Để hiểu bài viết này, bạn cần làm quen với những từ sau đây:
1-Số lượng máu tim bơm ra trong một phút. CO= Cardiac output. Trung bình CO=5.6 lít.
2-Số nhịp tim đập trong một phút. HR= Heart rate. Trung bình HR= 70 nhịp.
3-Lượng máu tim bơm ra mỗi nhịp. SV= Stroke Volume. Trung bình SV=80 mL.
Số lượng máu tim bơm ra trong một phút (CO) được tính bằng công thức CO=HRxSV.
Tim bắt đầu bị suy khi SV bắt đầu giảm. Để giữ CO không thay đổi khi SV
giảm, HR cần phải tăng. Thí dụ khi SV giảm còn 60 mL thì nhịp tim HR
phải tăng từ 70 lên 94 để giữ CO= 5.6L. Nhưng khi tim đập nhanh quá,
thời gian để máu từ trong phổi chảy về tim ngắn lại, kết quả là một phần
máu sẽ còn đọng lại trong phổi. Trường hợp này cũng giống như phổi có
nước. Người bịnh sẽ thở hào hển (shortness of breath) khi bắt đầu vận
động (tim đập nhanh). Do đó, thở hào hển là dấu hiệu dùng để biết tim
bạn bị suy.
Tiến trình tim bị suy đi qua 4 giai đoạn:
-giai đoạn 1: người bịnh không có bất kỳ dấu hiệu gì khi vận động .
-giai đoạn 2: người bịnh bắt đầu thở hào hển nếu vận động nhanh như chạy bộ, nhưng thở bình thường nếu đi bộ chậm.
-giai đoạn 3: người bịnh thở bình thường nếu nằm nghĩ, nhưng bắt đầu thở hào hển khi đi chừng 5 thước.
-giai đoạn 4: người bịnh thở hào hển dù nằm nghĩ trên giường.
Ngoài việc thở hào hển ra, những dấu hiệu sau đây cho biết tim đã bị suy:
- Chân bị phù ở mắc cá và bàn chân (do máu không trở về tim hết)
- Ho khan không có đàm, ho kinh niên (do máu đọng lại trong phổi)
- Khó ngũ, tim đập nhanh, bỏ nhịp hoặc đập loạn.
- Người lúc nào cũng uể oải, dễ bị xây xẩm (số lượng máu bơm lên đầu giảm)
Khi nền Y học còn thô sơ, muốn biết tim người bịnh bị suy hay không, ta
dắt họ leo cầu thang. Nếu họ leo 60 bậc (khoảng 4 tầng lầu) trong 1 phút
rưởi (90 giây) thì tim họ còn tốt. Trên 1 phút rưởi mà thở hào hển là
tim có vấn đề.
Bây giờ thì người ta dùng Cardiac Stress Test. Trong test này, bạn sẽ đi
bộ trên máy treadmill với vận tốc tăng từ từ để đo điện tâm đồ EKG, áp
suất máu và nhịp đập của tim. Nếu trong lúc Test, bạn bị nhói ngực
(angina), nhịp tim bị bỏ nhịp hoặc đập loạn, áp suất máu của bạn tăng
quá cao, mạch máu nuôi tim của bạn có thể đã bị nghẹt. Muốn biết nghẹt
bao nhiêu thì người ta sẽ làm CT scan của tim. Ngoài ra, người ta có thể
làm Echo heart scan để đo SV hoặc đo hiệu quả của tim.
Muốn ngừa suy tim, ta nên:
-tập thể dục mỗi ngày, ít nhất 15-30 phút
-nếu bạn hút thuốc, uống bia rượu, bạn nên cố bỏ ngay, càng sớm càng
tốt. Khói thuốc có chất làm mạch máu bị bóp nhỏ lại, áp suất máu tăng
cao. Ai không tin, hảy đo áp suất máu trước và sau khi hút một điếu
thuốc sẽ thấy chênh lệch có thể từ 10-20 mmHg tuỳ mạch máu của bạn đã bị
nghẹt nhiều hay ít.
-ăn ít chất béo, thịt mỡ. Đặc biệt ăn phở. Tôi đã làm thí nghiệm với khá
nhiều người. Tôi biểu họ đi ăn một tô phở, một tiếng đồng hồ sau, đến
phòng mạch tôi lấy máu thử coi lượng Triglycerides (chất béo)(TGL) được
bao nhiêu. Kết quả là lượng này thay đổi từ 900 đến 1000. TGL thường
dưới 150.
-nếu trọng lượng của bạn trên mức lý tưởng (1) bạn nên cố gắng xuống ký.
Vòng bụng càng to, xác suất chết bất đắc kỳ tử càng cao.
-chửa trị ngay từ lúc đầu những bịnh sau đây:
1-Áp huyết cao. Cố giữ SBP (2) áp suất dưới 140. Nếu bạn đang uống thuốc
hạ áp suất, bạn phải uống suốt đời chứ không phải uống 3-4 ngày rồi
ngưng. Càng lớn tuổi, áp suất càng cao, bạn phải đo áp suất của mình
thường. Nếu lên cao quá, đặc biệt vào buổi chiều, bạn phải đi Bác Sĩ để
người ta điều chỉnh độ thuốc.
2-Tiểu đường. Nên giữ độ đường trung bình HgbA1c dưới 6.5. Bớt ăn đồ
ngọt. Có những thứ bạn nghĩ nó không ngọt nhưng đường rất cao, đó là cơm
nếp, bia, rượu và mì gói. Nếu bạn bị tiểu đường, bạn nên tránh mấy thứ
này.
3-Mở cao. Cố giữ Cholesterol dưới 200. Nếu bạn phải uống thuốc để giữ mức Cholesterol dưới 200, bạn phải uống suốt đời.
Khi tập thể dục, bạn nên mang đồng hồ có thể đo được nhịp đập của tim,
hoặc mang pulse oxymeter tức là máy đo độ dưỡng khí trong máu. Máy này
thường cũng đo luôn nhịp đập của tim. Hiện nay, loại máy này có bán trên
Amazon khoảng từ 10-20 đô. Khi tim đập trên 150, nên tập chậm lại, cố
gửi nhịp đập của tim ở mức mà tuổi mình cho phép. Dùng công thức này để
tinh nhịp đập của tim: lấy 220-tuổi của mình. Thí dụ: 55 tuổi thì giử
nhịp tim dưới 165, người 70 tuổi thì nên giữ nhịp tim dưới 145 (tốt nhất
120-135). Công thức này chỉ trúng nếu bạn không bị bịnh tim. Những
người bị bịnh tim, đặc biệt bịnh Atrial Fibrillation AF, phải uống thuốc
cho tim đập chậm, không nên để tìm đập trên 110, dù bất cứ tuổi nào.
Có rất nhiều ngườ xỉu hoặc chết vì tập thể dục quá sức. Khi tim đập trên
160-170, mà nếu có những bịnh “nền”, thì rất dể dẫn đến nhồi máu cơ tim
(Heart Attack). Ngoài ra, lúc ta vận động, áp suất máu sẽ tăng, thường
từ 160-200, nhưng nếu tăng trên 200, rất dể bị đột quỵ. Tóm lại, ta
không nên chơi những môn thể thao đòi vận động cao như đánh tennis, chạy
bộ nếu có bịnh tim hoặc áp suất cao. Rất nhiều người chết vì quên uống
thuốc trước khi đi đánh tennis. Tôi có một bịnh nhân bị đột quỵ chỉ đi
bộ. Hỏi kỷ lại thì hôm đó anh quên uống thuốc áp suất cao, hạ mở, tiểu
đường. Cứ tưởng đi một chút về uống không sao. Kết cuộc anh bị đột quỵ,
ngồi xe lăn 3 năm thì mất. Điều quan trọng cần nhớ ở đây là nên uống
thuốc áp suất cao trước khi vận động.
Bác Sĩ ĐẶNG QUANG TÂM, MD
(1) CÁCH TÍNH TRỌNG LƯỢNG LÝ TƯỞNG
Có nhiều cách để tính trọng lượng lý tưởng. Cách đơn giản nhứt là 100
lbs + 5.5x số inches nhiều hơn 5 ft. Thí dụ, nếu cao 5 ft 3, thì trọng
lượng lý tưởng sẽ là: 100+5.5x3=116-117lbs. Công thức sau đây của J.
Hamwi tính ra kg.
Male: 48.0 kg + 2.7 kg per inch over 5 feet
Female: 45.5 kg + 2.2 kg per inch over 5 feet
Thí dụ: trường hợp phụ nữ cao 5ft3, thì trọng lượng lý tưởng sẽ là 45.5+2.2x3=52 kg.
(2) Ý NGHĨA CỦA ÁP SUẤT MÁU (BP Blood Pressure)
BP=SBP/DBP
-SBP (Systolic Blood Pressure) là tử số hoặc số đầu của máy đo áp huyết.
Đây là áp suất trong động mạch máu lúc tìm bơm máu ra để nuôi cơ thể.
SBP dưới 140 là tốt.
-DBP (Diastolic Blood Pressure) là mẩu số hoặc số thứ hai trên máy đo áp
huyết. Đây là áp suất trong động mạch máu lúc tìm ngừng bơm để nhận máu
từ phổi chảy về. DBP từ 80-90 là tốt.
-P (Pulse)là nhịp tim thường khoảng 69-73.
Những Người Bạn Sư Phạm Saigon
17 thg 3, 2022
LÀM SAO ĐỂ BIẾT MÌNH BỊ SUY TIM - BS.Đặng Quang Tâm
6 thg 7, 2021
XIN HỌC Y KHOA (1) Ở MỸ - Bs. ĐẶNG QUANG TÂM
Mời Đoc - Có Giống Hoc Y Khoa Ở Nam VN trước 1975 không...?
XIN HỌC Y KHOA (1) Ở MỸ
Đây là cuộc thi không có chuyện đậu hay rớt. Vấn đề là thi được bao nhiêu điểm. Tuỳ số điểm thi MCAT mà trường Y sẽ gọi đi phỏng vấn. Rất ít người chỉ học 2 năm dự bị rồi đi thi MCAT, 99% học hết 4 năm mới dám đi thi. Trường Y không cần bạn tốt nghiệp 4 năm Đại Học. Tuy nhiên, nếu bạn tốt nghiệp Cử Nhân Toán, Triết, Văn Chương hoặc Kỹ Sư Điện, Hoá, Cơ Khí hay bất cứ bằng cấp 4 năm nào khác, đơn của bạn sẽ được cứu xét ưu tiên hơn. Nhưng nếu bạn có bằng 4 năm (BS )hoặc cao hơn (MS, PhD) (4), mà điểm thi MCAT của bạn thấp thì hồ sơ của bạn sẽ có số phận hẩm hiu. Điều kiện bắt buộc để nộp đơn vô học Y là bạn phải có 2 năm Dự Bị. Trong 2 năm đó, bạn phải học:
-2 lớp Vật Lý
-2 lớp Hoá Đại Cương (General Chemistry)
-2 lớp Hoá Hữu Cơ (Organic Chemistry)
-2 lớp Vạn Vật (Biology 1 &2) hoặc 2 lớp Sinh Hoá (Biochemistry)
-2 lớp Toán (Calculus 1&2)
-1 lớp Toán Xác Xuất
-2 lớp Anh Văn
-1 lớp Tâm lý Học (Psychology)
-1 lớp Xã hội Học (Sociology)
Tất cả những lớp này đều phải lấy ở trường Đại Học của Mỹ.
Bài thi MCAT có 4 phần. Điểm tối đa mỗi phần là 132. Như vậy, điểm lớn nhất của MCAT là 528. Điểm thấp nhất là 472. Điểm trung bình là 500. Dưới đây là 4 phần của bài thi MCAT:
1. Căn bản Vật Lý và Hoá Học (Chemical and Physical Foundations of Biological Systems)
2. Đọc và hiểu Anh Văn (Critical Anlysis and Reasoning Skills)
3. Vạn Vật và Sinh hoá (Biological and Biochemical Foundation of Living Systems)
4. Tâm Lý học, Xã Hội Học và Cách ứng xử trong Vạn Vật học (Psychological, Social, and Biological Foundations of Behavior).
