3 thg 8, 2026

BIỆN ĐẠO (BÀI 7)

 


BIỆN ĐẠO (BÀI 7)


ĐẠO KHỔNG: HỌC VỚI MỤC TIÊU GIÚP ÍCH XÃ HỘI GIÚP NGƯỜI HỌC THÀNH TỰU TÀI NĂNG VÀ ĐỨC HẠNH 


Tác giả: Ogyu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng


***

Lời thưa trước

Bài này có nội dung dài thứ 2 sau bài 22 trong 25 bài của Biện Đạo. Ngoài ra, giáo thụ Nishida Taichirô đã chịu khó nghiên cứu các tài liệu mà Sorai trích dẫn hoặc có thể đã tham khảo. Người dịch cho rằng đây là thông tin đáng quý nên đã cố gắng tìm đến nguyên văn và biên dịch lại để cung cấp đến quý độc giả cơ hội khi muốn tìm hiểu thêm chi tiết, đồng thời để thấy mức độ học rộng hiểu nhiều của Sorai. Do đó, số trang cho bài này trở nên rất dài, mong được thông cảm.

Ở đây người dịch thử dùng cách diễn tả của toán học để tóm tắt ngắn gọn ý chính của mỗi đoạn để quý độc giả có thể nhanh chóng nhớ lại nội dung mà không phải mất thời giờ đọc.


 BÀI 7

Đạo Khổng xem đức nhân (= biết lo việc an dân) quan trọng nhất

Đạo Khổng lấy đức nhân làm to lớn (quan trọng) nhất. Tại sao vậy? Bởi vì đức nhân thể hiện ra (cho thấy cụ thể) hết nội dung của đạo tiên vương. Đạo tiên vươngđạo an dân (an thiên hạ) (tạo cho dân cuộc sống hạnh phúc, hòa bình và thịnh vượng). Mặc dù nội dung đạo tiên vương bao gồm rất nhiều lĩnh vực nhưng mục đích quy tụ lại của đạo là chỉ để thực hiện việc an dân (= nhân).

Cơ sở của đạo Khổng là kính thiên mệnh (=nhiệm vụ an dân của trời giao phó)

Cơ sở của đạo Khổng (tức đạo an dân) kính thiên mệnh (tôn trọng việc trời bảo phải làm mà việc trọng yếu nhất là an dân). Nếu như thiên mệnh bảo ta làm thiên tử (vua cả nước), hoặc làm chư hầu (vua nước nhỏ, người đứng đầu của 1 vùng) , hoặc làm đại phu (chức quan lớn của cả nước, như bộ trưởng ngày nay) thì trời cho ta có bề tôi (cấp dưới cùng phụ giúp thực hiện nhiệm vụ) và dân (ý nói trời cho ta chào đời trong các gia tộc của vua, chư hầu và quan đại phu). Nếu như mệnh trời bảo ta làm người (chức quan nhỏ hơn đại phu hoặc người có học thức để phục vụ xã hội) thì trời cho ta dòng họ (tôn tộc) và vợ con. Tất cả đều chờ ta lo cho họ được sống an vui hạnh phúc. Ngoài ra, người, đại phu (nguyên văn không viết nhưng bao gồm cả chư hầu) là những người được trời giao phó giúp vua thực hiện thiên chức an dân (phục vụ xã hội) (1). Do đó, đức nhân  (phục vụ xã hội) phải là đức cao nhất đối với đạo của người quân tử (tức là đạo của những người được giao cho thiên chức an dân). Hơn nữa, gần gũi trông nom nhau (tương thân), thương yêu nhau (tương ái), giúp nhau cùng phát triển (tương sinh), giúp nhau đạt được mục đích (tương thành), giúp đỡ nhau làm việc cho tốt (tương phụ), nuôi dưỡng bồi đắp nhau (tương dưỡng) , chỉnh sửa nhau (tương khuôn) , giúp nhau khi hoạn nạn (tương cứu) là bản tính bẩm sinh của con người (a). (Chúng ta nên nhớ rằng nhờ có bản tính này mà con người còn tồn tại đến ngày nay trong điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên. Ngày nay sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật đã làm cho con người có khuynh hướng quên đi điều căn bản này nhưng ngẫm nghĩ kỹ lại sẽ thấy không sai.)

Nhânđức để đủ tư cách làm người (giải thích của Mạnh tử)

Do đó, Mạnh tử nói: “Nhânđức để đủ tư cách làm người (nhân dã giả nhân dã仁也者人也). Kết hợp con người và đức nhân lại với nhau là đạo làm người.” (2) . Tuân tử nói “Quân(vua) quần ” là người giỏi tụ họp được số đông người (quần) (Quân giả quần dã 君者群也) (3). Vì vậy, đạo làm người không phải chỉ nói về 1 cá nhân của con người mà chắc chắn là nói cho tập hợp của hàng vạn ức con người hợp nhau lại. Bây giờ hãy nhìn xem trong xã hội có ai sống riêng rẻ mà không sống chung với người khác không?

Đạo tiên vương kết hợp và phát huy được bản tính con người là thân yêu nhau cùng giúp nhau sinh sống và phát triển

Sĩ, nông, công, thương đều tương trợ nhau để sinh sống. Nếu không tương trợ nhau thì không thể nào sinh tồn được. Mặc dù là hạng người trộm cắp nhưng chắc chắn họ cũng phải có đồng bọn. Bởi vì nếu không có đồng bọn (không tụ họp chung lại như vậy) thì họ không thể nào sinh tồn được. Người có khả năng kết hợp, thống lãnh được hàng vạn ức con người là vua (quân). Đạo mà có thể kết hợp được hàng vạn ức con người và phát huy được bản tính thân yêu nhau cùng giúp nhau sinh sống và phát triển là đạo tiên vương

Học đạo tiên vương là để có được đức trong con người của mình (thành đức ư ngã). Có được đức bằng việc học đạo tiên vươngngười có đức nhân (nhân nhân) (Nên lưu ý, có được đức của đạo tiên vương mới là nhân nhân, chứ không phải có loại đức nào khác cũng là nhân nhân, bởi vì nội dung của đạo tiên vương là đào tạo, hình thành đức nhân ở người học. Thí dụ có tài đức nhưng chỉ phục vụ cho bản thân thì không phải là nhân nhân. Do đó đạo tiên vương xem nhânchí đại). 

Học với mục tiêu giúp ích xã hội giúp người học thành tựu được tài năng và đức hạnh (Nhân (= giúp đời) Tài + Đức)

Người(người học để phục vụ xã hội) muốn học đạo tiên vương để có được đức nhưng đạo tiên vương lại bao trùm nhiều lĩnh vực. Trong khi đó bản tính bẩm sinh (hoặc năng khiếu) của con người lại đa dạng có nhiều loại. Do đó, nếu như người học biết nhận thức rõ rằng đạo tiên vương cốt yếu hướng về việc xây dựng xã hội được an vui mà để hết sức lực khả năng của bản thân hướng về nhân (tức là học với mục đích giúp ích xã hội) (4) thì ai cũng có thể thành tựu được 1 hay vài lĩnh vực trong đạo tiên vương mà lĩnh vực đó gần với bản tính bẩm sinh (hoặc năng khiếu) của mình (5). Thí dụ, trong các đệ tử của Khổng tử, Trọng Do (tựTử Lộ) thì dũng cảm (dũng), Đoạn Mộc Tứ (tự Tử Cống) thì thông thái (đạt), Nhiễm Cầu (tự là Tử Hữu) thì giỏi nhiều kỹ năng (nghệ) (6). Mỗi người đều thành tựu 1 loại tài năng, đủ để gia nhập vào nhóm của người có đức nhân (b), và khả năng của họ đủ để phục vụ cho việc an dân. Về việc thành tựu đức thì giống như (đức) thanh bạch của Bá Di và Thúc Tề, (đức) ôn hòa của Liễu Hạ Huệ, (đức) chịu đựng được trọng trách của Y Doãn (7). Tất cả đều không cần phải thay đổi bản tính của mình mà không có trở ngại để trở thành người có đức nhân (nhân nhân). Nếu như người học không biết dùng tâm sức học hướng về nhân (tức là học mà không có mục đích để giúp ích xã hội) thì cả tàiđức đều không thành tựu. Đó là trường hợp của các học phái khác. Do lý do này mà học phái của Khổng tử xem trọng và truyền dạy (đức) nhân

Đức nhân, ngoài yêu thương (ái) cần phải có ơn huệ (trạch) cụ thể đi kèm (nhân≈ ái + trạch)

