầu húc núi Bất Chu, làm đổ núi ấy khiến cho cột chống trời bị gãy. Nữ thần Nữ Oa, chặt bốn chân con ngao thần làm bốn cực chống cho trời khỏi sụt xuống. Rồi luyện đá ngũ sắc để vá trời.
    - Đông Minh 東溟 : chỉ biển Đông Hải.
    - Bả Ác 把握 : là Cái Nắm tay. Chuyện cầm chắc trong tay, là chuyên trong khả năng có thể làm được. 
    - Nam Cực 南極 : chỉ vùng đất cực nam của Trung Hoa là nước Việt Nam ta đó. Ngày xưa đâu có biết có vùng Nam Cực của trái đất bây giờ đâu.

* Nghĩa Bài Thơ :
                         CỰ NGAO ĐỚI SƠN
        Núi tiên ngâm mình trong biển nước biếc trong đến tận đáy. Ta như con ngao lớn có sức gánh vác được sinh ra từ đầm nước nơi đây. Trên đầu có thể làm đá để vá trời, còn dưới chân thì sóng cũng ổn định không có tiếng cuốn đất. Biển đông vạn dặm có thể quy vào trong lòng bàn tay, và trong ức triệu năm có thể ổn định được vùng đất cực nam nầy. Nay ta muốn thi triển cái sức phò nguy cứu khổn của mình, để cứu vãn lấy sơn hà và đế kinh cũ.

        Qủa là có chí lớn, muốn phò vua giúp nước, gánh vác giang san để tỏ rõ tài thao lược. Đọc bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài THUẬT HOÀI của danh tướng Đặng Dung đời Trần với hai câu :

                   致主有懷扶地軸,    Trí chúa hữu hoài phù địa trục,
                   洗兵無路挽天河.    Tẩy binh vô lộ vãn Thiên hà.
     Có nghĩa :
                           Giúp Chúa những toan xoay trục đất,
                           Giáp binh khó nổi kéo sông trời.

          Cả hai đều ôm mộng lớn như nhau, nhưng đều chẳng gặp thời, chẳng thi thố gì được cho cái hoài bão to lớn của mình cả !

* Diễn Nôm :
                        CỰ NGAO ĐỚI SƠN
                  Núi tiên biển biếc nước trong xanh,
                 Ngao lớn sinh từ đầm nước thanh.
                 Đầu cất vá trời thay đá luyện,
                 Chân chùn sóng nước đất yên lành.
                 Biển Đông ngàn dặm trong tầm nắm,
                 Nam Cực muôn năm sẽ thái bình.
                 Ta muốn phù nguy thi triển sức,
                 Phục hồi sông núi vững kinh thành !
    Lục bát :
                 Núi tiên nước biếc biển trong,
                 Sinh từ đầm nước ngao mong đổi đời.
                 Cất đầu thay đá vá trời,
                 Xoạt chân sóng vổ ngàn khơi đất lành.
                 Biển đông tay nắm rành rành,
                 Nam cực vùng đất yên lành muôn năm.
                 Phò nguy thử sức anh hùng,
                 Vãn hồi sông núi góp công kinh thành.
                                                           Đỗ Chiêu Đức
                     
3. Bài thơ ĐÔNG CÚC :

    冬菊                    ĐÔNG CÚC

一種延年館裡栽,    Nhất chủng diên niên quán lý tài,
晚香獨向雪中開。    Vãn hương độc hướng tuyết trung khai.
莫笑爭芳時太晚,    Mạc tiếu tranh phương thời thái vãn,
先春肯讓一枝梅。    Tiên xuân khẳng nhượng nhất chi mai !
                  阮秉謙                                       Nguyễn Bỉnh Khiêm
* Chú Thích :
    - Đông Cúc 冬菊 : Cúc mùa đông; thay vì THU CÚC 秋菊 là cúc nở vào mùa thu, thì bài nầy là ĐÔNG CÚC có thể đây là hoa cúc nở muộn.
    - Diên Niên 延年 : là Kéo dài suốt cả năm.
    - Vãn Hương 晚香 : là Mùi hương muộn màng.
    - Mạc Tiếu 莫笑 : là Chớ cười, chớ nhạo.
    - Tranh Phương 爭芳 : là Tranh cái thơm cái đẹp. Đây là từ chỉ dành riêng cho Hoa và phái Nữ.
    - Khẳng Nhượng 肯讓 : là Chịu nhường, là Chi nhường, là "Chưa chắc đã chịu nhường".