Trong 2 phần, Vật Lý Hoá Học và Vạn Vật Sinh hoá, 1/4 câu hỏi là câu hỏi đơn, 3/4 là đoạn văn dài, mỗi đoạn có khoảng 3 câu hỏi. Câu hỏi đơn là câu hỏi trực tiếp (stand alone) về kiến thức, nếu bạn giỏi, bạn sẽ dể trả lời trúng. Do Covid 19, bài thi MCAT bị rút ngắn, họ bỏ tất cả các câu hỏi đơn. Tôi biết một thí sinh gốc Việt, có bằng MS of Med Science (5), thi MCAT trước COVID 19 được 506, nộp đơn chỉ được 1 trường kêu đi phỏng vấn, được xếp dự khuyết, nhưng không được kêu vô nhập học. Năm sau đi thi lại MCAT, vì không còn những câu hỏi đơn, chỉ thi được 502, phần Đọc và hiểu tiếng Anh giảm từ 125 xuống chỉ còn 123. Thê thảm.
Đối với những thành phần thiểu số cần được nâng đỡ (Mễ, Mỹ gốc đen và dân da đỏ bản xứ) hoặc gia cảnh nghèo khó chỉ cần 499 là được kêu đi phỏng vấn, những thành phần khác, điểm được kêu đi phỏng vấn phải trên 506 là ít nhất. Điểm trung bình để vào học Y thường khoảng 510. Những trường Y có tiếng ở Texas như Baylor hoặc UT Southwestern đòi ít nhất 514 mới hy vọng được kêu đi phỏng vấn.
Đây là cuộc thi rất khó. Cách đây 4-5 năm, tôi có đọc một bài viết của vị phụ huynh ở Cali, trong bài đó, vị này khoe đủ thứ về đứa con học trường chuyên của mình ở VN, cậu con này chỉ mới qua Mỹ 2 năm là đi thi MCAT. Cậu về nói với phụ huynh là bài thi MCAT rất dễ, chỉ cần học xong trung học ở VN là đủ sức đi thi. Cái đó tôi cho là nói chơi. 38 năm trước, tôi đã dại dột vác đầu đi thi MCAT, nên tôi biết nó khó lắm. Hồi đó, thi MCAT tốn 2 ngày, bây giờ rút ngắn lại chỉ còn 1 ngày. Thi xong, bảo đảm ai cũng mệt mỏi và chỉ muốn ... đi ngủ. ĐIểm thi MCAT mỗi năm mỗi cao hơn. Số người nộp đơn xin học tăng mỗi năm, gắp đôi so với 4 năm về trước. Có nhiều sinh viên phải bỏ ra từ 6 tháng đến một năm để “gạo”. Đủ biết chuyện thi MCAT sanh tử thế nào.
Tại sao bài thi MCAT khó? Đối với học trò sanh đẻ ở Mỹ, bài đọc và hiểu Anh Văn đã khó, học trò ngoại quốc thì phải nói trăm lần khó hơn. Đừng thấy người ta nói tiếng Anh như “bắp rang” rồi nghỉ là họ sẽ thi bài này được điểm cao. Trong giao tiếp hằng ngày, chỉ cần 200 chữ là ta có thể đủ sức “nổ” tiếng Anh, nhưng muốn thi MCAT phải cần ít nhứt 1500 chữ. Học sinh ngoại quốc thi phần này được 123-124 là quá giỏi, nhưng 124 là điểm dưới trung bình, nếu bạn không thuộc thành phần cần được nâng đỡ, dưới điểm này, hồ sơ của bạn sẽ khó được cứu xét. Tiếng Mỹ gọi điểm này là điểm cut off. Học trò gốc Việt sanh đẻ ở Mỹ, thi phần đọc Anh Văn này phần lớn được từ 124-127(6). Nhưng đâu phải chỉ bài thi Đọc và hiểu Anh Văn là khó thôi đâu, những bài khác cũng rất khó. Đó là những đề thi dài cả trang giấy, nội chuyện đọc không thôi là đã nhức đầu rồi, đừng nói đến trả lời mấy câu hỏi sau đó. Bài thì về Tâm Lý, Xã Hội cũng vậy. Đó là những đoạn văn dài bàn về các vấn đề dính líu đến Tâm Lý, Xã Hội nhưng sau đó là những câu hỏi hóc búa về với các đồ biểu (graph). Tức là nó thuộc loại problem solving. Bạn cần phải có khả năng phân tích dữ kiện để xử lý nó. Không dễ trả lời 59 câu hỏi trong 95 phút nếu bạn phải đọc tới đọc lui để hiểu câu hỏi. Tóm lại, bài thi MCAT là bài thi đọc tiếng Anh, loại tiếng Anh rắc rối. Nó hoàn toàn khác hẳn với những bài thi ở trường bạn học, những câu hỏi trong bài thi này, ngoài chuyện bạn phải hiểu rất rõ câu hỏi, bạn phải biết phân tích rồi mới trả lời trúng được.
Ở Mỹ, đi học dự bị Y Khoa không có nghĩa là đi học Y Khoa. Cứ 30 người đi học dự bị, sau hai năm sẽ chỉ còn 10 người là có gan tiếp tục theo đuổi, phần còn lại phải bỏ cuộc. Tại sao phải bỏ cuộc? Dễ hiểu thôi. Nếu bạn học toàn điểm B hoặc bị 1-2 con C của “cua” Hoá Hửu Cơ (Organic Chemistry) hoặc Sinh Hoá (Biochemistry) là bắt buộc bạn phải bỏ cuộc, vì 2 con C này đủ để đưa điểm trung bình GPA xuống dưới 3.7, mà dưới điểm này, đơn xin học của bạn ít khi được cứu xét. Sau kỳ thi MCAT, thì chỉ còn 2-3 người có điểm trên 504 để nộp đơn. Ít hơn điểm này, nếu bạn không thuộc thành phần thiếu số hoặc con nhà nghèo, bạn nên đi thi lại hoặc bỏ cuộc. Trong 2-3 người còn lại nộp đơn, chỉ 1 người là vô được Y Khoa. Ở tiểu bang Texas, mỗi năm có khoảng hơn 9000 người nộp đơn, nhưng chỉ nhận chừng 1650 người. Vì điểm MCAT là điểm chuẩn trên toàn quốc nên nó là điểm trường Y đùng để lọc hồ sơ. Nếu điểm MCAT của bạn thấp hơn điểm tối thiểu mà trường Y bạn nộp đơn đặc ra, thí dụ 507, thì hồ sơ của bạn sẽ vô thùng rác (trash). Trên điểm 507, người ta sẽ coi thêm điểm GPA rồi mấy giấy giới thiệu để quyết định có nên kêu bạn đi phỏng vấn hay không (7).
Nếu bạn nhận được giấy trường Y mời bạn đi phỏng vấn, cơ hội bạn được nhận vô học Y Khoa tăng từ 0% lên 50%. Càng nhiều trường gọi bạn đi phỏng vấn, xác xuất được nhận càng tăng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp có người được 4 trường kêu đi phỏng vấn, nhưng chẳng có trường nào nhận. Mỗi một cuộc phỏng vấn sẽ dạy cho bạn kinh nghiệm để kỳ phỏng vấn tới bạn sẽ làm khá hơn. Hồi tôi đi phỏng vấn cách đây gần 40 năm, chỉ có 2 người phỏng vấn tôi. Bây giờ số người phỏng vấn có thể tăng lên 4 người hoặc hơn nữa, tuỳ trường. Cuộc phỏng vấn có thâu băng để hội đồng nhận sinh viên vô học xem lại nếu cần. Người Mỹ rất giỏi trong việc tìm kiếm nhân tài. Ở Mỹ, người ta vẫn nói học trò điểm C thường làm xếp của mấy anh điểm A. Người Á Đông mình cứ cho mấy anh học giỏi ở trường là số một, Tây Phương họ nghĩ khác. Giỏi không phải chỉ giỏi Toán Lý Hoá mà nó còn phải giỏi ở cách ăn nói, xử trí nhanh trong những hoàn cảnh khó khăn. Đây là cơ hội để bạn chứng tỏ cho trường Y, bạn là người xứng đáng được họ nhận vô học. Tôi sẽ không bàn về kỹ thuật trả lời phỏng vấn ở đây, vì nó là chuyện bạn phải tập luyện lâu ngày, mà cũng có thể nói, Trời có cho bạn khả năng để tập hay không.
Tóm lại, việc xin học Y Khoa ở Mỹ rất khó khăn, nó không dễ như có nhiều người nổ. Các phụ huynh không nên ép con mình nếu nó không có khả năng. Ở đời này, thiếu gì nghề khác cũng làm ra tiền, đâu cần phải học Y.
Bác Sĩ ĐẶNG QUANG TÂM, MD
Diplomate American Board of Anesthesiology
(1) Ở Mỹ có 2 loại trường Y: trường MD (Doctor of Medicine) và trường DO (Doctor of Osteopathic Medicine). Học trò tốt nghiệp ở 2 trường này điều đủ điều kiện để dự kỳ thi lấy bằng hành nghề Bác Sĩ ở Mỹ. Trường MD có lâu đời hơn, điều kiện xin vô học khó hơn trường DO. Cả hai điều học cùng một chương trình, nhưng trường DO còn phải học thêm 200 giờ OMM (Osteopathic Manual Medicine). Đây là phương pháp dùng tay để định bịnh, trị bịnh và ngừa bịnh. Hiện giờ, ở Mỹ có 154 trường MD và 38 trường DO.
(2) Nói rỏ hơn, dù bạn ở Cali hay New York, bạn sẽ thi cùng một bài thi, do dó điểm thi MCAT được dùng làm điểm chuẩn để so sánh. Trong khi đó, điểm GPA thay đổi tuỳ trường, tuỳ thầy dạy. Điểm GPA được nhận vào học trường Y càng ngày càng cao. Hiện giờ, ở những trường công trong tiểu bang Texas, điểm GPA của những bạn được nhận vào học là từ 3.8 trở lên.
(3) Nói là được nhận tuyển thẳng vô Y Khoa, nhưng những học sinh này cũng phải học 2 năm dự bị Y Khoa ở trường do trưởng Y chỉ định, phải thì MCAT và điểm MCAT phải trên 500 mới được chánh thức vô học năm thứ nhứt Y Khoa. Tóm lại, họ chỉ được bảo đảm vô trường Y mà thôi. Chứ không phải học xong Trung Học là đủ “sức” vô học Y Khoa ở Mỹ. Hiện giờ, chương trình loại này gần như đã chấm dứt, vì người ta rút kinh nghiệm: học giỏi ở Trung Học, chưa chắc học giỏi ở Đại Học.
(4) BS Cử Nhân
MS Cao Học
PhD Tiến Sĩ
Trong số những người nộp đơn xin học trường Y không ít người có bằng MS hoặc PhD. Chuyện này thường thôi. Lớp tôi học có 6 người có bằng PhD, một người có bằng DDS (Nha Sĩ).
(5) MS of Med Science (MS=Master of Science) là chương trình hậu đại học, kéo dài 12-18 tháng, dành cho những ai không vô được trường Y. Ngoài một số giờ dạy luyện thi MCAT, phần còn lại học giống như chương trình năm thứ nhất của trường Y. Hiện giờ có vô số trường mở chương trình này vì nhu cầu xin học Y Khoa rất lớn.
(6) Đây là sự thật đau lòng. Muốn thi phần đọc Anh Văn này, bạn phải tập luyện từ thời còn học.... Trung Học. Nếu điểm thi SAT phần Anh Văn, ở Trung Học, của bạn không cao, nó là lời cảnh cáo quan trọng. Bạn phải đọc báo, sách để có thêm từ (vocabulary), phải biết cách nào để hiểu ý chánh của bài văn, để từ đó có thể đoán câu trả lời. Nếu cần bạn nên bỏ tiền ghi tên học những lớp dạy thêm. Phần lớn thí sinh mà Anh Văn không phải là tiếng mẹ đẻ, không học Trung Học ở Mỹ, thi bài Đọc và hiểu tiếng Anh chỉ được từ 120-121.
(7) Sau đây là 2 câu hỏi tiêu biểu cho ý chính của bài viết này. Nên nhớ bạn chỉ có 1 phút để trả lời 1 câu hỏi mà thôi.