Lòng trắc ẩn (không nở lòng bỏ qua người đang bị hoạn nạn) (8) là tình thương yêu mà Mạnh tử dùng để giải thích đức nhân. Bởi vì thuyết tính thiện (Mạnh tử chủ trương bản tính bẩm sinh con người là thiện) phải căn cứ vào tâm nên ông phải dùng tình thương yêu mà giải thích đức nhân. Tuy nhiên dù có lòng tương yêu nhưng không thể đem ơn huệ đến được cho người hoặc vật (nghĩa là giúp ích cụ thể) thì có thể gọi nhân (có đức nhân) không? Do lý do này, Mạnh tử mới phải chủ trương thêm việc quản trị dân chúng bằng đức nhân (nhân chính) (9)

Các hậu Nho không phát hiện ra việc Mạnh tử chủ trương tính thiện là để khích lệ con người, và họ lại cho rằng ở mặt nỗ lực hướng về nhân, không có học thuyết (chủ trương) nào thích hợp hơn của Mạnh tử (Ý Sorai ám chỉ Chu Hy và Itô jinsai) (10). Cho nên họ chủ trương làm cho lòng trắc ẩn mạnh lớn thêm để hoàn thành đức nhân của thánh nhân. Phải nói chủ trương này là ý tưởng hoang đường, không biết phận mình (bởi vì để có được đức nhân trong con người của mình không phải dễ dàng như vậy). Người đưa ra chủ trương trên (tức Jinsai) lại nói thêm rằng Phật giáo có nhân nhưng không có nghĩa (11). Tuy nhiên, Phật giáo không có đạo an dân thì làm sao có thể nói là có đức nhân?

Mặc tử (12) lại cho rằng ở đạo tiên vương không có gì cao hơn đức nhân, và nghĩ rằng nhân có thể thay thế hết được mọi thứ khác. Đúng là “Đức vĩ đại của trời đất là (đức) sinh” (cho ra đời , cho sống) (13), và nhân cũng là đức vĩ đại của thánh nhân nhưng Mặc tử không hiểu rằng mặc dù nhânđức vĩ đại nhưng cũng chỉ là 1 thứ đức. Nếu như đức của trời đất chỉ tóm thu về đức sinh thì tại sao là có thêm mùa hạ, mùa thu và mùa đông (tức 2 mùa gây khó khăn cho sự sống). Nếu đức của thánh nhân chỉ tóm thu vào đức nhân thì tại sao lại có các thứ đức như dũng, trí, tín, nghĩa (b)Mạnh tử đưa ra nhânnghĩa để đả phá chủ trương của Mặc tử là đúng (14). Tuy nhiên, bởi vì đem nghĩa nói chung ngang hàng với nhân nên đức nhân từ đó trở thành thứ đức nhỏ! Chủ trương đức nhân là to lớn của khi xưa đã đi đâu rồi! (Có lẽ vì lý do này mà người đời sau quên đi đạo Khổng là đạo an dân, chỉ hạn định đạo Khổng như đạo tu thân của cá nhân. Thật đáng tiếc!)

Tống Nho bỏ qua mục đích thực tiễn của đạo tiên vương mà chỉ chú trọng lý lẽ khi giải thích ý nghĩa của nhân

Tống Nho lại muốn kết hợp cả 2 trường hợp “lớn” và “nhỏ” nói trên của đức nhân nên đặt ra phân loại bằng 2 từ vựng chuyên ngôn 専言(hoặc thống ngôn統言) thiên ngôn偏言 (15) Chuyên ngôn dùng để chỉ trường hợp đức nhân bao gồm hết tất cả các đức khác như nghĩa, lễ (theo Sorai lễnghĩa không phải là đức), trí. Thiên ngôn dùng để chỉ trường hợp nhân đi chung với các đức khác (thí dụ, khi nói nhân nghĩa). Họ mong rằng bằng cách này có thể tránh sự đối nghịch lẫn nhau khi sắp xếp lời dạy của Khổng tử và lời dạy của Mạnh tử chung với nhau. Đó là chủ trương của phái Lý học (tức học phái của Trình tử và Chu tử, của Tống Nho) (16). Họ bỏ qua cái thực tiễn mà các tiên vương dùng để an dân, họ chỉ muốn sự rõ ràng ý nghĩa ở mặt ngôn ngữ! Việc làm của họ đủ để người đời hiểu rõ đạo tiên vương, đạo Khổng hay sao?

Đạo tiên vương bao quát nhiều lĩnh vực. Ở đây thử nêu ra giải thích vài nội dung đặc biệt (đặc dị). Trong việc quản trị dân chúng việc cấm bạo động, quân sựhình phạt là việc đưa đến giết người, những nội dung này có thể gọi là (đức) nhân không? Tuy nhiên, những việc này cần để an dân (d).

Cần chọn thứ đức thích ứng với bản tính mà tu dưỡng cho thành đạt với mục đích phục vụ xã hội được an vui = “Cứ ư đức, y ư nhân

Nội dung dạy của đạo tiên vương trải rộng trong nhiều lĩnh vực. Trí tự nó để chỉ sự thông minh, sáng suốt (trí), dũng tự nó là để chỉ sự can cảm, không sợ sệt (dũng), nghĩa tự nó để chỉ sự thỏa đáng của đạo làm người (nghĩa), nhân tự nó để chỉ sự lo an vui của xã hội (nhân), chắc chắn không thể trộn lẫn với nhau. Tuy nhiên, với điều kiện tiên quyết (tiền đề) tuyệt đối không đối nghịch, chống đối lại đạo tiên vương thì có thể nói là trí, dũng nghĩa chung với nhân. Thí dụ, Khổng tử nói “Hãy nắm giữ vững đức gần với bản tính của mình làm cơ sở nền tảng (cứ ư đức拠於德) để tu tập bồi dưỡng, đồng thời lấy mục tiêu phục vụ xã hội cho xã hội được an vui mà điều chỉnh nội dung tu tập, bồi dưỡng của bản thân (y ư nhân依於仁)” (17) (e). Mỗi người cứ vào (nắm giữ vững chắc) bản tính bẩm sinh của mình và không để mất thứ đức thích ứng (với bản tính của bản thân). Đức của bản tính bẩm sinh của con người thì có nhiều thứ (đa đoan), tất cả các thứ đức này đều không gây ra trở ngại cho (đức) nhân. Chỉ bởi vì không nuôi dưỡng thứ đức thích ứng với bản tính cho đến mức trọn vẹn nên đức thích ứng với bản tính đó chống chọi, đối lập với đạo. (Bởi vì mục tiêu của đạo là an dân, nên nếu không nuôi dưỡng đức tương ứng với bản tính vì mục tiêu này mà chỉ vì lợi ích riêng tư cho mình thì đức này sẽ đối lập với đạo). Phương pháp nuôi dưỡng đức thích ứng với bản tính là y vào nhân (y ư nhân) và vui chơi (du) (f) với nghệ. (Nên nhớ lục nghệ gồm có: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số; trong đó lễ, nhạc là trọng yếu). Ý nghĩa của y giống ý nghĩa của y trong câu thanh y ư vịnh (âm thanh nương tựa vào sự ngân dài) (18). Âm thanh của tiếng hát cùng âm thanh của nhạc cụ và sự ngân dài của lời hát chắc chắn phải nương tựa, phối hợp (y) lẫn nhau. Tương quan của trong đục, của nhịp điệu (tiết tấu) cũng vậy, và tương quan này gọi y. Y ư nhân cũng giống như vậy. Mặc dù mỗi người cứ vào đức (thích ứng với bản tính) của mỗi người nhưng tu dưỡng đức đó theo đạo an dân của tiên vương mà không nghĩ đến việc vi phạm thì mỗi người có thể hoàn thành được đức thích ứng với bản tính bẩm sinh của mình. Cách dạy của đạo Khổng là như vậy.

Giải thích nhân của Tống Nho chẳng khác gì với Phật giáo

Thông thường đạo tiên vương tức đạo Khổng đều có thể dùng hoặc để quản lý, vận hành cho mọi sự việc nhưng phương châm quan trọng nuôi dưỡng để trưởng thành và phát triển lớn lên (g). Tuy nhiên, người đời sau (ám chỉ Tống Nho), bằng hiểu biết trước mắt của họ, mọi việc đều muốn giải quyết nhanh chóng bằng đức nhân. Do đó, họ phải cấp tốc nhảy vọt lên tầng cấp giải thích sự việc bằng lý lẽ () (19). Suy xét đến cùng thì học thuyết này (tức lý học) không khác gì với lý luận pháp thân (chân lý vĩnh cửu bất diệt) của Phật giáo (20). Thật đáng buồn làm sao!