* Nghĩa Bài Thơ :
                                     Cúc Mùa Đông
        Đây là loại hoa được trồng quanh năm trong thư quán; Mùi hương muộn màng chỉ nở ra khi tuyết bắt đầu rơi. Chớ có cười nhạo là sao tranh thơm tranh đẹp muộn màng thế. Vì trước khi mùa xuân đến chưa chắc ta đã chịu nhường cái thơm cái đẹp nầy cho hoa mai đâu !
     Tả hoa cúc, nhưng suốt bài thơ không có từ nào nhắc đến chữ CÚC cả !

     Hoa Cúc là loại hoa thanh nhã cao khiết chỉ nở vào mùa thu trong gió thu hiu hắt, nổi tiếng nhờ có thể ũ thành Cúc tửu, gọi là Hoàng Hoa Tửu và nhất là được danh sĩ Đào Tiềm đời Tấn trồng khi ở ẩn, với các câu thơ : Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến nam sơn 採菊東籬下,悠然見南山. Có nghĩa : "Hái cúc dưới giậu bờ đông, Xa xa ẩn hiện chập chùng Nam sơn". Cúc vốn chịu lạnh, nên hoa cúc nở kéo dài cho đến mùa đông, khi mai sớm đã bắt đầu khai nhụy. Và màu vàng của hoa cúc há dễ chiụ nhường cho màu vàng của hoa mai hay sao ?! 

* Diễn Nôm :
                                 ĐÔNG CÚC
                    Quanh năm trong quán được vun trồng,
                 Nở muộn hương nồng lúc tuyết đông.
                 Chớ nhạo muộn màng khoe sắc thắm,
                 Trước xuân chi chịu kém mai đông.
     Lục bát :
                 Vun trồng trong quán quanh năm,
                 Nở ra trong tuyết âm thầm tỏa hương.
                 Chớ cười nở muộn tranh phương,
                 Đầu xuân há đã chịu nhường hoa mai.                                              
                                                           Đỗ Chiêu Đức
4. Bài thơ HẠ CẢNH :

        夏景                                 HẠ CẢNH

日長賓館小窗明,     Nhật trường tân quán tiểu song minh,
風納荷香遠益清。     Phong nạp hà hương viễn ích thanh.
無限吟情誰會得?     Vô hạn ngâm tình thùy hội đắc ?
夕陽樓上晚蟬聲!     Tịch dương lâu thượng vãn thiền thanh !
                  阮秉謙                                          Nguyễn Bĩnh Khiêm

* Chú Thích :
    - Tân Quán 賓館 : TÂN là Khách. TÂN QUÁN là Quán dịch nơi tiếp đón các quan viên vãng lai khi thuyên chuyển hay công vụ.
    - Tiểu Song 小窗 : là Cái cửa sổ nhỏ.
    - Hà Hương 荷香 : HÀ là Hoa sen, nên Hà Hương là Hương thơm của hoa sen.
    - Thanh 清 : THANH có 3 chấm thủy 氵nên có nghĩa là Trong; nhưng ở đây chỉ muì hương của hoa sen, nên VIỄN ÍCH THANH 遠益清 có nghĩa là : Càng xa thì mùi hương sen càng thoang thoảng hơn.
    - Ngâm Tình 吟情 : là Cái tình cảm ngâm nga trong thi phú, tức là cái HỒN THƠ, cái NÊN THƠ của cảnh trí đó vậy.
    - Thiền Thanh 蟬聲 : là Tiếng Ve kêu.

* Nghĩa Bài Thơ :
                                 Cảnh Mùa Hè
        Ngày dài dằng dặc trong dịch quán tiếp tân xuyên qua cái cửa song sáng trưng nho nhỏ, Gió đưa mùi hương của hoa sen càng xa lại càng thoang thoảng hơn lên. Ai biết được cảnh trí lại càng nên thơ hơn khi đứng trên lầu cao nhìn nắng chiều nghiêng chiếu mà nghe tiếng ve ngâm tỉ tê trong buổi chiều tà nầy.

        Đọc bài thơ nầy của cụ Nguyễn Bĩnh Khiêm làm cho ta lại nhớ đến hai câu thơ trong bài Thu Từ 秋詞 của Lưu Vũ Tích đời Đường như sau :

                  晴空一鶴排雲上,    Tình không nhất hạc bài vân thượng,
                  便引詩情到碧霄。    Tiện dẫn THI TÌNH đáo bích tiêu.
  Có nghĩa :
                         Cánh hạc vút lên mây xanh ngắt,
                         HỒN THƠ theo vút tận trời cao.

        Cảnh trí quả thật nên thơ biết bao nhiêu !