1-Căn cứ theo bài viết này, tỷ số được dùng đề tính số sính viên còn lại sau 2 năm dự bị, sau kỳ thi MCAT và sau khi được nhận vào học trường Y là:
(A) 1/5
(B) 1/4
(C) 1/3
(D) 1/2
2-Điểm tối thiểu của bài thi Đọc và hiểu tiếng Anh để được trường Y cứu xét hồ sơ nộp đơn là
(A) 123
(B) 124
(C) 125
(D) 126
3-Theo tác giả bài viết, câu trả lời nào dưới đây sai về bài thi MCAT
(A) Phần thi đọc và hiểu tiếng Anh rất khó vì đòi hỏi nhiều từ (vocabulary) khó khăn
(B) Phần thi Vạn Vật, Hoá Học, Sinh Hoá và Vật Lý cũng là những bài thi đòi hỏi trình độ Anh Văn cao
(C) Phần thi Vạn Vật, Hoá Học, Sinh Hoá và Vật Lý đòi hỏi trình độ hiểu biết cao hơn chương trình dự bị Y Khoa
(D) Trong thời đại dịch Covid, bài thi MCAT bị rút ngắn và không còn những câu hỏi đơn (stand alone)
27 thg 7, 2025
ÐẶNG THẾ PHONG – TÀI HOA BẠC MỆNH (1918-1942)
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau
(Nguyễn Du)
Suy từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, người tài hoa là người bạc mệnh, kẻ hồng nhan thường đa truân. Nhìn vào làng nhạc nước ta, nhạc sĩ Đặng Thế Phong là điển hình rõ nét nhất.
Ðặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Ông là con trai Đặng Hiển Thế, thông phán Sở Trước bạ Nam Định. Thân phụ ông chẳng may mất sớm, gia đình túng thiếu, ông phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure, nay là lớp bảy cấp hai phổ thông cơ sở). Vướng vào cái nghiệp văn nghệ từ thủa còn nhỏ nên ông đã lên Hà Nội theo học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Ecole supérieure de Beanx Arts) với tư cách bàng thính viên (auditeur libre). Đặng Thế Phong đã thực sự lấy nghề nuôi nghiệp: thời gian theo học này, ông đã phải vẽ tranh cho báo Học Sinh (chủ báo là nhà văn Phạm Cao Củng) để có tiền ăn học. Trong một kỳ thi, ông đã vẽ một bức tranh cây cụt, không có một cành nào. Lúc nạp bài, giáo sư Tardieu, thầy dạy ông đã nói rằng có lẽ Đặng Thế Phong không thọ!
Ông đã phiêu du vào Sài Gòn rồi sang Nam Vang vào đầu năm 1941 và mở một lớp dạy nhạc tại kinh đô xứ Chùa Tháp cho đến mùa thu 1941 ông lại trở về Hà Nội.
Cũng giống như Mozart lúc sinh thời, Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo, nên cuộc sống của ông chật vật. Ngoài tài làm nhạc, vẽ tranh, ông còn có giọng hát khá hay, tuy chưa được là Ténor nhưng cũng được khán giả hâm mộ. Lần đầu tiên ông lên sân khấu, hát bài Con Thuyền Không Bến tại rạp chiếu bóng Olympia (phố Hàng Da – Hà Nội) vào năm 1940, được hoan nghênh nhiệt liệt. Đặng Thế Phong là một thiên tài, nhưng vẫn không có được cuộc sống sung túc giữa cố đô Thăng Long lúc bấy giờ vì nhạc và tranh dù có hay, có đẹp đến mấy chăng nữa cũng chẳng có mấy ai mua. Thời ấy, chính quyền bảo hộ Pháp có mở một phòng triến lãm tranh tại hội Khai Trí Tiến đức, khu Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Sau lễ khai mạc được ông Đốc Lý thành phố Hà Nội đến cắt băng, người ta thấy những người đến xem tranh phần rất lớn toàn là ông Tây, bà Đầm, còn người Việt thì đúng là lơ thơ tơ liễu buông mành, nhìn kỹ thấy toàn là các quan ta, những công chức cao cấp, giới trí thức, thượng lưu chứ chẳng thấy một dân thường nào! Ngoài ra, thời bấy giờ chính quyền Pháp có tổ chức mở phòng triển lãm là bảo trợ cho các hoạ sĩ Pháp trưng bày tranh của mình còn hoạ sĩ Việt Nam thì số người lọt được vào, ta có thể đếm trên đầu ngón tay. Đến nhạc thì nếu có in, mỗi lần xuất bản cũng chỉ in nhiều nhất là 500 bản, dân chúng chưa yêu chuộng nhạc cải cách (tân nhạc) nên dù có thực tài thì cũng không thể có được một cuộc sống sung túc nếu nhờ vào sức lao động nghệ thuật!
Đặng Thế Phong phải chịu một cuộc sống khó khăn, chật vật trong “kiếp con tằm đến thác vẫn còn vương tơ” cho đến đầu năm 1942, ông từ giã cõi đời tại căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng Nam Định vì bệnh lao màng (tuberculose péritonique), hưởng dương 24 tuổi, tuổi son trẻ, đầy thơ mộng, sắp bước vào thời xây dựng sự nghiệp (tam thập nhi lập).
Cuộc đời của Đặng Thế Phong thật quá ngắn ngủi nhưng đời sống tinh thần của ông rất phong phú và thi vị. Nhờ thế mà tuy sáng tác chỉ có ba bài: Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu nhưng bài nào cũng trở thành vĩnh cửu, qua hơn nửa thế kỷ vẫn là những bài hay nhất của làng nhạc Việt Nam. Nhạc hứng chân thành đều phát xuất từ con tim, vì thế mà sáng tác của ông có hồn, đi vào lòng người và sống mãi! Qua Ðặng Thế Phong, ta chứng minh được văn nghệ tính phẩm chứ không tính lượng (quý hồ tinh bất quý hồ đa). Con người làm văn nghệ viết được một câu để đời đã là khó, được một tác phẩm để đời là đáng mãn nguyện lắm rồi. Với âm nhạc, người chuyên sử dụng một nhạc cụ cho thật điêu luyện được tôn kính hơn là người biết sử dụng nhiều thứ đàn, chẳng thế nào có được một thứ thật tuyệt hảo. Về sáng tác cũng vậy, làm cho nhiều, cố nặn cho lắm, thể điệu nào cũng có bài thì dù viết cả ngàn bài chưa chắc đă có lấy một bài có giá trị nghệ thuật và vĩnh cửu! Chỉ sáng tác có ba bài thôi, Đặng Thế Phong đã sống mãi trong lòng mọi người, chắc chắn là hơn người có cả ba trăm bài mà chẳng có một bài nào để người ta nhớ! Nói đến điều này, điển hình trong làng nhạc nước nhà, chúng ta nhìn vào ông nhạc sĩ tiền bối Th.O, ông này là một trong số ít người đi tiên phong trong việc sáng tác tân nhạc. Từ đó cho đến sau này, suốt hơn 40 năm, ông có một tập sáng tác khá đồ sộ, trên dưới 500 bài nhưng cho đến ngày hôm nay không có lấy một bài nhạc nào đi vào lòng người nếu ta không muốn nói là sáng tác của ông đã hoàn toàn bị chìm trong quên lãng! Với nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, muốn thành công là phải có tài năng thiên phú chứ không thể nhờ vào thời gian, kiên nhẫn, sách vở, trường lớp hay bằng cấp mà đạt được! Vì thế chúng tôi dám tôn vinh Đặng Thế Phong là một thiên tài của làng nhạc Việt, thật không ngoa.
Cuộc đời Đặng Thế Phong đã có được một mối tình thật chung thủy tuyệt đẹp:
Khi còn ở Nam Định, Đặng Thế Phong đã đem lòng yêu một thiếu nữ buôn bán ở Chợ Sắt, chợ duy nhất và lớn nhất của thành phố. Cô này không đẹp nhưng lại rất có đuyên. Sau nhiều ngày đi chơi chợ, Đặng Thế Phong đã lọt vào mắt mỹ nhân. Cặp tình nhân trai tài, gái đảm đã dìu nhau vào cuộc tình thật trong sáng và cao thượng! Điều đáng ca ngợi là chàng nhạc sĩ tài hoa họ Đặng không bao giờ đụng chạm đến đồng tiền của người yêu, dù cho người đẹp, tên Tuyết, nhiều lần khôn khéo bày tỏ lòng mình muốn giúp chàng. Những buổi chiều trời quang, mây tạnh hay gió mát, trăng thanh, hai người đều dìu nhau trên những con đường ngoại ô để tâm tình. Thời bấy giờ, nhiều thanh niên rất ngưỡng mộ Đặng Thế Phong, khi biết mối tình của cặp Phong – Tuyết, đều mến trọng và tôn kính là một cuộc tình lý tưởng!
Đặc biệt nhất là mấy cô gái phố Hàng Đồng, gia đình rất khá giả tỏ lòng yêu mến Đặng Thế Phong, nhưng ông vẫn một lòng yêu cô Tuyết, dù cô không đẹp bằng mấy cô kia. Có một hôm, mấy cô kia đang đứng nói chuyện với nhau thấy Đặng Thế Phong đi qua, với lối đi có vẻ vội vã. Thấy bóng ông, mấy cô ngưng bặt, rồi chẳng cô ai bảo cô nào, tất cả ánh mắt đều hướng về ông như dán chặt vào người ông vậy. Khi Đặng Thế Phong vừa bước tới ngang chỗ các cô thì một giọng nói đầy hờn dỗi pha thêm mai mỉa, được nói lớn lên, cố ý cho Đặng Thế Phong nghe thấy:
– Mấy chị đứng dịch ra, người ta đi vội kẻo trễ hẹn !
Đặng Thế Phong nghe rõ nhưng coi như điếc, cứ rảo bước như không có gì xảy ra. Đến nơi hẹn, gặp cô Tuyết đã đứng chờ, Đặng Thế Phong kể cho cô nghe vụ vừa bị chọc ghẹo. Cô Tuyết không nói gì mà chỉ tủm tỉm cười với ánh mắt nhìn người yêu, thật là trìu mến. Về nhà, Đặng Thế Phong không nói ra với anh chị em mà thầm thì kể cho ông chú họ, cùng lứa tuổi, là ông Nguyễn Trường Thọ biết thôi . Ngoài ra, ông còn kể cho ông Thọ nghe chuyện cô Tuyết có một chàng thông phán trẻ, đẹp trai, có tiền, có địa vị, làm ở Tòa Đốc Lý thành phố theo đuổi, còn nhờ cả hai người mai mối nhưng cô nhất quyết khước từ , bất chấp cả lời dị nghị của mọi người, nhất là gia đình cố ý gán ghép.
Năm 1940, Đặng Thế Phong phải tạm xa cô Tuyết để lên Bắc Giang ít ngày. Ai đã đến Bắc Giang là biết thị xã này có con sông Thương, một con sông có hai dòng nước, bên đục, bên trong. Kẻ viết bài này, lúc bé học ở Bắc Giang, vào những ngày hè nóng bức, cùng bạn bè ra sông bơi. đứng từ trên cầu ra tháp nước khá cao, nhìn thấy rõ hai dòng nước đục trong rõ rệt ! Ở Bắc Giang, một buổi tối trăng sao vằng vặc, Đặng Thế Phong đã cùng bạn bè thuê thuyền cắm sào rồi cùng nhau chén chú, chén anh hàn huyên mọi chuyện. Đang lúc đang vui thì có người ra đưa cho Đặng Thế Phong một bao thư. Ông ngưng ngay chuyện trò và vào trong khoang, lấy bao diêm ra đốt lửa để coi thư và đây đúng là thư của cô Tuyết, từ thành Nam gửi lên cho ông. Đọc xong thư, ông có vẻ buồn và suy nghĩ. Bạn bè thắc mắc nên hỏi, được ông cho biết thư báo tin cô Tuyết nhuốm bệnh cả tuần rồi và nhớ ông lung lắm nên có lẽ ông phải về Nam Định gấp! Chính đêm này, lúc đêm sắp tàn, Đặng Thế Phong thao thức không sao chợp mắt được, đã ngồi dậy sáng tác được tác phẩm Con Thuyền Không Bến buồn não ruột:
Đêm nay thu sang cùng heo may
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ lững trôi xuôi giòng
Như nhớ thương ai trùng tơ lòng…
.. Lướt theo chiều gió
Một con thuyền theo trăng trong
Trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng
Biết đâu bờ bến?