Tóm tắt ý quan trọng

- Đạo Khổng xem đức nhân (= biết lo việc an dân) to lớn nhất.

- Cơ sở của đạo Khổng là kính thiên mệnh (=lo việc an dân).

- Nhân là đức để đủ tư cách làm người (giải thích của Mạnh tử).

- Quân (vua, lãnh tụ) là người có năng lực tụ hợp (quần) số đông người (giải thích của Tuân tử).

- Đạo tiên vương kết hợp và phát huy được bản tính con người là thân yêu nhau cùng giúp nhau sinh sống và phát triển của con người.

- Học với mục tiêu giúp ích xã hội giúp người học thành tựu được tài năng đức hạnh (Nhân (= giúp đời) Tài + Đức).

- Đức nhân, ngoài yêu thương (ái) cần phải có ơn huệ (trạch) cụ thể đi kèm (nhân≈ ái + trạch).

- Tống Nho bỏ qua mục đích thực tiễn của đạo tiên vương mà chỉ chú trọng lý lẽ khi giải thích ý nghĩa của nhân仁.

- Cần chọn thứ đức thích ứng với bản tính mà tu dưỡng cho thành đạt với mục đích phục vụ xã hội được an vui = “Cứ ư đức, y ư nhân”.

- Giải thích nhân của Tống Nho chẳng khác gì với Phật giáo.

Nguyễn Sơn Hùng

Dịch xong ngày 10/5/2026

Xem lại và bổ sung ngày 13/6/2026, 26/7/2026

Nhận xét

(a) Vào thời điểm hiện nay, tức thời điểm mà khoa học và kỹ thuật cùng  với khả năng sinh kế của con người tương đối cao, người dịch nghĩ rằng ít người nghĩ rằng những đặc tính Sorai nêu ra ở đây là bản tính bẩm sinh của con người. Nhưng nếu trở lại thời mà tổ tiên con người khi còn sơ khai nếu con người không có bản tính này thì liệu con người còn có thể sống tồn tại đến ngày nay không? Chắc chắn là không. Thêm vào đó, nếu xem xét những việc làm của Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, vua Nghiêu, vua Thuấn chúng ta sẽ hiểu thêm điều này. Những vị vua này chịu khó truyền dạy con người những tài năng hiểu biết của họ với mục đích gì? Chẳng phải để giúp xã hội con người có thế sống ấm no và tiếp tục tồn tại sao?

Nội dung giải thích nhân của Mạnh tử và quân của Tuân tử quá ngắn gọn nên khó hiểu nhưng người dịch nghĩ rằng điều 2 ông muốn nói đến là các tiên vương căn cứ trên các bản tính con người mà đặt ra đạo, và truyền dạy cách sinh hoạt và giáo dục người dân để xã hội con người sống an vui. 

(b) Nên lưu ý ở đây chỉ nói các đệ tử của Khổng tử đủ tư cách gia nhập vào nhóm của người có đức nhân chứ không nói họ đã có đức nhân. Bởi vì khi có người hỏi Khổng tử các học trò ông như Nhiễm Ung (Trọng Cung) (chương 4), Tử Lộ, Nhiễm Cầu, Công Tây Xích (chương 7 thiên 5 Công Dã Tràng, Luận Ngữ).có đức nhân không, ông trả lời: “không biết”.

(c) Sorai chủ trương lễ nghĩa không phải là đức nhưng không hiểu tại sao lại liệt kê nghĩa vào đây!

(d) Sorai không trả lời trực tiếp nhưng viết “nhiên” (tuy nhiên) nên người dịch cho rằng câu trả lời là “không phải là nhân” nhưng các việc này là điều cần thiết để an dân.

(e) Câu này rất khó hiểu. Căn cứ vào nội dung thu thập được khi đọc và suy nghĩ các bài viết của Sorai, người dịch nghĩ rằng phải hiểu như sau mới hợp lý. 

Trước hết cần nên nhớ rằng nhân cũng là đức, thế tại sao Khổng tử nói “cứ vào đức, y vào nhân”. Ý nghĩa của cứ y khác nhau như thế nào? Thú thật người dịch vẫn chưa hiểu rõ điểm khác nhau của 2 từ này. Chữ Hán của cứ viết bằng bộ thủ (tay) để chỉ sự nắm bắt. Chữ Hán của y viết bằng bộ nhân (con người). Ở thời điểm này, người dịch cho rằng cứ cũng có nghĩa là nắm bắt để làm điểm tựa nhưng chỉ có 1 chiều, đó là con người nắm bắt loại đức gần với bản tính của mình. Trong khi y có nghĩa 2 chiều: đức gần với bản tính (giả sử là trí) phải tu tập sao cho có lợi ích cho xã hội, nghĩa là căn cứ vào nhân, đồng thời nhân cũng phải nhờ trí mới đạt được mục đích an dân của nhân, đó là chiều thứ 2.

(f) Tại sao đối với nghệ phải du游 (vui chơi)? Ở thời điểm hiện tại người dịch vẫn chưa có tự tin là hiểu đúng nhưng nghĩ rằng có thích thú vui chơi và nhờ thích thú mới tự nhiên bền bỉ chịu cực tập luyện nhiều lần và lâu dài đồng thời tìm hiểu làm thế nào để có thể thực hiện tốt hơn, nhờ đó nghệ (kỹ năng, kỹ thuật) càng ngày càng cao, càng điêu luyện hơn.

(g) Nên lưu ý đây là phương châm giáo dục trọng yếu của đạo tiên vương tức đạo Khổng. Do đó, đạo tiên vương tích cực dùng người tài đức và không dùng người bất nhân (chương 3 thiên 4 Lý Nhân sách Luận Ngữ) mà không giết hại họ, chờ cho họ tự ý thức tu sửa.

Nhận xét tổng thể

(1) Người dịch nghĩ rằng trong bài này Sorai đã nêu ra được các đặc điểm rất quan trọng sau đây của đạo tiên vương, tức đạo Khổng:

- Mục đích của đạo là để an dân nên lấy nhân làm đầu.

- An dânthiên chức của những người lãnh đạo bao gồm người (giới trí thức) hướng dẫn người dân thông thường, đó cũng là mệnh lệnh của trời giao phó cho họ (thiên mệnh). 

- Học là chọn lĩnh vực thích hợp với bản tính mà học tập tu luyện nhưng phải nhắm tới mục tiêu phải học tập, tu tập như thế nào để có thể phục vụ ích lợi cho xã hội con người thì mới có thể thành tựu tài đức thật sự. Do đó câu cứ ư đức, y ư nhân rất quan trọng cho việc học. Đạo Khổng tôn trọng việc phát triển bản tính, năng khiếu chứ không cưỡng ép người học như thường bị hiểu lầm!

- Phương châm chủ yếu của đạo là nuôi dưỡng để trưởng thành và phát triển thêm lên, chứ không phải diệt trừ những gì đối nghịch với đạo.

- Mục đích an dân (nhân) cần các thứ đức khác hiệp lực mới đạt được mục đích nhưng đồng thời các thứ đức phải có mục đích là an dân thì mới thành tựu thật sự đúng với ý nghĩa. Bởi gì đức mà gây tổn hại cho con người không phải đức.

- Đạo Khổng cho rằng sự đa dạng của đức là cần thiết không như Mặc tử hoặc Tống Nho muốn tóm tắt vào 1 thứ đức duy nhất để dễ hiểu rồi đưa tới việc các học phái tranh luận chống đối hoặc bài trừ lẫn nhau, từ lúc nào cũng không hay biết!

(2) Chủ trương của Sorai cho rằng: “Bản tính con người là tương thân, tương ái, tương sinh, tương phụ, tương dưỡng, tương khuông, tương cứu” đáng để chúng ta suy ngẫm để thực hiện với mục đích xây dựng xã hội hạnh phúc, hòa bình và thịnh vượng (từ vựng của Matsushita Kônosuke) ngay cả trong thời đại hiện nay.

Ghi chú

  1.  Trong chương 3 thiên 10 Vạn Chương hạ sách Mạnh Tử viết: 

Nhiên chung ư thử nhi dĩ hỹ. Phất dữ cộng thiên vị dã, phất dữ trị thiên chức dã, phất dữ thực thiên lộc dã. Sĩ chi tôn hiền giả dã, phi vương công chi tôn hiền dã.