* Diễn Nôm :
                               CẢNH HÈ
Dịch quán ngày dài song cửa sáng,
                 Hương sen nhẹ thoảng gió hiu hiu.
                 Nên thơ cảnh trí nào ai biết ?
                 Vẳng tiếng ve ngâm giữa nắng chiều !
    Lục bát :
                 Cửa song dịch quán ngày dài,
                 Hương sen theo gió thoảng bay ngoài đồng.
                 Nên thơ cảnh đẹp biết không ?
                 Nắng chiều nghiêng bóng ve ngâm vang lầu !                                                      
                                                                       Đỗ Chiêu Đức
5. Bài thơ KHUÊ TÌNH :

        閨情                               KHUÊ TÌNH
吟落西風陣陣吹,     Ngâm lạc tây phong trận trận xuy,
深閨兒女獨眠時。     Thâm khuê nhi nữ độc miên thì.
忽聞寒氣侵簾幕,     Hốt văn hàn khí xâm liên mạc,
始覺人情有別離。     Thủy giác nhân tình hữu biệt ly.
去夢不辭沙塞遠,     Khứ mộng bất từ sa tái viễn,
憂懷還動鼓鼙思。     Ưu hoài hoàn động cổ bề ti.
無端點滴階前雨,     Vô đoan điểm trích giai tiền vũ,
自有幽人語夜遲。     Tự hữu u nhân ngữ dạ trì.
                  阮秉謙                          Nguyễn Bỉnh Khiêm

* Chú Thích :
    - Khuê Tính 閨情 : là Tâm tình của kẻ ở chốn khuê phòng.
    - Tây Phong 西風 : Gió tây là gió của mùa thu, trời đã bắt đầy se lạnh.
    - Liêm Mạc 簾幕 : là Rèm màn che song cửa.
    - Sa Tái 沙塞 : là Vùng sa mạc ngoài biên ải xa xôi.
    - Ưu Hoài 憂懷 : là Nỗi lòng ưu tư lo lắng.
    - Cỗ Bề 鼓鼙 : là Tiếng trống trận.
    - Vô Đoan 無端 : như Vô tình, vô tâm, khi khổng khi không.
    - U Nhân 幽人 : là Con người cô đơn vắng vẻ !

* Nghĩa Bài Thơ :
                                                KHUÊ TÌNH
       Như tiếng ngâm thơ lạc theo từng trận gió tây hiu hắt, cũng là lúc cô gái trong chốn khuê phòng đang ngủ có một mình. Bất giác cô cảm nhận được cái hơi lạnh đang xâm nhập qua rèm sáo bên song cửa, và cô chợt hiểu ra cái ấm lạnh của tình người trong cơn ly biệt. Dõi theo hồn mộng không ngại vùng sa mạc biên ải xa xôi, mối ưu tư trong lòng còn vang như hồi trống trận. Mặc cho từng giọt từng giọt mưa rơi hờ hững trước thềm, như có người u uẩn nào đó đang thủ thỉ suốt đêm dài.

         Qủa là mối cảm tình da diết của người thiếu nữ đang xuân phải chịu cảnh phòng không chiếc bóng để nhớ thương về nơi quan ải xa xăm, nơi gió cát mịt mùng trong tiếng trống trận vang vang... trong đêm mưa dai dẳng bên thềm suốt đêm rả rít như kể lể nỗi niềm tâm sự.


* Diễn Nôm :
                             KHUÊ TÌNH
                   
                  Như tiếng ngâm theo trận gió tây, 
                  Cô miên nhi nữ suốt canh chầy.
                  Bỗng nghe màn sáo tràn hơi lạnh,
                  Mới biết chia ly thổn thức đầy.
                  Theo mộng chẳng nề quan ải cách,
                  Ngoài biên còn ngại trống quân rây.
                  Hững hờ rả rít cơn mưa tối,
                  Thủ thỉ canh trường dạ khó khuây !
   Lục bát :
                  Gió tây hiu hắt từng hồi,
                  Phòng khuê thiếu nữ bồi hồi cô miên.
                  Bỗng nghe hơi lạnh tràn hiên,
                  Mới hay ly biệt nên tình xót xa.
                  Mộng theo biên tái quan hà,
                  Ưu tư trống trận tù và thúc quân.
                  Bên thềm rả rít mưa nhuần,
                  Như than như vản thì thầm suốt đêm !
                                                                  杜紹德
                                                             Đỗ Chiêu Đức


            Mời xem tiếp Kỳ Nhị  !👀👀👀👀
       
🌸🌸🌸🌸+