Thuyền ơi thuyền trôi nơi nao
Trên con sông Thương nào ai biết nông sâu?…
Hai hôm sau Đặng Thế Phong từ giã bạn bè, rút ngắn thời gian để về Nam Định. Được tin Đặng Thế Phong đã về, cô Tuyết thấy bệnh thuyên giảm rất nhanh. Và tối hôm sau hai người hẹn gặp lại nhau. Lúc ấy miền Bắc đang vào Thu, gió heo may kéo về mang cái lạnh. Tối hôm ấy trăng lên muộn, trời tối gió nhẹ làm cho hai người thấy thích thú đi bên nhau để sưởi ấm lòng nhau sau bao ngày xa cách. Dìu nhau đến nơi cũ, Đặng Thế Phong ghé sát tai cô Tuyết, hát nhẹ nhàng, giọng rạt rào tình cảm như rót vào tai cô bài Con Thuyền Không Bến mà ông vừa sáng tác trong một đêm trắng trên sông Thương vì thương nhớ cô . Khi hát xong, Đặng Thế Phong phải lấy khăn tay ra nhẹ nhàng lau hai giòng lệ đang từ từ chảy xuống má cô với lòng xúc động không kém! Lúc ra về, Đặng Thế Phong nói: “Làm được một bài nhạc nhờ em, nay về được hát cho em là người đầu tiên nghe, thế là anh sung sướng lắm rồi!”
Cô Tuyết cũng đáp lại lòng tri kỷ : “Là một người đàn bà tầm thường như em mà đã làm cho anh có được một bài hát thì với em đó là một vinh dự, một hạnh phúc thật cao sang, không phải ai ở trên đời cũng có được! Tình anh trao cho em thật trọn vẹn, thật bất diệt, chắc chắn không bao giờ hình ảnh anh bị phai mờ trong tim trong óc em được, bây giờ và mãi mãi..” Đến lúc ấy chị Hằng mới ló mặt ra dịu dàng nhìn xuống trần thế và chứng giám hai người yêu nhau đang đứng sát bên nhau sau khi đã uống cạn lời nói của nhau. Sau hôm ấy, Đặng Thế Phong mới cho phổ biến rất hạn chế trong đám thanh niên tỉnh nhà bài Con Thuyền Không Bến, được mọi người yêu chuộng nên rất nhiều người biết đến.
Chính vì thế mà có một ngườl ở Hà Nội mới mời Đặng Thế Phong lên Hà Nội để hát tại rạp chiếu bóng Olympia bài hát của mình. Trong buổi ấy, Đặng Thế Phong ra sân khấu hát Con Thuyền Không Bến đầy xúc động vì ngay ở hàng ghế đầu, cô Tuyết đã bỏ hẳn một ngày chợ để lên Hà Nội nghe người yêu hát bài làm vì mình và cho mình ! Riêng với Đặng Thế Phong, ông xúc động là phải vì với số khán giả đông đảo không đáng ngại mà là trong lòng ông thầm nghĩ hát hôm nay rất cần và chỉ cần để một người nghe là đủ nên phải mang hết tài trí ra biểu diễn sao cho thành công !
Hát xong, khán giả vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.
Sau một thời gian ở Bắc Giang, ông nhuốm bệnh. Vì lúc đó bệnh lao là nan y nên ông dấu mọi người, ai biết đều sợ bị lây nhiễm, không hiểu sao cô Tuyết biết được. Cô Tuyết rất tế nhị và khôn khéo hỏi Đặng Thế Phong :
– Sao dạo này em thấy anh gầy và xanh lắm? Anh có bệnh gì không mà em thấy sút lắm? Anh đi nhà thương khám và thuốc men , cho khoẻ để mình còn tính đến tương lai !
Ông ậm ừ cho qua. Từ đó cô Tuyết âm thầm tìm mọi cách để giúp người yêu trong lúc nhà nghèo bệnh trọng. Đặng Thế Phong cũng đến nhà thương để khám bệnh. Sau khi dò hỏi, biết bệnh của ông, cô Tuyết nhân quen với một số y sĩ (médecin indochinois) làm ở nhà thương, mua thuốc rồi nhờ ông ta nhận là thuốc của nhà thương ông lấy cho Đặng Thế Phong. Thuốc bệnh lao lúc ấy vừa hiếm lại vừa đắt, cô Tuyết không những không ngại tốn kém, mà còn thường xuyên gặp Phong để săn sóc một cách kín đáo, kể cả không sợ bị lây. Về phần Đặng Thế Phong thì ông không hề biết thuốc là của cô Tuyết mua cho mình. Trong các cuộc ao đẹp của văn nghệ sĩ nước nhà, có hai nữ lưu đáng để người đời ca tụng : cô Tuyết biết người yêu bị bệnh nan y, rất dễ lây, Mộng Cầm biết Hàn Mặc Tử bị bệnh phong cùi, vừa ghê sợ vừa dễ lây thế mà hai ngườí đã có tình yêu chân thật, chung thủy, không những không sợ mà còn hết lòng chăm sóc,thuốc men cho đến ngày tử biệt! Thật hiếm hoi và cao quý vô cùng !
Mùa xuân năm 1941, cô Tuyết cùng Phong từ Nam Định lên Hà Nội để tiễn chân và tạm biệt Đặng Thế Phong vào Sài Gòn (rồi đi Nam Vang). Ở kinh đô xứ Chùa Tháp, ở Hòn Ngọc Viễn đông một thời gian thấy cuộc sống cũng không được thoải mái như ý mong muốn, Đặng Thế Phong trở về Hà Nội. Về lần này, Đặng Thế Phong không về Nam Định mà thuê một căn gác hẹp tường cây, mái lá ở làng trồng hoa Ngọc Hà, vùng ngoại ô thành phố Hà Nội. Đặng Thế Phong ở chung với chú là ông Nguyễn Trường Thọ. Bệnh tình Đặng Thế Phong tái phát ngày một nặng vì người bị bệnh này phải mua thuốc men đầy đủ, phải nghỉ ngơi và ăn uống tẩm bổ tối đa mà những điều phải ắt có và đầy đủ này, với Đặng Thế Phong không thể có được. Chính vì thế mà không tuần nào là cô Tuyết không lên thăm và lo chữa bệnh cho Đặng Thế Phong.
Tháng Bảy mưa ngâu tầm tã, rả rích suốt ngày này sang ngày nọ, tháng này qua tháng khác, gió lạnh kéo về, nhà thì tường cây, mái lá, lạnh buốt lọt xương, cuộc sống kham khổ khiến bệnh tình Đặng Thế Phong ngày càng trầm trọng. Từng cơn ho làm rũ người, tiếp đến những cơn thổ huyết làm cho Đặng Thế Phong ngày một sút hẳn đi. Một mình trên giường bệnh, Đặng Thế Phong nhớ gia đình thì ít mà nhớ người yêu thì nhiều. Thân xác thì bệnh tật khó qua, tâm trí thì luôn luôn phải vật lộn với trăm ngàn ý nghĩ và hình ảnh cuộc tình tươi đẹp nên bệnh mỗi lúc một tăng.
Còn đâu những cuộc hẹn hò thơ mộng, quên làm sao được những lời thủ thỉ ân tình và hy vọng gì ở những ước vọng được thành đôi chim nhạn tung trời mà bay, tất cả đã được Đặng Thế Phong ngày đêm day dứt, tiếc thương, muốn níu kéo lại thì cũng chẳng còn gì để bám víu!
Đặng Thế Phong đã mang lấy nghiệp vào thân thì đời con tằm đến thác cũng còn vương tơ, tránh sao thoát khỏi cái lưới trời thưa mà khó lọt ấy ? Chính vì lẽ ấy mà Đặng Thế Phong đã thực sự thể hiện được câu các cụ đã dạy cọp chết để da, người ta chết để tiếng, dù cuộc đời ông ngắn ngủi với 24 mùa lá rụng, một cuộc đời ngắn đến nổi đo chửa đầy gang!
Thế rồi, một hôm mưa rơi tầm tã, giọt mưa lộp bộp trên mái lá, thánh thót từng giọt xuống đường, Đặng Thế Phong buồn quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để có được một nhạc hứng lai láng, tràn trề khiến ông gượng ngồi dậy viết một hơi điệu nhạc buồn da diết, não nề. Ông viết xong bèn đặt tên cho sáng tác mới ấy là Vạn Cổ Sầu. Chập tối ông Thọ về có thêm dăm người bạn đến thăm, Đặng Thế Phong ôm đàn hát cho mọi người nghe. Nét mặt của mọi người nín thở nghe, đều buồn như muốn khóc. Nghe xong, ai nấy đều khen bài hát thật hay, xoáy vào tim vào óc nhưng cái tên bài bi thảm quá, nên sửa lại thì hơn. Chính vì thế mà Đặng Thế Phong, đổi tên là Giọt Mưa Thu. Có lẽ đây là cái điềm báo trước, là lời di chúc tạ từ nên Đặng Thế Phong lấy mưa ngâu, mùa mưa là giòng nước mắt tuôn chảy lênh láng của Chức Nữ với Ngưu Lang để ví cuộc tình Phong – Tuyết cũng phải cùng chung số phận phũ phàng giống vậy chăng ? Đến một ngày cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi lưỡi hái của tử thần, Đặng Thế Phong mới ngỏ ý trở về Nam Định để được chết tại quê nhà và muốn ông Thọ dìu ông về.
Về nhà, lần này cô Tuyết đích thân đến hàng ngày để chăm sóc, thuốc men cho Đặng Thế Phong, không ngại mệt mỏi và không sợ nguy hiểm đến bản thân mình. Những người quen biết đến thăm, thấy cảnh ấy đều mũi lòng và khâm phục lẫn mến thương cuộc tình cao quý, chung thủy của cặp Phong -Tuyết.
Không biết có phải là tại thần giao cách cảm hay không mà một hôm, nhạc sĩ Bùi Công Kỳ đột nhiên từ Hà Nội về Nam Định thăm Đặng Thế Phong lại vừa đúng lúc Đặng Thế Phong sắp lìa đời. Trên giường bệnh, phút lâm chung, không nói gì được với nhau, Bùi Công Kỳ ôm đàn hát cho Đặng Thế Phong nghe một lần chót bài Giọt Mưa Thu. Giọng hát Bùi Công Kỳ vừa dứt thì mọi người nhìn thấy Đặng Thế Phong mở cặp mắt nhìn như ngỏ lời chào vĩnh biệt rồi nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng.
Một vì sao Bắc Đẩu của làng nhạc Việt Nam, vừa ló dạng trên bầu trời đã vụt tắt gây niềm xúc động mãnh liệt và niềm thương tiếc vô bờ trong lòng mọi người ! Trong tang lễ, nam nữ thanh niên của thành Nam đã lũ lượt kéo nhau đi , chật cả phố phường để tiễn đưa Đặng nhạc sĩ đến nơi an nghỉ cuối cùng với rất nhiều cặp mắt rưng rưng lệ ! Cô Tuyết xin phép và được cả hai gia đình cho, mặc đại tang, đúng như một người vợ trong tang lễ chồng, thật là cảm động.
Năm 1960, tại Phú Nhuận, tôi được tiếp một thiếu phụ chưa hề quen biết. Sau lời chào hỏi, bà tự giới thiệu tên là Tuyết, người Nam Định, di cư vào Nam hiện ở Ban Mê Thuộc. Nhân lần vô tình đọc trên báo Tự Do, thấy quảng cáo trước cuốn Nhạc Sĩ Danh Tiếng Hiện Đại (tập II) của tôi sắp xuất bản, viết về năm nhạc sĩ trong đó có Đặng Thế Phong, nên bà về gặp tôi để xin tôi cho bà mượn hình của cố nhạc sĩ, chụp lại để về thờ. Trước kia, bà đã có nhưng lúc sắp di cư tấm ảnh đó bị thất lạc, kiếm mãi không sao thấy. Tôi vội lấy ảnh đưa ngay. Cậu cháu đi theo bà mang ngay ra tiệm hình ở đầu hẻm chụp gấp lấy ngay, xong trở vào gửi trả lại tôi. Trong lúc cậu cháu đi chụp hình, tôi có hỏi bà về chuyện tình tươi đẹp như bài thơ, trong sáng như trăng mười sáu thì bà Tuyết xác nhận những điều tôi biết là đúng và còn bổ sung cho tôi thêm ít nhiều chi tiết. Bà cũng không quên nói lên điều thắc mắc là tại sao tôi biết rõ thế ? Tôi nói thật ngay là được ông chú Nguyễn Trường Thọ cho tôi mượn ảnh, kể rành rẽ cuộc đời ái tình của Đặng Thế Phong cho tôi nghe. Bà cười và nói:
– Chú Thọ tuy là chú nhưng cùng tuổi với anh Phong, nên hai người vừa là chú cháu vừa có tính bạn bè, nên trong gia đình chỉ có chú Thọ là được anh Phong tâm sự mà thôi. Thảo nào ông biết quá rõ, quá đúng và quá đủ !