然終於此而已矣,弗與共天位也,弗與治天職也,弗與食天祿 也。士之尊賢者也,非王公之尊賢也。

Tạm dịch

(Trong nội dung trả lời của Mạnh tử đối với câu hỏi của học trò tên Vạn Chương về cách ứng xử với bạn, sau khi kể lại cách ứng xử của vua Bình Công của nước Tấn (nước lớn) đối với bạn ông tên Hợi Đường, phần kế tiếp như sau) Thái độ của Bình Công đối với bạn như người hiền (người có tài đức) thì không xấu nhưng tiếc là cách ứng xử này chỉ có vậy thôi. Bình Công không dùng Hợi Đường để cùng có địa vị mà trời ban cho, không cùng phân chia nhau nhiệm vụ mà trời giao phó, không cùng phân chia nhau bổng lộc mà trời cho. Cách ứng xử của Định Công đối với Hợi Đường chỉ là cách tôn kính của người sĩ đối với người hiền chứ không phải cách tôn trọng của vương công đối với người hiền. (Phần còn lại của chương, Mạnh tử bình phẩm cách ứng xử của vua Nghiêu đối với ông Thuấn mới là cách tôn trọng của vị vua đối với người hiền)

Trong Mạnh Tử Chú Sớ của Triệu Kỳ趙 岐(~201, chính trị gia, học giả đời hậu Hán) và Tôn Thích孫奭(962-1033, kinh học gia thời Bắc Tống) chú thích: “Vương công tôn hiền, đương dự cộng thiên chức hỹ王公尊賢,當與共天職矣。(Vua và chư hầu tôn trọng người hiền thì phải cùng với người hiền chia sẻ nhiệm vụ an dân mà trời giao phó)

  1.  Chương 16 thiên 14 Tận Tâm hạ, sách Mạnh Tử viết:

孟子曰:仁也者,人也;合而言之,道也。 

Mạnh Tử viết: “Nhân dã giả, nhân dã. Hợp nhi ngôn chi, đạo dã.” 

Tạm dịch

Mạnh Tử nói “Nhânđức để đủ tư cách làm người. Kết hợp con người và đức nhân lại với nhau là đạo làm người.”

Trong Mạnh Tử Chú Sớ của Triệu Kỳ và Tôn Thích chú thích:

Năng hành nhân ân giả, nhân dã. Nhân dự nhân hợp nhi ngôn chi, khả dĩ vị chi hữu đạo dã.

能行仁恩者,人也。人與仁合而言之,可以謂之有道也。

Tạm dịch

“Ai có thể thực hiện được nhân ân thì có tư cách làm người.”

Sách Ngụy Tôn Thích Sớ viết: 

Cái nhân phi nhân bất lập, nhân phi nhân bất hành, hợp nhân dự nhân ngôn chi, tắc nhân đạo tận hỹ.

蓋人非仁不立、仁非人不行、合仁与人言之、則人道尽矣。

Tạm dịch

Con người mà không có (đức) nhân thì không đủ tư cách là con người, nhân mà không có con người thì không thực hành được. Do đó, kết hợp con người và nhân thì mới đúng là đạo.

Giải thích của Mạnh Tử Chú Sớ giống như chủ trương của Sorai, đức nhân cần phải có ơn huệ cụ thể đi kèm. Giải thích của Ngụy Tôn Thích Sớ giải thích lý do kết hợp giữa nhân và con người. Theo Nishida Taichirô, khi giải thích nhân giả nhân dã仁者人也 trong sách Trung Dung, Sorai viết:

人生相親相愛之心、而以合群為其道、故孟子釈此言曰、合而言之道也。

Nhân sinh hữu tương thân tương ái chi tâm, nhi dĩ hợp quần vi kỳ đạo, cố Mạnh tử thích thư ngôn viết, hợp nhi ngôn chi đạo dã.

Tạm dịch

Trời sinh ra con người có tấm lòng tương thân tương ái, và lấy sự hợp quần sống chung làm đạo làm người. Do đó, để giải thích ý nghĩa này Mạnh tử nói hợp là đạo. Giải thích này nhất trí với nội dung giải thích trong bài.

Người dịch cho rằng giải thích của Sorai là thỏa đáng hơn hết nếu chúng ta nhớ lại thời con người còn sơ khai như thời Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế nếu con người không hợp quần để sống chung thì làm sao còn có thể tồn tại đến ngày nay. 

Giải thích như Ngụy Tôn Thích Sớ là đúng theo lý luận nhưng không đủ bởi vì nào chỉ phải đối với nhân, đối với những thứ đức khác như trí, dũng, t

tín...nếu không có con người thì còn có ý nghĩa gì để luận bàn!

  1.  Thiên 9 Vương Chế sách Tuân Tử viết:

君者,善群也。群道當,則萬物皆得其宜。

“Quân giả, thiện quần dã. Quần đạo đương, tắc vạn vật giai đắc kỳ nghi.

Tạm dịch

“Vua là người giỏi tụ họp (thống lãnh) được nhiều người. Đạo thống lãnh người thỏa đáng thì mọi vật đều được thích đáng (nghi)”

Trong thiên 12 Quân Đạo sách Tuân Tử cũng viết:

君者,何也?曰:能群也。 

Quân giả, hà dã? Viết: năng quần dã.”

Tạm dịch

“Vua là gì? Đáp: Là giỏi thống lãnh”.

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

  1.  Chương 6 thiên 4 Lý Nhân sách Luận Ngữ viết:

子曰:我未見好仁者,惡不仁者。好仁者,無以尚之;惡不仁者,其為仁矣,不使不仁者加乎其身。 有能一日用其力於仁矣乎?我未見力不足者。蓋有之矣,我未之見也!

Tử viết: “Ngã vị kiến hiếu nhân giả, ố bất nhân giả. Hiếu nhân giả, vô dĩ thượng chi. Ố bất nhân giả, kỳ vi nhân hỹ, bất sử bất nhân giả gia hồ kỳ thân. Hữu năng nhất nhật dụng kỳ lực ư nhân hỹ hồ? Ngã vị kiến lực bất túc giả. Cái hữu chi hỹ, ngã vị chi kiến dã.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Ta chưa thấy ai thật ham điều nhân và ai thật ghét điều bất nhân. Người thật ham điều nhân thì không cho điều gì hơn điều nhân; người thật ghét điều bất nhân thì khi làm điều nhân không để cho điều bất nhân vướng vào mình. Có ai trọn ngày tận lực làm điều nhân chăng? Ta chưa thấy ai không đủ sức làm điều nhân cả. Hoặc có chăng mà ta chưa thấy.”

  1.  Trong Tựa ()Tiển Vương Tú Tài, Hàn Dũ viết:

吾常以為孔子之道,大而能博,門弟子不能遍觀而盡識也,故學焉而皆得其性之所近;其後離散分處諸侯之國,又各以所能授弟子,原遠而末益分。

Ngô thường dĩ vi Khổng tử chi đạo, đại nhi năng bác, môn đệ tử bất năng biến quan nhi tận thức dã, cố học yên nhi giai đắc kỳ tính chi sở cận; kỳ hậu ly tán phân xử chư hầu chi quốc, hựu các dĩ sở năng thụ đệ tử, nguyên viễn nhi mạt ích phần

Tạm dịch

“Tôi luôn luôn cho rằng đạo Khổng to lớn mà bao trùm phạm vi rộng. Các đệ tử không thể nào có thể thấy hết nội dung hiểu biết của ông. Do đó, các đệ tử ông học được nội dung gần với bản tính bẩm sinh (năng khiếu) của họ. Sau đó, các đệ tử này ly tán phân chia đến các nước của chư hầu và truyền thụ sở trường của họ cho các đệ tử của họ. Gốc khởi đầu vốn đã cách xa nên khi truyền đến đời sau lại càng cách xa hơn.”

  1.  Chương 6 thiên 7 Ung Dã sách Luận Ngữ viết:

季康子問:仲由可使從政也與? 子曰:由也果,於從政乎何有?曰:賜也可使從政也與?曰:賜也達,於從政乎何有?曰:求也可使從政也與?曰:求也藝,於從政乎何有? 

Quý Khang Tử vấn: “Trọng Do khả sử tùng chính dã dư?” Tử viết: “Do dã quả, ư tùng chính hồ hà hữu?” Viết: “Tứ dã, khả sử tùng chính dã dư?” Viết: “Tứ dã đạt, ư tùng chính hồ hà hữu?” Viết: “Cầu dã, khả sử tùng chính dã dư?” Viết: “Cầu dã nghệ, ư tùng chính hồ hà hữu?”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Quý Khang tử hỏi: “Thầy Trọng Do (Tử Lộ) có thể tòng sự chính trị (tức làm quan đại phu) được không?” Khổng tử đáp: “Trọng Do là người quyết đoán, tòng sự chính trị có gì mà không được?” Hỏi: “Thầy Tứ (Tử Cống) có thể tòng sự chính trị được không?” Khổng tử đáp: “Tứ thông hiểu sự lý, tòng sự chính trị có gì mà không được?” Hỏi: “Thầy Cầu (Nhiễm Hữu) có thể tòng sự chính trị được không?” Đáp: “Cầu tài nghệ, tòng sự chính trị có gì mà không được?”

Trong chương 6 thiên 5 Công Dã Tràng sách Luận Ngữ viết:

子曰:道不行,乘桴浮於海,從我者,其由與?子 路聞之喜。 子曰:由也,好勇過我,無所取材。 

Tử viết: “Đạo bất hành. Thừa phu phù vu hải, tòng ngã giả, kỳ Do dư?” Tử Lộ văn chi hỷ. Tử viết: “Do dã, hiếu dũng quá ngã, vô sở thủ tài.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Đạo của ta không thi hành được, ta sẽ cưỡi bè vượt biển (đi nước ngoài, có thể trỏ Triều Tiên) người theo ta có lẽ là anh Do chăng? Tử Lộ nghe vậy mừng. Khổng tử nói tiếp: “Anh Do hiếu dũng hơn ta, nhưng ta chưa có tài liệu (gỗ) để làm bè.”

  1.  Chương 1 thiên 10 Vạn Chương hạ sách Mạnh Tử viết:

孟子曰:伯夷,聖之清者也;伊尹,聖之任者也; 柳下惠,聖之和者也;孔子,聖之時者也。孔子之謂集大成。

Mạnh Tử viết: “Bá Di thánh chi thanh giả dã. Y Doãn thánh chi nhiệm giả dã. Liễu Hạ Huệ thánh chi hoà giả dã. Khổng Tử thánh chi thời giả dã. Khổng Tử chi vị tập đại thành.

Tạm dịch

Mạnh tử nói: “Bá Di là người đặc biệt trong sạch liêm khiết trong các thánh nhân. Y Doãn là có tinh thần trách nhiệm mạnh mẽ trong các thánh nhân. Liễu Hạ Huệ là người có tinh thần hài hòa với người đời trong các thánh nhân. Khổng tử là người không thiên lệch, sống chính đáng theo những cái tốt của đương thời trong các thánh nhân. Do đó ông là người tập hợp được mọi thứ đức.

  1.  Chương 6 thiên 3 Công Tôn Sửu thượng sách Mạnh Tử viết:

惻隱之心,仁之端也;羞惡之心,義之端也;辭讓 之心,禮之端也;是非之心,智之端也。人之有是四端也,猶其有四體也。有是四端而自謂不能者,自賊者也。

“Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã, tu ố chi tâm, nghĩa chi đoan dã; từ nhượng chi tâm, lễ chi đoan dã; thị phi chi tâm, trí chi đoan dã. Nhân chi hữu thị tứ đoan dã, do kỳ hữu tứ thể dã. Hữu thị tứ đoan, nhi tự vị bất năng giả, tự tặc giả dã.

Tạm dịch

(Mạnh tử nói) “Lòng (tinh thần) trắc ẩn là đầu mối (mầm mống) của nhân. Lòng biết xấu hổ là đầu mối của nghĩa. Lòng biết nhường nhịn là đầu mối của lễ. Lòng biết phân biệt phải trái là đầu mối của trí. Con người có 4 đầu mối này giống như thân thể có 2 tay và 2 chân. Có 4 đầu mối này mà tự cho mình không thể thực hiện được nhân, nghĩa, lễ, trí là tự hại mình vậy.

Nhận xét của người dịch

Đọc kỹ câu trên chúng ta thấy rõ ràng Mạnh tử có ý khuyến khích người đời cố gắng có được nhân, nghĩa, lễ, trí chứ người bình thường làm sao có đủ được 4 thứ trên. 

Trong chương 6 thiên 11 Cáo Tử thượng sách Mạnh Tử viết:

惻隱之心,仁也;羞惡之心,義也;恭敬之心,禮也;是非之心,智也。仁義禮智,非由外鑠我也,我固有之也,弗思耳矣。故曰:求則得之,舍則失之。

Trắc ẩn chi tâm, nhân dã; tu ố chi tâm, nghĩa dã; cung kính chi tâm, lễ dã; thị phi chi tâm, trí dã. Nhân, nghĩa, lễ, trí, phi do ngoại thước ngã dã; ngã cố hữu chi dã. Phất tư nhĩ hỹ. Cố viết: “Cầu, tắc đắc chi; xả, tắc thất chi.”

Tạm dịch

Lòng trắc ẩn là nhân, lòng biết hổ thẹn là nghĩa, lòng biết cẩn trọng, tôn trọng đối tượng là lễ, lòng biết đúng sai là trí. Nhân, nghĩa, lễ, trí không phải do sự rèn luyện từ bên ngoài mà vốn có sẵn trong con người. Chỉ là do con người không nghĩ đến thôi. Do đó mới nói “Tìm đến thì chắc chắn được, bỏ qua không tìm thì mất đi.”

Nhận xét của người dịch

Rõ ràng vì muốn thắng tranh luận với Cáo tử mà Mạnh tử đi quá trớn làm cho người thường có thể hiểu rằng chỉ cần nghĩ đến là có thể có được nhân, nghĩa, lễ, trí! Làm gì có việc dễ dàng như vậy. Ở điểm này Mạnh tử không đáng là bậc á thánh! Khi tranh luận nên lưu tâm điều này!

  1. Trong chương 1 thiên 7 Ly Lâu thượng sách Mạnh Tử viết: 

堯舜之道,不以仁政,不能平治天下。 今有仁心仁聞而民不被其澤,不可法於後世者,不行先王之道也。

Nghiêu, Thuấn chi đạo, bất dĩ nhân chính, bất năng bình trị thiên hạ. Kim hữu nhân tâm, nhân văn, nhi dân bất bị kỳ trạch, bất khả pháp ư hậu thế giả, bất hành tiên vương chi đạo dã.

Tạm dịch

Đạo Nghiêu Thuấn nếu không phải là chính sách vì dân thì không thể quản trị xã hội được an vui. Ngày nay trong các chư hầu có người được cho là người nhân hoặc là người có lòng nhân nhưng dân chúng không có được ơn huệ của họ. Do đó chính sách quản trị của họ không thành mẫu mực cho đời sau, là bởi vì họ không thực hiện đạo tiên vương

Nhận xét của người dịch

Ở phần trước của chương Sorai có nói chỉ có lòng nhân mà không có ơn huệ cụ thể (trạch) thì không phải là nhân có thể ông căn cứ vào nội dung này và chú thích trong Mạnh Tử Chú Sớ của Triệu Kỳ và Tôn Thích (Xem hạng mục (2) của Ghi Chú).

(10) Trong Chu Tử Ngữ Loại quyển 53 viết:

嘗思之:孟子發明四端,乃孔子所未發。人只道孟子有闢楊墨之功,殊不知他就人心上發明大功如此。

Thường tư chi: Mạnh tử phát minh tứ đoan, nãi Khổng tử sở vị phát. Nhân huống chỉ đạo Mạnh tử hữu tịch Dương Mặc chi công, thù bất tri tha tựu nhân tâm thượng phát minh đại công như thư.

(Khi Chu Hy trả lời câu hỏi của học trò tên Diệp Hạ Tôn về tâm tứ đoan, ông nói) “Ta thường nghĩ như sau: Mạnh tử phát minh tứ đoan, điều mà Khổng tử chưa phát minh ra. Người đời chỉ nghĩ rằng công lao của Mạnh tử là đả phá được học thuyết của Dương tử (thuyết vi ngã (bản thân trên hết) và Mặc tử (thuyết kiêm ái (bác ái) nhưng họ không biết công lao rất to lớn của Mạnh tử là làm tỏ rõ chân lý nói về tâm của con người)

Nhận xét của người dịch

Đúng như Sorai nói, người đời sau, ngay cả Trình tử, Chu Hy cũng tin Mạnh tử giỏi hơn Khổng tử và các tiên vương. Đoạn sau Chu Hy đánh giá công lao của Mạnh tử như công lao của 1 vị tướng thắng địch bảo vệ quốc gia!