Sau lời cám ơn và trước khi ra về, bà Tuyết còn nói với tôi câu cuối cùng, đến nay đã 35 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ :
– Cho đến ngày hôm nay, và mãi mãi về sau, tôi tôn thờ anh Phong và đời tôi luôn luôn thương nhớ anh ấy với tất cả cái gì trân trọng nhất.
Viết ra những giòng trên đây, tôi xin được phép coi là nén hương lòng, suy tôn một bậc đàn anh khả kính và khả ái. Tuy anh đã ra người thiên cổ hơn nửa thế kỷ rồi nhưng những Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu vẫn là những vì sao tinh tú sáng rực trên bầu trời ca nhạc. Thể xác anh có thể trở về hư không nhưng tinh anh vẫn còn lại muôn đời với giang sơn gấm vóc này. Cuộc đời con người ta, sinh ký, tử quy đó là luật muôn đời của tạo hoá. Nhưng khi sống cho ra sống, lúc về được qua Khải Hoàn Môn, khi cất ba tiếng khóc chào đời, mọi người hân hoan cười mừng đón ta, khi nhoẻn miệng cười để lìa đời, mọi người thương tiếc khóc ta, thế mới thật là sống, mới đáng sống ! Anh đã vĩnh viễn ra đi nhưng tất cả những thế hệ hậu sinh, dù chưa được biết anh, khi hát những bài hát bất hủ của anh để lại, đều tưởng nhớ đến anh, một thiên tài mà ta có thể nói anh là một MOZART của Việt Nam, với tất cả tấm lòng kính mến trang trọng nhất !
Tôi cả tin rằng, dưới suối vàng. anh cũng có thể mỉm cười mãn nguyện. Hiển linh, anh về chứng giám và nhận cho nén tâm nhang này.
Nhạc sĩ Lê Hoàng Long,
Trích từ Vietnet
18 thg 7, 2018
VUA QUANG TRUNG Vị Anh Hùng Dân Tộc
- Quân đội hùng dũng
- Kỷ luật sắt thép
- Tình báo chính xác
- Kế hoạch tinh vi
- Chuyển quân chớp nhoáng
- Chỉ huy dũng mãnh
- Trận đánh thần tốc
- Ân uy, độ lượng
Đệ nhất anh hùng giữa thế gian
Dẹp tan xâm lược cứu giang san
Đống Đa giặc Mãn thây chồng chất
Xoài Mút quân Xiêm xác ngổn ngang
Kim Cổ vĩ nhân so xứng bậc
ĐôngTây danhtướngsánh cùnghàng
Quang Trung thế hệ tài năng trẻ
Tô điểm nhà Nam rạng vẻ vang
|
|
Máu đào nhuộm thắm từng trang
Chỉ quen chiến đấu đầu hàng không quen
Em ơi nước mất bao phen
Mà phen nào cũng vang tên anh hùng
- Đại Nam Nhất Thống Chí - Nguyễn Tạo
- Hoàng Lê Nhất Thống Chí - Ngô Thời Chí
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Ngô Sĩ Liên
- Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim
- Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu - Đặng Xuân Bảng
- Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn Sơn
- Trí Thức VN cuối thế kỷ 18 - Hồ Văn Quang
- L'histoire du Việt Nam - Philippe Devillers
- L'impire d'Annam - Gosselin
2 thg 11, 2018
Bài thơ “Cảm Hoài” của Đặng Dung (Từ Nghiên Cứu Lịch Sử )
Thơ văn của Đặng Dung chỉ còn lưu lại chỉ mỗi một bài Cảm hoài. Đó là một bài thơ mà tám câu thẩy đều xuất sắc, mỗi câu là một trang sử, lời thơ chứa nhiều kiến văn của một người có sức học rất rộng, tài hoa trong việc chọn điển từ, điển tích, quyết đoán trong việc đánh giá ai xứng đáng được gọi là anh hùng, ai là tên tiểu tốt hay loại bần tiện trong lịch sử Tàu và Việt. Là một bản anh hùng ca mang tâm trạng về thế sự trong ấy thể hiện rõ phong cách của người tráng sĩ trong cơn quốc nạn. Danh sĩ Lý Tử Tấn người đồng khoa tiến sĩ với Nguyễn Trãi, là phó soái Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú thời vua Lê Thánh Tông, vào giữa thế kỷ XV, khi nhận Xét về bài thơ này, Lý danh sĩ phê “phi hào kiệt chí sĩ bất năng” (nếu không phải là người hào kiệt ,tráng sĩ thì không thể trước tác nổi).
Đọc đến đây làm sao mà khách thơ không thích thú cho được khi hồi tưởng một thời trung học của mình đã từng được học qua, nay còn nhớ đôi câu trong trí:
Thời lai đồ điếu4 thành công dị
Vận khứ5 anh hùng ẩm hận đa
Đó là câu 3 và câu 4 trong nguyên tác đã gây bao nhiêu cảm Xúc cho người thời nay, cụ Phan kế Bính năm xưa đã dịch:
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Cụ Tản Đà dịch:
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan tành sự thế luống cay ai!
Và người bây giờ dịch ;
Gặp thời tiểu tốt lên sao dễ,
Lỡ vận anh hùng nhận thế ta!.
Xin các bạn hãy cùng tôi, chúng ta cùng đọc kỹ lại thơ ông để xem lời bình của danh sĩ Lý Tử Tấn đúng đến mức độ nào, và tiện thể cũng để xác định cho chắc một lần cuối rằng, trong thể Thất ngôn bát cú nói về khí phách tráng sĩ không bài nào qua mặt nổi bài Cảm hoài của Đặng Dung tài danh của Việt Nam chúng ta. Để có thể thưởng ngoạn cho tận hết “cái hay ” của bài trên, xin khách thơ cùng tác giả đọc lại lịch sử cũng như các huyền thoại thoại dân gian.
I- Bài thơ của Đặng Dung được sáng tác trong bối cảnh nào? .
Lấy cớ tên đại gian tặc Hồ quý Ly (gốc Tàu), kẻ đã cướp ngôi nhà Trần, do sự bất câ?n của vua Trần nuôi ong tay áo, không nghe lời của quan tư đồ Trần Nguyên Hãn; quân nhà Minh diệt dễ dàng nhà Hồ, sử ghi tướng Tàu là”Trương Phụ thắng trận đi đến đâu giết hại quân dân và làm những điều tàn bạo gớm ghê là Xếp người thành núi, hoặc rút ruột người treo lên cây ,hoặc nấu thịt người để lấy dầu. Còn những người An nam ai phục tùng nhà Minh mà giết được nhiều người bản quốc thì được thưởng cho làm quan. Thật bấy giờ tha hồ cho bọn hung ác đắc chí” sđd(1)trang 204 . Thế sự du du nại lão hà (câu 1) là thế .
Chỉ vì xuất phát lòng căm thù trước sự tàn ác và dã man của bọn giặc Tàu xâm lược mà các hào kiệt như Đặng Tất khởi binh trước đó, tiếp tục sau này là các tướng Đặng Dung, Nguyễn cảnh Dị, con trai của danh tướng Nguyễn cảnh Chân, Trần Quý đi tìm con cháu nhà Trần dựng cờ khởi nghĩa. Họ đã tổ chức lực lượng chống trả kẻ thù, dẫu biết kẻ thù đã mang sang nước ta một lực lượng quân binh chính quy hùng mạnh đông gấp nhiều lần về cả ba phương diện vũ khí, con người, quân lương. Các vị anh hùng đã đánh nhau ròng rã trên dưới bảy năm (1407-1413) với một binh lực hơn hẳn mình. Có lúc họ cũng đã thắng nhiều trận lẫy lừng (sđd(1), tưởng chừng như đã thắng, nhưng dài hơi thì cuộc đọ sức đã không cân sức. Than ôi! họ đã bại trận!. Trên đường bị đưa về Yên kinh ( Bắc Kinh ngày nay) để làm nhục, vua tôi họ đã ca hát như không có chuyện gì xảy ra, thắng bại là lẽ thường tình đối với người tráng sĩ một khi họ đã toàn tâm toàn ý , hết lòng, hết sức vì dân tộc này. Đặng Dung, trong vai trò lãnh đạo cuộc kháng chiến đã ngâm cho vua tôi nghe khúc ca cảm khái này, vừa ngâm vừa gõ nhịp xuống ván gỗ thuyền, cùng vui và sẵn sàng đón nhận mọi sự trả thù tàn bạo của kẻ thù; dân tộc ta đâu xa lạ gì sự tra tấn đầy thú tính của người Tàu đối với dân bị trị, xin khách thơ cùng đọc đoạn sử này “Năm 1410 ,Trần quý Khoách khi thấy sức đã yếu, kéo dài cuộc chiến chỉ làm kiệt sức dân, hao binh tổn tướng, nay tạm chấp nhận thua thiệt trước mắt để tính kế lâu dài. Vua bèn cử Nguyễn Biểu làm sứ giả sang dinh của Trương Phụ bàn chuyện hòa giải. Trương Phụ bắt trói sứ giả Nguyễn Biểu vào chân cầu để nước triều lên thì Nguyễn Biểu phải chết ngộp”. Một quốc gia côn đồ thì có binh tướng côn đồ, có văn minh của xứ nào trên thế gian này lại đi giết sứ giả, khi mà họ đến trại giặc với hai tay không. Sử sách nay vẫn còn ghi chép rõ ràng tội ác đó,sđd(1). Phan kế Bính đánh giá bọn “bần tiện ” quả không nặng lời!. Không muốn mình phải chịu cảnh ô nhục trong tay địch, thừa lúc sơ ý của bọn lính canh của giặc, vua tôi cùng nhào xuống biển tuẫn tiết. Oanh liệt và hào hùng! .
II-Toàn văn nguyên tác và bản dịch quốc âm
Dân tộc ta đã được may mắn đọc lại khúc ngâm anh hùng ca này là do hai công ghi chép, một là tiến sĩ Lý tử Tấn đời Lê thánh Tông có chép lại dưới tên là Cảm hoài và viết lời bình; hai là của Lê Quí Đôn (1726 – 1784) trong Toàn Việt Thi Lục có chép lại bài này dưới tên Thuật hoài. Một bài thơ duy nhất còn lại của thi nhân tráng sĩ Đặng Dung nhưng là thiên hạ đệ nhất thi.
2.1-Nguyên tác
感 懷
世 事 悠 悠 奈 老 何,
無 窮 天 地 入 酣 歌。
時 來 屠 釣 成 功 昜,
運 去 英 雄 飲 恨 多。
致 主 有 懷 扶 地 軸,
洗 兵 無 路 挽 天 河。
國 讎 未 報 頭 先 白,
幾 度 龍 泉 戴 月 磨。
2.2-Phiên âm
Cảm hoài
Thế sự du du1 nại lão hà2
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca3
Thời lai đồ điếu4 thành công dị
Vận khứ5anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa6 hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh7 vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch8
Kỷ độ Long Tuyền9 đái nguyệt ma.
Đặng Dung
2.3-Chú các từ mang tính lịch sử :
1_Thế sự du du (1),khắp đất nước nơi đâu cũng hoang mang vì bị giặc Tàu mượn cớ họ Hồ cướp ngôi của nhà Trần, họ mang binh sang xâm lăng và tàn phá và thiết lập chế độ đô hộ nước ta, toàn dân tộc ta chưa có giải pháp nào khả dĩ để đánh đuổi quân xâm lược.
2_nại lão hà (2), già rồi làm sao chừ, bối rối sâu.
3_hàm ca (3) ,là khúc ca vui khi đấng trượng phu mượn rượu để nói lên chí khí mình;
tỉ như Lý Bạch đã từng như thế trong bài “Xuân nhật túy khởi ngôn chí”; hay như Nguyễn Phi Khanh trong bài các bài minh, bài phú, sđd(2) .
4_đồ điếu (4) đồ là người đồ tể, chỉ Phàn Khoái, chiến hữu của Hán Lưu Bang; điếu là người đi câu ,chỉ Hàn Tín, đại tướng của Lưu Bang. Cả hai giúp Lưu Bang xây dựng nhà Hán (dưới mắt Đặng Dung cả hai đều là bọn bần tiện ,đồ tiểu tốt)
5_Vận khứ (5) chỉ thời vận nhà Trần đã qua, sự việc Giản định đế đã u mê giết tướng Đặng Tất, cha Đặng Dung, khiến cho sức chiến đấu của lực lượng khởi nghĩa suy yếu.