(11) Itô Jinsai viết nội dung này trong chương 27 của Đồng Tử Vấn quyển hạ. Sẽ giới thiệu vào dịp khác.

(12) Do Mặc tử chủ trương kiêm ái giao lợi nên Sorai nói như trong bài. Kiêm ái: tất cả mọi người đều bình đẳng và thương yêu nhau không có sự phân biệt, thí dụ yêu thương như nhau đối với con của mình và con của người khác. Giao lợi 交利: phân chia lợi ích với nhau.

(13) Trong chương 1 Hệ Từ Truyện hạ kinh Dịch viết:

天地之大德曰生,聖人之大寶曰位,何以守位曰仁,何以聚人曰財,理財正辭,禁民為非曰義。

Thiên địa chi đại đức viết sinh, thánh nhân chi đại bảo viết vị, hà dĩ thủ vị viết nhân, hà dĩ chúng viết tài, lý tài chính từ, cấm dân vi phi viết nghĩa.

Tạm dịch

Đức to lớn của trời đất là sinh, tạo ra vạn vật và nuôi lớn . Điều quý giá to lớn của thánh nhân là vị (địa vị = chỗ đứng được mọi người chấp nhận). Để giữ được vịnhân. Cái tập hợp được dân là của cải (tài). Quản lý của cải (lý tài) và quản trị người dân một cách chính đáng (chính từ), không cho người dân làm điều bậy là nghĩa.  

Nhận xét của người dịch

Đáng tiếc ở đây không có đề cập cụ thể thế nào là nhân, chỉ nói là thứ mà thánh nhân cần phải giữ để xứng đáng là thánh nhân. Về điịnh nghĩa của nghĩa thì có lẽ nên hiểu chỉ là 1 trường hợp quan trọng của nghĩa. Tổng kết nội dung của ngũ kinh để xem các tiên vương xem thế nào nghĩa có lẽ không phải là việc dễ! Bởi vì mỗi sách cổ điển chỉ đề cập 1 khía cạnh và rất khó phân biệt nội dung nào trong ngũ kinh là do người đời sau thêm vào!

(14) Trong chương 9 thiên 6 Đằng Văn Công hạ sách Mạnh Tử viết:

聖王不作,諸侯放恣,處士橫議。楊朱,墨翟之言 盈天下。天下之言,不歸楊則歸墨。楊氏為我,是無君也。墨氏兼愛,是無父也。無父無君,是禽獸也。 公明儀曰:“庖有肥肉,有肥馬,民有饑色,野有餓莩,此率獸而食人也。”楊墨之道不息,孔子之道不著,是邪誣民,充塞仁義也。仁義充塞,則率獸食人,人將相食。

Thánh Vương bất tác, chư hầu phóng tứ, xử sĩ hoành nghị. Dương Chu, Mặc Địch chi ngôn doanh thiên hạ. Thiên hạ chi ngôn, bất quy Dương, tắc qui Mặc. Dương thị vị ngã, thị vô quân dã. Mặc thị kiêm ái, thị vô phụ dã. Vô phụ, vô quân, thị cầm thú dã. “Công Minh Nghi viết: ‘Bào hữu phì nhục, cứu hữu phì mã. Dân hữu cơ sắc, dã hữu ngạ biểu: thử xuất thú nhi thực nhân dã.’ Dương, Mặc chi đạo bất tức, Khổng Tử chi đạo bất trứ, thị tà thuyết vu dân, sung tắc nhân nghĩa dã. Nhân nghĩa sung tắc, tắc suất thú thực nhân, nhân tương tương thực…

Tạm dịch

(Mạnh tử nói tiếp) “(Sau khi Khổng tử mất), thánh vương không xuất hiện nữa, các chư hầu thì muốn làm gì thì làm. Các học giả dân sự muốn nói gì thì nói. Học thuyết của Dương Chu và Mặc Địch lan tràn khắp nơi. Nếu không theo họ Dương thì theo họ Mặc. Học thuyết họ Dương chủ trương vi ngã cực đoan, như thể không có vua. Học thuyết của họ Mặc chủ trương kiêm ái cực đoan, như thể không có cha mẹ mà cũng không có vua giống như cầm thú. Ông Công Minh Nghĩa nói: “Ở nhà bếp của vua thì đầy thịt ngon béo, ở chuồng ngựa của vua thì đầy ngựa béo nhưng dân chúng thì không đủ ăn, ngoài đường có người chết đói. Tình trạng chẳng khác gì với việc dẫn thú dữ đến ăn thịt người”. Nếu ta không làm học thuyết của họ Dương và họ Mặc ngừng lại thì học thuyết chính đáng của Khổng tử sẽ không xuất hiện. Hiện nay học thuyết của họ Dương và họ Mặc đang làm mê hoặc người đời, làm cho người đời không biết thế nào là nhân nghĩa. Không hiểu thế nào là nhân nghĩa chẳng khác nào dẫn thú dữ đến ăn thịt người, để rồi kế tiếp là con người ăn thịt lẫn nhau…”

(15) Trong Chu Tử Ngữ Loại quyển 20, khi trả lời học trò ông về “Nhân giả, ái chi lý, tâm chi đức dã” (Nhân của ái (yêu thương) , là đức của tâm) ông nói như sau:

愛之理,是偏言則一事;心之德,是專言則包四者。故合而言之,則四者皆心之德,而仁為之主;分而言之,則仁是愛之理,義是宜之理,禮是恭敬、辭遜之理,知是分別是非之理也。

Ái chi lý, thị thiên ngôn tắc nhất sự; tâm chi đức, thị chuyên ngôn tắc bao tứ giả. Cố hợp nhi ngôn chi, tắc tứ giả giai tâm chi đức, nhi nhân vi chi chủ; phân nh ngôn chi, tắc nhân thị ái chi lý, nghĩa thị nghi chi lý, lễ thị cung kính, từ tốn chi lý, trí thị phân biệt thị phi chi lý dã….

Tạm dịch

“Khi nói nhânlý lẽ của thương yêu (ái chi lý) là cách nói riêng rẻ (thiên ngôn), có nghĩa là chỉ nói về 1 sự việc. Khi nói nhân là đức của tâm (tâm chi đức) là cách nói gọp chung (chuyên ngôn), có nghĩa là nói bao gồm cả 4 thứ (nhân, nghĩa, lễ, trí). Do đó, nói gộp lại tức là nói đức của tâm bao gồm 4 thứ (nhân, nghĩa, lễ, trí), trong đó nhân là chính yếu. Nói phân chia ra tức là nói: nhân là lý của ái; nghĩa là lý của nghi, lễ là cung kính, là lý của từ tốn, trí là lý của phân biệt thị phi (biết rõ đâu là đúng đâu là sai).

Nhận xét của người dịch

Ngày nay thường nói 5 thứ: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Không biết tại sao Mạnh tử chỉ nêu ra 4 thứ. Theo Tuân tử, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín tương ứng với ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) là Tử Tư và Mạnh tử (nhưng không có dẫn chứng cụ thể. Ngày nay có thuyết cho là do Đổng Trọng Thư). Chẳng lẽ để ví với thân thể có tứ chi (2 tay, 2 chân) mà Mạnh tử chỉ đưa ra tứ đoan. Chu Hy lại cố chấp vào 4 thứ trên! Xem ra lời phê phán của Sorai đối với Tống Nho không phải vô lý.

Không hiểu tại sao Chu Hy đặt ra từ chuyên ngôn rất khó hiểu ý muốn nói chung với các thứ đức, từ thống ngôn dễ hiểu ý này hơn!

(16) Học thuyết của Trình tử Chu tử (Tống Nho) lấy thiên lý (lẽ trời), nhân tính (bản tính con người), và lý khí (lý lẽ và khí chất con người) làm chính yếu nên học thuyết này thường được gọi là Lý học hoặc Tính Lý học hoặc Lý Khí học.

(17) Chương 6 thiên 7 Thuật Nhi sách Luận Ngữ viết: 

子曰:志於道,據於德,依於仁,游於藝。

Tử viết: “Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Để tâm chí vào đạo, giữ gìn đức hạnh, nương theo điều nhân, vui vẻ lục nghệ (tức lễ, nhạc, xạ, ngự, thư – viết chữ, số – toán pháp).