6_Trí chúa (6) ý nói lòng quyết tâm tiếp tục phò tiên triều (Trần). gác qua mối thù giết cha; Đặng Dung đã lập Trần quý Khoách lên làm vua, tôn Giản định đế lên làm thái thượng hoàng, lo đánh đuổi giặc Tàu xâm lược là nhiệm vụ trước mắt.
7_Tẩy binh (7), Ý nói đất nước thanh bình không còn cảnh binh lửa, sau khi thắng trận trở về, các tướng cầm quân tìm đến bãi sông rộng để binh sĩ được tắm mát nghỉ ngơi.
Điển từ Tẩy Binh lấy trong bài Tẩy Binh Mã (Tẩy rửa binh mã ) của Đỗ Phủ:
An đắc tráng sĩ vãn thiên hà;
Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng.
Tạm dịch nghĩa:
Yên được tráng sĩ kéo ngược sông Ngân hà
Tẩy sạch giáp binh dài lâu không dùng đến nữa.
8_đầu tiên bạch(9), nhắc tích Ngũ Tử Tư, một nhân vật thời Đông Châu, trong một đêm chờ qua lọt cửa thành mà đầu bạc trắng, khi lòng mang nặng mối thù nhà.
9_Long Tuyền(9) thanh tể tướng kiếm, đây là thanh dương, một trong bốn kiếm báu trong kho tàng điển tích Tàu.
(Xin xem chi tiết các chú thích từ, điển ở phần hai )
2.4-Tạm dịch nghĩa
Nỗi niềm hoài bão.
Thế sự mang mang lại(+) tuổi già
Thiên hạ thì vô cùng hãy nhập vào mà hát hàm ca
Thời đến bọn đồ tể , bọn câu cá cũng thành công dễ dàng
Thời qua anh hùng cũng đành nuốt hận
Hết lòng vì chúa có hoài bảo xoay trục đất
Rửa giáp binh không lối kéo ngược dòng sông ngân hà
Thù nước chưa báo thì đầu bạc trước
Bao thời qua đội trăng mà mài kiếm long tuyền .
2.5-Điểm qua đôi nét tài hoa của người xưa
01-về âm vận, Đặng Dung đã dùng âm “a” là một âm vang, âm vui khi sáng tác bài này.
Ông đã dùng rất nhiều điển tích và điển từ của người xưa từ Đỗ Phủ (tẩy binh ) đến các bài minh,bài phú của tiến sĩ Nguyễn phi Khanh (hàm ca ) .
02-về nội hàm câu 2 -“Vô cùng thiên địa nhập hàm ca” đã mang một nội hàm như sau:
Vô cùng thiên địa , lấy ý tưởng trong Luận ngữ của Khổng tử, “Thiên hạ ngôn tai!, tứ thời hành yên, bách vật sinh yên, thiên hà ngôn tai!” , nghĩa là “Trời có nói đâu!, bốn mùa vận hành, trăm vật nẩy nở , trời có nói đâu!” sđd(2) ; các thi nhân Tàu đời Đường mượn nó để diễn đạt cho từ ước lệ “du du” trong thi ca của họ.
+nhập hàm ca , vậy thì ta (Đặng Dung ) hãy nói lên cái chí hướng của mình bằng khúc “hàm ca” , như ngài Nguyễn phi Khanh ngày ấy : “Kiền khôn chi quang tể nan thường, hào kiệt chi kinh luân hữu hội, an đắc tố tử thanh, sung bích hư,tông du u tạo hóa chi sở ngoại da! ” tạm dịch ” Trời đất quang tạnh không thường, hào kiệt làm việc kinh luân có hội, ta mong muốn làm sao được lên khoảng trời tía trong vắt kia, muốn được xông vào cõi biếc thẳm không hư để theo chơi nơi hội ngộ cùng Tạo hóa!”. sđd(2 ).
Câu “Vô cùng thiên địa nhập hàm ca” laiquangnam xin tạm dịch thoát ý thơ là “hãy hòa nhập cùng trời đất huyền ảo để thỏa cái chí của mình”; vì lẽ đó, điều hay nhất là bạn hãy cố gắng nhớ thuộc lòng câu thơ nguyên tác vô cùng kỳ ảo, thay vì vừa ngâm vừa gõ vào miệng ly rượu mà hát nghêu ngao “vô cùng trời đất gõ bầu mà ca.”, quả thật khó có câu thơ thất ngôn bát cú nào xưa nay chuyển tải hết được lời của người xưa trong bảy chữ như thế !
03-Phù địa trục trong câu 5, “Trí chúa hữu hoài phù địa trục”, xin tạm dich nghĩa “hết lòng với chúa có hoài bảo nâng trục trái đất “( riêng Phù địa trục , là xoay đổi trục quay trái đất, là xoay thời vận, làm thay đổi mệnh trời); trí tưởng tượng của người xưa thật phong phú. Ông bà ta ” “Cóc nghiến răng trời phải sợ” nữa mà!.Trong bài Hạo ca hành, của Bạch Cư Dị có nhắc về thời vận, ông nói muốn cho tâm mình được thập phần an lạc thì hãy chớ nên cãi mệnh trời:
功名富貴須待命,
Công danh phú quý tu đãi mệnh,
命若不來知奈何。
Mệnh nhược bất lai tri nại hà ?
Vinh hoa chờ mệnh vuông tròn
Mệnh mà chưa đến chớ hòng hơn thua! Sđd (6)
Rõ ràng phong cách Việt được người tráng sĩ Đặng Dung thể hiện xoay mệnh trời cũng đủ nói lên cái khí phách của tiền nhân ta hơn hẳn người Tàu, triết lý ba Tàu dạy họ luôn chịu cúi mình theo mệnh trời mà Bạch cư Dị (浩歌行) là một điển hình. Hãy hết sức mình, hãy cố mà xoay trục đất lỡ thất bại thì hòa mình cùng trời đất mà vui “Vô cùng trời đất hát hàm ca.” của Đặng Dung là vậy.
03-Mỗi câu hàm chứa một giai đoạn lịch sử có thật xảy ra trên đất nước ta thời ấy. Điển từ và điển tích được ông chọn rất kỹ (Ngũ Tử Tư, kiếm Long Tuyền).(xin xem phần II,đọc thêm)
04-Ông đã đánh giá lại hai nhân vật Phàn Khoái (đồ), Hàn Tín( điếu), ông xếp họ vô loại tiểu tốt, cụ PKB còn dùng từ nặng hơn, họ là bọn bần tiện, đó là một lối đánh giá khác hẳn với cách đánh giá khác với giới sĩ phu Tàu, trong đó thi nhân Đặng Dung cũng cho Trương Phụ người đã thắng ông, và cả đất nước của Trương Phụ cũng là xứ sở bần tiện cực kỳ. Vậy anh hùng là ai?, xin thưa, đó là vua tôi ông và các tướng chiến hữu của ông (xin xem phần II, đọc thêm).
04-Sự dũng mãnh của người tráng sĩ đâu phải chỉ biết cầm gươm xông pha trận mạc, mà còn ý chí, mà còn lối suy tư đứng đắn của một người tể tướng, như các câu 5 và 6 .
05-Lời nhắn gởi kinh nghiệm của người lãnh đạo cuộc kháng chiến, một đời mài thanh tể tướng kiếm Long Tuyền bảo vệ tổ quốc, truyền khí thế, như là di ngôn nhắc nở cho muôn đời sau với kẻ thù phương Bắc.(Xin xem phần II, đọc thêm),các câu 7 và 8.
2.6-Dich thơ quốc âm
Cảm hoài
( Đặng Dung )
Thế sự mang mang lại tuổi già!
Vô cùng trời đất gõ bầu ca10
Gặp thời tiểu tốt lên sao dễ11,
Lỡ vận anh hùng nhận thế ta12!.
Phò chúa một lòng xoay trục đất,
Rửa binh không lối kéo ngân hà!
Quốc thù canh cánh đầu tiên bạc!
Gối nguyệt… mài gươm… mấy độ qua!
Lại Quảng Nam
Chú riêng : gõ bầu ca10 là cách thể hiện “hát hàm ca” ngày nay khi chúng ta đã quá quen thuộc bài Hồ trường ,vô cùng , 11lên sao dễ, 12nhận thế ta là các cụm thành ngữ đa ngữ nghĩa.
2.7-Bản dịch của một thời làm học sinh trung học :
Cụ Phan kế Bính dịch ,
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Cụ Trần Trọng Kim trích đưa bản dịch vào sách Việt nam sử lược của Cụ, nhờ vậy đã được rất nhiều người thuộc do đọc lịch sử. Ngày nay bạn có thể vào google mà tìm sẽ gặp nhiều các bản dịch khác.
III- Lời cuối , đề nghị của người viết.
Tác giả đề nghị bạn nên học thuộc bản văn nguyên tác, bởi khó có một bản dịch nào lột được tất cả ý người xưa, các chữ “hàm ca, đồ điếu, tẩy binh, đầu tiên bạch, long tuyền…”, do hiệu ứng quả cầu tuyết trong ngôn ngữ, chúng đã mang trong mình một sức truyền cảm và gây nên một cảm thú riêng cho khách thơ.
Tại sao đối với một bộ phận chúng ta khó học thuộc nguyên tác nhất là những khách thơ không phải là dân văn chương nhà nòi; có lẽ do vì, có thể có những từ Hán mà chúng ta ngày nay không sao hiểu chính xác được nghĩa vì quá ư xa lạ, hoặc có thể khiến ta hiểu lầm nghĩa gốc khi chúng ở dạng ký tự vuông. Nhằm hỗ trợ các bạn, laiquangnam xin cập nhật phần chú dưới đây :
01-những từ Hán đã được Việt hóa gần hoàn toàn
Thế sự , vô cùng, thiên địa, hận, đa, quốc thù, đầu tiên, bạch, địa trục, vị báo thì các bạn đã rõ .
02- và những từ Hán còn đang chờ thuần hóa ,
du du là mang mang ,dị là dễ ,như giản dị ,ẩm là uống ,ẩm hận là nuốt hận, trí là làm hết bổn phận ,ví dụ trí lực là hết sức, hữu hoài là có hoài bão, phù là nâng, tẩy binh là rửa binh giáp , vãn là kéo lại, xoay lại, vị là vì ,kỷ độ ; đã bao thời qua ,kỷ là bao nhiêu ,độ là đã qua, kỷ độ là bao nhiêu lần qua …,đái là đội , ma là mài, như chữ ma sát trong vật lý học.
Chỉ cần bấy nhiêu các bạn có thể học thuộc nguyên tác được rồi đó. Đọc để nhớ tiền nhân, đọc để cất đi mặc cảm là chỉ có thơ Đường là nhất, quả là quá sức sai lầm do sự “nổ” của những người biết năm ba chữ Tàu!. Hãy đọc đi!dòng thơ chữ Hán của tiền nhân ta còn nhiều lắm.
Xin mời bạn đọc lại một lần nũa, hy vọng lần này thấm hơn,thú vị hơn
Cảm hoài
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma
Đặng Dung
Tham khảo
01-Trần trọng Kim, Lịch sử Việt Nam, nxb THTPHCM, 2005, chương XII nhà Hậu Trần, và các chương khác về sự bạo tàn của Tàu đối với dân Việt trong suốt 1000 Bắc thuộc. Đặc biệt cụ TTK chỉ dùng trước sau một từ Tàu , để chỉ Trung quốc ngày nay!.
02-Nguyễn đăng Thục ,Lịch sử tư tưởng Việt Nam , tập V , (Tư tưởng Việt Nam thời Hồ, 1380-1407) nxb TPHCM ,1998.
03 -Nguyến Hưng Quốc ,Nghĩ về thơ ,Văn nghệ, California,USA,1989
04-Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ ,Văn hóa thông tin,2001
05- trong quá trình viết bài này laiquangnam có xử dụng một số tư liệu khác trên mạng internet, Vvi-wikipedia.com và đã đọc chừng trên dưới hơn 2000 bài thơ Đường để viết lời Xác quyết trên..
06-Laiquangnam ,Đường thi nửa chặng, laiquangnam chọn và dịch các bài thơ Đường hay nhất, chưa xuất bản .
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
Đặng Dung
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Phan kế Bính dịch
hay
Quốc thù canh cánh đầu tiên bạc!
Gối nguyệt… mài gươm… mấy độ qua!
(LQN)
….thế sự du du…,thời lai ,đồ điếu…. ,vận khứ anh hùng , xoay trục đất ,kéo ngân hà, mài kiếm long tuyền …bao kỷ độ? ,và thù nước chưa xong…đầu đã bạc trước..ngàn năm mài kiếm dưới ánh trăng mờ …… .
Ngôn từ trong bài ca với âm “A ” vui và phấn khích sao mà sao vẫn làm lòng người Việt ray rức rối bời vì vận nước. Họ nhận ra ngay người đồng hương mình. Đi xa gặp đồng hương đã vui, gặp người có cùng nỗi niềm tâm trạng thì có gì hạnh phúc cho họ hơn.Tuyệt tác là vậy. Cầu nối vô tận hiện nay của bài Cảm Hoài, nguyên tác của thi nhân tráng sĩ Đặng Dung khiến cho cộng đồng Việt chúng ta xít lại gần nhau hơn để cùng sưởi ấm cho nhau phát xuất từ tấm lòng của người anh hùng vị quốc vong thân .
Xưa nay đối với Người Việt, trăng là chứng nhân, trăng là người bạn tâm tình nhất là lúc nửa đêm thức giấc. Đối với lớp người xưa, đôi khi họ ngâm đôi câu thơ Lý Bạch
舉頭望明月 , Cử đầu vọng minh nguyệt
低頭思故鄉 , Đê đầu tư cố hương
(Tĩnh dạ tư )
Ngẩng đầu trăng vãi trắng trời ,
Cúi đầu đối bóng bồi hồi nghĩ (xót,nhớ) quê!
Một khi trăng còn treo trên trời, ngàn sao sáng còn vây quanh lấy nó, ngày đó con dân nước Việt cho dù họ cách xa ngàn dặm cũng cùng một nỗi niềm như nhau. Họ ngước nhìn lên giữa đĩa vàng sáng rực, họ luôn thấy người anh hùng tráng sĩ kính yêu Đặng Dung của mình vẫn còn đang ngồi đó mà mê mãi mài thanh gươm báu
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Phan kế Bính dịch
“Người nay không thấy thời xa xưa của trăng, nhưng Trăng ngày nay từng chiếu tỏ rạng người thời xưa”( ý thơ LB). Và dấu ấn Người xưa đã được trăng vàng khắc ghi rõ mồn một trên bề mặt mình .”Người nay không thấy trăng xưa, Người xưa gươm sắc đang mài trăng nay”.
Là người Việt hiện nay cho dù bạn đang ở bất cứ nơi nào đó trên trái đất này, tuổi đời tuy có khác nhau, sức học có khác nhau, giới tính tuy có khác nhau, điều kiện sống tuy có khác nhau, thẩy đều đôi lần mượn một trong bốn cặp câu của bài Cảm hoài để tự ru mình trong niềm trăn trở, nghĩ về quê hương đất nước. Bởi thế, vào những đêm trăng tròn tại quê người, bạn thấy ai đó đang thơ thẩn, bước đi chầm chậm, ngước nhìn trời, rồi cúi đầu xuống đất như hoài niệm một lời trăn trở của ai đó, bạn hiền không cần nghe tiếng nói của họ, 100 phần 100 người ấy hẳn là một người Việt tha hương.
Cảm hoài của Đặng Dung là bài đệ nhất thi trong dòng thất ngôn bát cú luật thi .Trác tuyệt là ở đó.
Nhớ xưa,
Thế sự du du nại lão hà…
Khi Giản định Đế vì một phút u mê mà giết người anh hùng Đặng Tất ( cha của tráng sĩ Đặng Dung) và danh tướng Nguyễn Cảnh Chân (cha của người anh hùng Nguyễn Cảnh Dị). Đặng Dung giận điên lên, ông muốn ăn tươi nuốt sống ngay lập tức vì vua này. Vậy mà ông cố dằn và tự nhủ, mình không thể giết Giản Định Đế, nóng vì thù nhà mà đan tâm làm hỏng đại cục!. Nếu giết thì cuộc kháng chiến lâm vào vòng bế tắc, lòng người thêm hoang mang ly tán, chấp nhận Giản Định Đế là hoàng thượng của mình thì lòng đau như cắt khi nhìn kẻ đã giết cha ta!. Nay mình là thuộc hạ. Một tiếng thở dài. Thế sự du du … Cuối cùng ông tự quyết định lấy một cách hết sức khó khăn, bước một Ông sai tướng Trần Súy bắt Giản Định Đế từ Nghệ An mang về Thanh Hóa và lập Trần quí Khoách lên ngôi, hiệu là Trùng Quang Đế. Bước hai Đặt Giản định Đế lên làm thái thượng hoàng, để mình còn tránh mặt mỗi lúc nhớ cha già. Đặng Dung lúc này được phong làm Tư mã, ông cùng Nguyễn Cảnh Dị con của tướng Nguyễn Cảnh Chân ngày đêm lo việc phục quốc đánh trả quân thù. Nguyễn cảnh Dị, Trần Súy, Đặng Dung, Trần quý Khoách (tức Trùng Quang Đế ) có nhân cách cao đẹp, họ đã làm hết sức mình những gì mà họ có thể làm được cho dù vượt quá khả năng họ, đã đề cập ở phần một.
Trong suốt hai chục năm xâm lăng Đại Việt, Minh thành Tổ Vĩnh Lạc và Minh Tuyên Tông xem như cơ hội ngàn vàng bởi hơn 500 năm qua, Đại Việt hoàn toàn độc lập tách ra một lập một cõi trời riêng. Nam quốc sơn hà nam đế cư , Minh thành Tổ Vĩnh Lạc đã tập trung cao độ mọi cố gắng chiến tranh xâm lược sau khi đuổi được Quân Nguyên Mông tại chính đất nước họ. Phương Bắc hành xử như một con sói. Khi bị cắn, bị thương tật thì nằm yên, sau khi lành lặn lại giương mắt sói trong đêm tìm đến Phương Nam săn mồi. Cơ hội đến, Phương Nam có loạn, tóm được cha con họ Hồ giải về Kim Lăng ngay lập tức, Vua Minh nói với Hồ ” Trung Quốc như thế sao không phục mà dám xấc xược chống cự!”.
Năm 1406, trong lần xuất binh thứ hai, họ đã huy động 80 vạn quân dân binh các loại, quyết tâm làm cỏ nước ta và xóa sạch đất nước này trên bản đồ thế giới. Tàu không bao giờ muốn Đại Việt như cục xương luôn chận cổ họng mình khiến họ không sao tìm đường trực tiếp xuống Phương Nam được. Họ lập tức lập kế hoạch hủy diệt quốc gia Đại Việt thật sạch, phá thật nát. Với kế hoạch chu đáo vô cùng độc ác, họ quyết tâm biến nước ta thành quận huyện của Tàu, mà tiền nhân họ, đời Hán, đời Đường vẫn chưa sao làm trọn gói được.
Minh Thành Tổ chỉ đạo cho Trương Phụ và chư tướng bằng văn bản hành động cụ thể, lệnh truyền rằng:”chỉ trừ những bản kinh sách về Thích, Đạo không hủy, còn tất cả những bản in sách, giấy tờ cho đến các bài trẻ con học như: ” Thương đại nhân, Khâu ất kỷ “thì nhất thiết một mảnh giấy, một chữ cũng phải hủy đi cho kỳ hết”. Đốt sạch hủy sạch, họ làm triệt để hơn những gì mà 1000 năm trước Mã Viện đời Hán đã làm với nước ta. Lệnh truyền rằng, “Chỉ những bia nào do Ta (tức Tàu) dựng lên từ ngày trước thì để lại, còn những bia nào do An Nam lập ra thì phải hủy cho kỳ hết, một chữ cũng không được để sót”.
Đến tháng 6 năm 1407 nhà Minh nhắc lại một lần nữa, đến tháng 8 năm 1418 thì họ gom cú chót chở về Tàu. Binh thư Lý Trần mất sạch.” , không những thế mà họ còn mang 200* sư sãi về Đại Minh học lại tiếng Hán cho thuần với (sđd (9,TVG) ) chính quốc trong đầu Y ( vua Minh) chỉ có bọn thầyChùa mới này mới đủ nội lực đẩy lùi dòng thiền Phật giáo nhập thế Lý Trần trên đất nước Đại Việt xưa. Âm Hán Đường mà người nước ta tạm dùng đã quen tưởng như của riêng mình với cách hành văn phảng phất tiếng nôm trong văn thư, văn học nay nhà Minh muốn nó phải được đọc lại theo âm Yên kinh (Bắc kinh) ngày nay. Bởi họ không hiểu người Đại Việt nói gì khi phát âm đó với cùng một ký tự. Luyện tay sai phải luyện phát âm cho giống mẫu quốc. Họ đem về Yên Kinh đào tạo và tái đào tạo lại bọn Sĩ (士), bọn đội Hán mới, nhóm này men theo đường khoa bảng xuất hiện 70 năm sau tại Đại Việt (cuối đời Lê Thánh Tông, và dẫn đến cuôc chiến tranh Nam Bắc dài dằng dặc trong lịch sử Đại Việt) sau này.
Kinh sợ thay cho một bàn tay của xếp đặt của nhà vua Tàu, Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc. Than ôi, văn hóa Đại Việt “cắc ca cắc củm” trong gần 500 năm, do một phút ngu muội của vua Trần nghệ Tông, dại dột nuôi ong tay áo, bị thằng giặc Hồ Quý Ly dụ dâng cô cho đứa con gái rặc Tàu của hắn mà nhà vua mê mệt và mê muội để dẫn đường cho cha vợ mình cướp ngôi tiên đế.
Văn hóa Đại Việt bị tiêu hủy sạch!.
….thế sự du du….vì quân lực, vũ khí đâu còn!.Thôi thì hãy nhắc cho nhau nghe lời hịch tướng sĩ năm xưa của Hưng Đạo Đại Vương với các dòng sau mà ông còn nhớ trong ký ức:
“Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; Có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; Có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. ….
…….Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; Mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; Vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; Chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; Giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. … “
” Nay các ngươi Ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; Thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; ….”
Nhờ vào hào khí năm xưa vẫn còn đọng lại đâu đó trong lòng người Đại Việt, nay có dịp sống dậy. Họ nhận ra ngay lỗi của mình và xông ra vác súng gươm xung trận .
Bên ta, ai là người xông pha ra trận chống kẻ thù đều được gọi là anh hùng, là Kẻ Sĩ. Ngay từ lớp đệ thất, đệ lục thời VNCH, tức lớp 6,7 bây giờ, thế hệ tôi cũng được học qua câu trong Bích câu kỳ ngộ hai câu :”Anh hùng mấy mặt xưa nay ,Trăm năm nát với cỏ cây cũng là”. Người nào đã từng nghe ,từng tắm gội thấm nhuần tính cách người xưa, phục cái khí khái của người xưa thì lòng yêu nước sẽ ăn sâu vào trong tim họ, đó là là chuyện thường tình. Xã hội nào sản sinh con người ấy. Danh sĩ Lý Tử Tấn đời Hồng Đức đã khen: “phi hào kiệt chi sĩ bất năng “, sau Dương Văn An trong sách “Ô châu cận lục” cũng khen tiếp, hai cha con họ Đặng:” Đương lúc vận nhà Trần sắp hết mà hai người đều tận tâm, tận lực đánh giặc cứu quốc, nâng vận nước khi sắp hết, chống nhà lớn lúc đã xiêu ….”. Những con người như Nguyễn Cảnh Dị, Trần Súy, Đặng Dung, Trùng Quang Đế; họ xứng đáng được gọi là anh hùng, là kẽ sĩ “Chớ đem thành bại luận anh hùng” [Đào duy Từ] , và bạn hiền vốn là người yêu lịch sử chắc nhớ câu thơ gần đây nhất của anh hùng Nam Bộ Nguyễn hữu Huân ngâm vào lúc bi giặc Pháp hành hình
Anh hùng mặc bả doanh du luận
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu
Anh hùng có sá chi thua được
Tiết nghĩa nào phai với đất trời!
Nguyễn duy Nhường ,dịch
Hơn nhau là khí phách. Thất bại này không sao, nó sẽ nhóm lửa một mồi cho ngọn lửa sẽ bùng cháy dữ dội vào ngaỳ mai. Gian khổ phải qua tôi luyện .Nhờ vậy mà Bình Định Vương Lê Lợi đã thành công sau đó; nhưng nước ta cũng đã tan hoang rồi!.