(18) Trong Nghiêu Điển (phiên bản nguỵ cổ văn Thượng Thư chia phần này thành Thuấn Điển trong khi kim cổ văn để chung trong Nghiêu Điển) của kinh Thư viết:

Thi ngôn chí, ca vịnh ngôn, luật hòa thanh

     詩言志,歌永言,聲依永,律和聲。

(Trong khi vua Thuấn ra lệnh cho ông Quỳ phụ trách âm nhạc, vua Thuấn nói ) “Thơ(thi) là dùng lời nói (ngôn) để cho biết điều con người nghĩ hướng đến (chí); hát (ca) dùng ngân (kéo) dài (vịnh) lời nói ra bằng âm thanh; âm thanh nương tựa vào sự ngân dài; quy định về sắp xếp âm thanh (luật) thì làm cho âm thanh ăn khớp nhịp điệu với nhau (hòa). 

(19) Trong Tựa () tặng Lý Vu Lân 李于鱗 (Vu Lân là tự của Lý Phàn Long李 攀竜,1514~1570) của Vương Nguyên Mỹ 王元美 (trong Yểm Châu Tứ Bộ Cảo弇州四部稿 quyển 57, Vương Thế Trinh王世貞 (1526-1590) tự là Nguyên Mỹ hiệu là Phụng Châu và Yểm Châu Sơn Nhân) viết:

古之為辭者、理苞塞、不叚之辭。今之為辭者、辭不勝、跳而匿諸理。

   Cổ chi vi từ giả, lý bao tắc, bất dụ giả chi từ. Kim chi vi từ giả, từ bất thắng, khiêu nhi nặc chư lý.

Tạm dịch

Lời nói của người cổ đại nội dung chứa đầy lẽ phải (đạo lý) bên trong nên không dùng cách diễn tả khoa trương khó hiểu. Lời nói của người đời nay không căn cứ trên lẽ phải (đạo lý) nên lập luận của họ nhảy vọt, trừu tượng sinh ra càng thêm khó hiểu. 

   

(20) Pháp thân là 1 trong tam thân: pháp thân法身, báo thân報身(hình dáng phật hiện ra do kết quả tu hành), ứng thân応身 (hình dáng phật xuất hiện ra ở đời để cứu độ chúng sinh. Thí dụ như Thích Ca).

Nguyên văn 

孔門之教。仁為至大。何也。能拳先王之道而体之者仁也。先王之道。安天下之道

也。其道雖多端。要帰於安天下焉。其本在敬天命。天命我為天子為諸侯為大夫。則有臣民在焉。為士則有宗族妻子在焉。皆待我而後安者也。且也士大夫皆与其君共天職者也。故君子之道。唯仁為大焉。且也相親相愛相生相成相輔相養相匡相救者。人之性為然。故孟子曰。仁也者人也。合而言之道也。荀子称。君者群也。故人之道。非以一人言也。必合億万人而為言者也。今試觀天下。孰能孤立不群者。士農工商。相助而食者也。不若是則不能存矣。雖盗賊必有党類。不若是則亦不能存矣。故能合億万人者君也。能合億万人。而使遂其親愛生養之性者。先王之道也。学先王之道而成德於我者。仁人也。雖然。士欲学先王之道以成徳於我。而先王之道亦多端矣。人之性亦多類矣。苟能識先王之道要帰於安天下。而用力於仁。則人各随其性所近。以得道一端。如由之勇。之達。求之藝。皆能成一材。足以為仁人之徒。共諸安天下之用焉。而其徳之成。如夷斉之清。恵之和。尹之任。皆不必其性。亦不害為仁人焉。若或不識用力於仁。則其材与德。皆不能成。而諸子百家由此興焉。此孔門所以教仁也。

孟子惻隱以愛語仁。是其性善之。必本諸人心。故不得不以愛言之耳。雖有愛人之心。而沢不及物。豈足以為仁哉。故雖孟子亦有仁政之説矣。後儒逎不識孟子実為勧世之言。而謂用力於仁。莫切於孟子也。則輒欲推其惻隱之心以成聖人之仁。可謂妄意不自揣之甚已。主張其学者。遂至謂仏有仁無義也。夫仏無安天下之道。豈足以為仁哉。墨子乃有見先王之道。仁莫以尚焉。遂謂仁足以尽一切矣。殊不知天地大德曰生。仁亦聖人大德也。雖然。亦一德也。若天地一於生。則何以有夏秋冬乎。聖人一於仁。則何以有勇智信義乎。孟子挙義折之者是矣。然仁義並言。而仁由是小矣。安在其為大徳乎。宋儒又欲合二者之異。乃造專言偏言之目。専言足以尽一切。偏言足以与案徳対立。庶足以孔孟之教並行而不相悖也。是其理学之。欲瞭然於言語之間者已。安足以知先王孔子之道乎。

先王之道多端矣。且挙其尤者言之。政禁暴。兵刑殺人。謂之仁而可乎。然要帰於安天下已。先王之教多端矣。智自智。勇自勇。義自義。仁自仁。豈可混合乎。然必不与安天下之道相悖。而後謂之智勇与義已。如孔子曰。拠於德。依於仁。人各拠其性之德而不失之。性之德雖多端。皆不害於仁。祇未能養而成之。故悖於道。養之道。在依於仁游於藝。依者如声依永之依也。楽声必与詠歌相依。清濁以之。節奏以之。依之謂也。依於仁亦爾。人雖各拠其德。亦必和順於先王安天下之道。不敢違之。然後足以各成其德。此孔門之教也。大氐先王孔子之道。皆有所運用営為。而其要在養以成焉。然後人迫切之見。急欲以仁尽一切。是以不得不跳而之理。而究其。乃不過浮屠法身偏一切之帰。悲哉。

Âm Hán Việt của nguyên văn

Khổng tử chi giáo. Dĩ nhân chí đại. Hà dã. Năng cử tiên vương chi đạo nhi thể chi giả nhân dã. Tiên vương chi đạo. An thiên hạ chi đạo dã. Kỳ đạo tuy đa đoan. Yếu quy ư an thiên hạ yên. Kỳ bản tại kính thiên mệnh. Thiên mệnh ngã vi thiên tử vi chư hầu vi đại phu. Tắc hữu thần dân tại yên. Vi sĩ tắc hữu tôn tộc thê tử tại yên. Giai đãi ngã nhi hậu an giả dã. Thả dã sĩ đại phu giai dự kỳ quân cộng thiên chức giả dã. Cố quân tử chi đạo. Duy nhân vi đại yên. Thả dã tương thân tương ái tương sinh tương thành tương phụ tương dưỡng tương khuông tương cứu giả. Nhân chi tính vi nhiên. Cố Mạnh tử viết. Nhân dã giả nhân dã. Hợp nhi ngôn chi đạo dã. Tuân tử xứng. Quân giả quần dã. Cố nhân chi đạo. Phi dĩ nhất nhân ngôn dã. Tất hợp ức vạn nhân nhi vi ngôn giả dã. Kim thí quan thiên hạ. Thục năng độc lập bất quần giả. Sĩ nông công thương. Tương trợ nhi thực giả dã. Bất nhược thị tắc bất năng tồn hỹ. Tuy đạo tắc tất hữu đảng loại, Bất nhược thị tắc diệc bất năng tồn hỹ. Cố năng hợp ức vạn nhân giả quân dã. Năng hợp ức vạn nhân. Nhi sử toại kỳ thân ái sinh dưỡng chi tính giả. Tiên vương chi đạo dã. Học tiên vương chi đạo nhi thành đức ư ngã nhân nhân giả dã. Tuy nhiên. Sĩ dục học tiên vương chi đạo dĩ thành đức ư ngã. Nhi tiên vương chi đạo diệc đa đoan hỹ. Nhân chi tính diệc đa loại hỹ. Cẩu năng thức tiên vương chi đạo yếu quy ư an thiên hạ. Nhi dụng lực ư nhân. Tắc nhân các tùy kỳ tính sở cận. Dĩ đắc đạo nhất đoan. Như Do chi dũng, Tứ chi đạt. Cầu chi nghệ. Giai năng thành nhất tài. Túc dĩ vi nhân giả chi đồ. Cộng chư an thiên hạ chi dụng yên. Nhi kỳ đức chi thành. Như Di Tề chi thanh. Huệ chi hòa. Doãn chi nhiệm. Giai bất tất biến kỳ tính. Diệc bất hại vi nhân nhân yên.Nhược hoặc bất thức dụng lực ư nhân. Tắc kỳ tài dự đức. Giai bất năng thành. Nhi chư tử bách gia do thử hưng yên. Thử Khổng môn sở dĩ giáo nhân dã.