Văn hóa Đại Việt đã bị nhiễm độc do Minh triều cấy vào từ chính sách đào tạo bọn tay sai của họ, chính sách đào tạo Sĩ (士), quan Bờm. Chùa chiền thì nay đã thay da đổi thịt, đã có một lớp tu sĩ Tàu mang giáo lý sặc mùi Đạo giáo vào Phật giáo do Minh Vĩnh Lạc cấy vào. Dấu ấn này nay còn ghi dấu trong lá bài có tên là Thầy, cửu Thầy hay Thầy Chùa trong Bộ bàiChòi( hay bài tới Quảng nam) . Cửu Thầy là anh có học gian ác bậc thứ 9, còn cao hơn cả anh đại tham quan bậc tám là Bát Bồng,viên quan Bờm gom đến cả bộ lư hương của dân chúng về nhà mình cho bằng được mới thôi. Và anh cửu Thầy hay Thầy Chùa thì đầu đã mọc sừng, mặt che quạt mo .
Sức học chữ hán của mấy anh là sức học của một tá điền cảm nhận.
Nhớ xưa
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Đó là hai câu thơ trong căp (3,4) của bài Cảm Hoài. Là hai câu đúc kết trong phần luận anh hùng của người thi nhân tráng sĩ Đặng Dung. Là người con dân nước Đại Việt, là tráng sĩ, là thi nhân mang tâm hồn Việt, ông đã được thủ đắc một nền văn hóa thời Trần, thời sản sinh ra Đức Thánh Trần, Hưng Đạo Đại Vương lừng lẫy trong binh sử không những của Đại Việt mà còn trong binh sử thế giới nữa. Đặng Dung giữ chức tư mã, tổng chỉ huy cuộc kháng chiến chống Minh. Ông là con nhà nòi, dòng họ ông là dòng họ “ăn học” và khoa bảng. Muốn con mình trở thành tướng tài,người cha yêu của Đặng Dung dạy ông bổn phận trách nhiệm và tư cách của một người làm tướng nước Đại Việt, đã từng ngồi dạy ông từng trang sử, từng trang trong Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Đại Vương” rồi nay ông giở ra học tập,nghiền ngẫm ;
“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối,
Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa;
Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù;
Dẫu cho
Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ,
Nghìn thây ta bọc trong da ngựa,
Cũng nguyện xin làm!
” Hịch tướng sĩ” .
Hưng Đạo Đại Vương là vị thánh sống của dân tộc Đại Việt. Đọc dòng cổ sử sau đây có thể Bạn hiền không sao cầm được nước mắt. Một danh tướng phải luôn có một nhân cách lớn, giỏi cả văn lẫn võ, biết thương yêu và tiếc thương xương máu đồng bào mình. Quên thân vì đại cuộc. Cho dù Ngài là được đồng bào mình nhất mực tôn thờ, kính thương gọi là Quốc Phụ, vậy mà Ngài khi nhắm mắt lại có một lời dặn cực kỳ đơn giản với người con rễ là danh tướng Phạm ngũ Lão mà ngài rất mực thương yêu, truyện kể rằng, Ngài cầm tay vị tướng họ Phạm này vào lúc lâm chung :
“Đời làm tướng của ta, trước đây khi ta đang còn chỉ huy binh sĩ, vì việc chung, vì nghiêm lệnh, mà ta đã nhiều lần dấu đi dòng nước mắt để án tử được thi hành**, gia đình họ có người vì không hiểu lòng ta nên đã để bụng căm thù. Vậy, khi ta đã mất đi, các con hãy giữ lời nguyện này mà thiêu ta và mang tro bụi nhục thể ta mà rải trên khắp non sông cẩm tú này. Các con hãy rải các nơi ta đi từng đi qua. Rải nơi ta đã từng chiến đấu bên đồng đội ta. Rải nơi ta đã từng cùng buồn, cùng vui khi ta ngồi cùng với hàng thuộc tướng, hàng binh sĩ dưới bóng cây nhân lúc nghĩ trưa. Rải nơi ta đã cùng đói cùng no với họ, cùng chia nhau củ khoai, bát nước khi bị giặc vây hãm hay trên đường rút lui để bảo toàn lực lượng. Hãy mang rải nơi các anh hùng vô danh vị nước vong thân mà cho đến bây giờ ta chưa kịp thắp nén nhang tưởng niệm trên từng nắm mồ của họ. Xin hãy để cho ta được yên nghĩ muôn đời nằm bên họ. Rằng cuối đời, họ nào có khác gì ta.Ta họ luôn có nhau.”.
Phạm Ngũ Lão làm thinh, cúi đầu nghe lời di huấn. Tướng quân họ Phạm cố nuốt nước mắt vào trong, cố gắng hết sức mà cũng chỉ là gật gật cái đầu ngầm tỏ ý vâng lời. Ngài mĩm cười mãn nguyện, sờ tay người rể yêu lần cuối cùng rồi lặng rẽ ra đi. Cái chết của một đại danh tướng, một đại văn nhân, một vị thánh sống có thật của dân tộc ta là như thế, nó cũng đã khác người đời thường.
Hưng Đạo Đại Vương, đức Ngài không có lăng, ngày nay Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định đều nhận Đức Thánh Trần là người con ưu tú của quê hương mình. Nay người Việt muốn tìm đến lăng Ngài để trầm ngâm suy nghĩ lời khôn dại thì biết tìm ở đâu?. _Thì nó ở trong mỗi trái tim người Việt trên khắp thế gian này. Bạn thử đưa bàn tay phải lên ngực trái của mình, bạn sẽ gặp Ngài. Ngay tại Saigon, trên đường Võ thị Sáu, Q I,ngày nay, tức đường Hiền Vương ngày xưa, lăng Ngài ngày đêm vẫn luôn ấm áp vì hương khói do các người con Ngài thuộc hội Bắc Việt tương tế thay phiên nhau chăm sóc. Ngài sống vĩnh hằng trong lòng dân tộc Việt .
Chính vì những giòng sử vàng như thế khiến Đặng Dung đánh giá rất thấp bọn họ, bọn Phàn Khoái và Hàn Tín. Dưới mắt ông và tiền nhân chúng ta sau này, bọn họ không có cửa để gọi họ là anh hùng. Họ chỉ là bọn “đồ điếu”, là bọn bần tiện. Bạn hiền hãy tìm nghe âm ” đồ điếu” của do người đất Bắc đọc bạn sẽ thấy rất đổi thâm trầm. Họ là những “Thằng Mặt Lì ” !
Thân ái .
Quê người ngày giỗ Ngoại
Vài bài dịch thơ quốc âm và chú thích
*Theo nguyên tắc của văn học sử thì bài thơ trên bắt buộc phải gọi là CẢM HOÀI tên thương hiệu của nó, một danh tác mang dấu ấn Đặng Dung.Tên Cảm Hoài đã được Lý Tử Tấn đời vua Lê Thánh Tông chép lại và công bố trước tiên. Mấy trăm năm sau trong
Toàn Việt Thi Lục của Lê Quí Đôn (1726 – 1784) thì nhà bác học này mới chép lại và ghi lại là Thuật hoài.
Xin hãy dành tên “THUẬT HOÀI” để tưởng nhớ về một danh tác tác khác của người anh hùng Phạm Ngũ Lão. Một trong các chiến công của Phạm tướng quân là cuộc vây bắt tên Việt gian do một người phụ nữ Việt xấu số chẳng may vơ phải một anh Tàu lái buôn vùng Quảng Ninh, người Quảng Đông sinh ra nó ,nó tên là PHẠM NHAN .
Phiên âm
Cảm hoài
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
Đặng Dung
01
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Phan kế Bính dịch
02
Cảm hoài
( Đặng Dung )
Thế sự mang mang lại tuổi già!
Vô cùng trời đất gõ bầu ca
Gặp thời tiểu tốt lên sao dễ,
Lỡ vận anh hùng nhận thế ta!.
Phò chúa một lòng xoay trục đất,
Rửa binh không lối kéo ngân hà!
Quốc thù canh cánh đầu tiên bạc!
Gối nguyệt… mài gươm… mấy độ qua!
Laiquangnam dịch
** Ý nói Ngài hồi tưởng lại kỷ niệm xưa.
Câu chuyện về con voi trận sa lầy tại giòng sông Hóa giang thuôc tỉnh Thái Bình.
Trong một lần xuất quân trong cuôc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ II, lúc vượt giòng sông HÓA, binh sĩ phải đưa con voi trận của Ngài xuống thuyền vượt sông. Chẳng may khi bước xuống thuyền, thuyền nghiêng, voi bị trựợt chân và bị sa lầy. Lại gặp lúc triều lên biết không cứu voi trận được ngài ra lệnh bỏ lại. Nhìn voi lần cuối, Ngài mà rơi nước mắt. Ngaỳ ấy dân còn mê tín, ai đó trong hàng binh sĩ xì xào ” mới xuất quân mà gặp xui chắc là mình sẽ ….”. Binh sĩ có phần hoang mang. Ngài buộc lòng phải ra lệnh chém nếu ai còn bàn bạc chuyện không may này. Lúc từ biệt voi, ngài cầm gươm chỉ xuống giòng sông Hóa mà thề rằng: “nếu không thắng được trận này thì ta thề không thể bao giờ quay lại khúc sông này”. Binh sĩ biết đó là lời thề tử chiến cùng kẻ thù của một đại vương danh tướng nên họ dốc hết sức và quân ta đã thắng trận; tất cả Họ đều đã quay về. Ngài ra lệnh làm một con voi đá tại bến sông này để tưởng nhớ con vật thân yêu . .
***Phùng nhập kinh sứ của Sầm Than là một bài thơ tứ tuyệt có nội dung tạm tóm tắt như sau:” …Mắt luôn ngóng nhìn về nơi phía xa mờ kia, ở đó có vườn nhà ta mờ ảo nằm dưới bóng mây. Lòng thương nhớ quê hương, nước mắt thấm đầm hai ống tay áo. Sáng nay ta vào kinh nhận nhiệm sở mới, gặp bạn đồng khoa nói mình sẽ nhậm chức tại quê nhà . Mừng quá nhưng trên lưng ngựa làm gì có giấy bút .Thôi thì …và hai câu cuối là
“Nay gặp bạn ,ta lại không giấy bút ,
Nhắn miệng dùm ta trời bên nớ ta vui .”
theo ý thơ Sầm Tham http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_samtham_phungnhapkinhsu.htm
Tham khảo :
1-Sử gia TTK ,năm 1919, ghi là Trần quí Khoách. Sử gia Hànội gọi là Trần quí Khoáng..
2-Laiquangnam ,Đường thi nửa chặng, bản thảo .laiquangnam chọn và dịch các bài thơ Đường hay nhất, chưa xuất bản
3-Trần trọng San dịch , Kim Thánh Thán phê bình thơ Đường, tủ sách ĐHTH TPHCM , 1990
4-Ngô Nguyên Phi, Những nhân vật Hán Sở ,nxb Lao Động 1994,
5-Sử ký Tư Mã Thiên, Phan Ngọc dịch, NXB Văn học,2003, Chương Hoài Âm Hầu liệt truyện,trang 575,nxb Văn Học ,2003
6-Hịch tướng sĩ ,của Đức Thánh Trần Hưng Đạo, bản dịch của Ngô Tất Tố
7-Lý Tôn Ngô (1879-1944) người Thành Đô , ông viết Hậu Hắc Học ,tính đến năm 1990 sách ông đã bán trên 300000 bản .Ông là giáo sư ĐH tại Tứ Xuyên.có tham gia cách mạng Tân Hợi (1911) Người dịch là Nguyễn Trinh _Huy sinh , nxb VHTT,2000.
8-Hữu Tuấn ,Trang sách hồn nước, nxb trẻ ,1998
9-ĐVSK toàn thư
10-Trần Văn Giàu chủ biên, Lịch sử Việt nam, gồm 3 tập, NXB Trẻ,trang187 tập1
Tâm tình ,ghi vội ,
© Sau này trong lịch sử dân tộc ta Gia Long cũng hành xử y như thế. Hiền tài tan, quốc gia suy vong. Pháp vào Việt nam như chỗ không người với một đội quân vô cùng ít người Pháp đã chiến thắng. Người Việt mất nết chạy theo”bợ đít ” làm Việt gian cho giặc. Điều này đậm nét hơn khi mà Gia long cam tâm đặt nền đội Hán lên đầu vương triều mình .
11- Laiquangnam giới thiệu thi nhân tráng sĩ ĐặngDung
Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn :
“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn “.
Nguồn ” Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn cùng pho sách lịch sử ” của sử gia Nguyễn khắc Thuần.