Mạnh tử trắc ẩn dĩ ái ngữ nhân. Thị kỳ tính thiện chi thuyết. Tất bản chư nhân tâm. Cố bất đắc bất dĩ ái ngôn chi nhĩ. Tuy hữu ái nhân chi tâm. Nhi trạch bất cập vật. Khởi túc dĩ vi nhân tai. Cố tuy Mạnh tử diệc hữu nhân chính chi thuyết hỹ. Hậu Nho tù bất thức Mạnh tử thật vi khuyến thế chi ngôn. Nhi vị dụng lực ư nhân. Mạc thiết ư Mạnh tử dã. Tắc triếp dục thôi kỳ trắc ẩn chi tâm dĩ thành thánh nhân chi nhân. Khả vị vọng ý bất tự sủy chi thậm dĩ. Chủ trương kỳ học giả. Toại chí vị Phật hữu nhân vô nghĩa dã. Phù Phật vô an thiên hạ chi đạo. Khởi túc dĩ vi nhân tai. Mặc tử nãi hữu kiến tiên vương chi đạo. Nhân mạc dĩ thượng yên. Toại vị nhân túc dĩ tận nhất thiết hỹ. Thù bất tri thiên địa đại đức viết sinh. Nhân diệc thánh nhân đại đức dã. Tuy nhiên. Diệc nhất đức dã. Nhược thiên địa nhất ư sinh. Tắc khả dĩ hữu hạ thu đông hồ. Thánh nhân nhất ư nhân. Tắc hà dĩ hữu dũng trí tín nghĩa hồ. Mạnh tử cử nghĩa chiết chi giả thị hỹ. Nhiên nhân nghĩa tịnh ngôn. Nhi nhân do thị tiểu hỹ. An tại kỳ vi đại đức hồ. Tống Nho hựu dục hợp nhị giả chi dị. Nãi tạo chuyên ngôn thiên ngôn chi mục. Chuyên ngôn túc dĩ tận nhất thiết. Thiên ngôn túc dự chúng đức đối lập. Thứ túc dĩ Khổng Mạnh chi giáo tịnh hành nhi bất tương bội dã. Thị kỳ lý học chi thuyết. Dục liệu nhiên ư ngôn ngữ chi gian giả dĩ. An túc dĩ tri tiên vương Khổng tử chi đạo hồ.

Tiên vương chi đạo đa đoan hỹ. Thả cử kỳ vưu giả ngôn chi. Chính cấm bạo. Bình hình sát nhân. Vị chi nhân nhi khả hồ. Nhiên yếu quy ư an thiên hạ dĩ. Tiên vương chi đạo đa đoan hỹ. Trí tự trí. Dũng tự dũng. Nghĩa tự nghĩa, Nhân tự nhân. Khởi khả hỗn hợp hồ. Nhiên tất bất dự an thiên hạ chi đạo tương bội. Nhi hậu vị chi trí dũng dự nghĩa dĩ. Như Khổng tử viết. Cứ ư đức. Y ư nhân. Nhân các cứ kỳ tính chi đức nhi bất thất chi. Tính chi đức tuy đa đoan. Giai bất hại ư nhân. Chi vi năng dưỡng nhi thành chi. Cố bội ư đạo. Dưỡng chi đạo. Tại y ư nhân. Du ư nghệ. Y giả. Như thanh y vịnh chi y dã. Nhạc thanh tất dự vịnh ca tương y. Thanh đục dĩ chi. Tiết tấu dĩ chi. Y chi vi dã. Y ư nhân diệc nhĩ. Nhân tuy các cứ kỳ đức. Diệc tất hòa thuận ư tiên vương an thiên hạ chi đạo. Bất cảm vi chi. Nhiên hậu túc dĩ các thành kỳ đức. Thử Khổng môn chi giáo dã. Đại để tiên vương Khổng tử chỉ đạo. Giai hữu sở vận dụng doanh vi. Nhi kỳ yếu tại dưỡng dĩ thành yên. Nhiên hậu nhân bách thiết chi kiến. Cấp dục dĩ nhân tận nhất thiết. Thị dĩ bất đắc bất khiêu nhi chỉ lý. Nhi cứu kỳ thuyết. Nãi bất quá phù đồ pháp thân thiên nhất thiết chi quy. Bi tai! 


Tài liệu tham khảo

  1. Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.

  2.  Nhiều dịch giả/tác giả Nishida Taichirô (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten. 

  3. Nonaka Netarô: Mạnh Tử


MỜI XEN :

2 thg 8, 2026

Kính tặng hương linh GS. Lê Thanh Hoàng Dân, MỘT VÌ SAO SÁNG . - Tăng Khắc Tân

 Kính tặng hương linh GS. Lê Thanh Hoàng Dân.

MỘT VÌ SAO SÁNG

Thầy đã sống một cuộc đời đáng sống
Một cánh diều lồng lộng giữa biển khơi
Trở ngại, hanh thông nếm trải đủ đầy
Luôn quyết chí vượt trùng dương dậy sóng
*
Không để khó khăn cuộc đời phủ bóng
Kẻ sĩ kiên cường vui sống tiến lên
Hạnh phúc hôn nhân quà tặng vững bền
Như đôi sam cả đời tràn nhựa sống
*
Thầy sống trí thức, hào hùng, bất khuất
Yêu nước, yêu người, đạo đức làm gương
Trân trọng lắng nghe, đố kỵ coi thường
Luôn sống thỏa vui từng ngày hạnh phúc
*
Là lữ khách nơi trần đời hữu hạn
Nay đến ngày Thầy xếp lại hành trang
Vượt biên về nhà vĩnh cửu hỷ hoan
Em kính chúc Thầy thượng lộ bình an.
*
Tăng Khắc Tân
Lớp Nhất & Nhị 10, khóa 8 SPSG
Vancouver, BC, Canada (01-8-2026).
Ảnh Thầy Cô Trước 1975 (Từ Google )
Thầy bắt tay 1 CGS nhân buổi hop mặt khi về VN


Chọi Chữ - Quý Thể



Chọi Chữ

Hồi lớp đệ thất (lớp sáu) học sinh chúng tôi có trò chơi lúc đầu gọi là trò làm tự điển, sau gọi là “chọi chữ”. Trò này lấy chữ mà chơi, ai nhiều chữ nấy thắng. Cách chơi khá đơn giản. Cứ đề ra chữ nào đó rồi đứa lấy giấy bút ra kê, xong đếm lại, ai nhiều hơn sẽ thắng. Ví dụ: Lấy chữ “cà”
-Cà phê, cà ri, cà rà , cà rá, cà cuống, cà rốt, cà sa, cà rỡn, cà nhắt, cà khịa, cà mèn… cà riềng tỏi, cà kê dê ngỗng, cà lăm cà lặp, cà răng căng tai…

Tôi có thằng bạn tên Đạo, thằng này có biệt tài chọi chữ. Lần nào chơi nó cũng thắng, Nó có những từ rất đặc biệt, có khi người khác cãi, nó đem từ điển tới, ai cũng chịu. Nó có một chữ “cà” hết sức lạ lùng là “cà ràng”. Từ điển lớn và mới nhất mới thấy ghi từ này: Đó là thứ lò đất nung dùng trên ghe thuyền ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lò gồm ba ông táo nhỏ gắn trên cái đế bằng đất nung. Miền Nam có thành ngữ cà rang cà đụng. Thằng Đạo có vốn từ giàu chẳng ai bằng. Từ ngữ ba miền, mới cũ nó đều thông.

Trò chọi chữ khởi đi từ lớp tôi lan sang những lớp khác. Thế là mỗi lớp thành lập đội tuyển chọi chữ. Đội tuyển có ba thành viên. Năm ấy Đạo, Lê và tôi được cả lớp tín nhiệm cử đi thi đấu với lớp ngũ bốn, nghĩa là lớn hơn lớp tôi hai năm. Đây là cuộc thi không cân sức thế nhưng đội tuyển lớp tôi đã thắng.

Muốn chọi chữ giỏi phải có chữ nhiều. Có vốn từ phong phú, mà vốn từ chính là vốn sống. Chúng tôi những cậu bé mười tuổi vốn sống chưa đựng đầy chiếc túi nhỏ, lấy chữ đâu mà chọi. Hồi đó nhà tôi có quyển Từ điển tiếng Việt của Hội Khai Trí Tiến Đức. Quyển sách bọc bìa vải đen, khổ to và dày, ôm không nổi, làm sao học cho hết? Thằng Đạo bày : “tìm chữ lạ mà học” Ôi không biết bao nhiêu chữ nghĩa làm sao học. Tuy chỉ mới lớp sáu nhưng trình độ học sinh thời đó đã khá nên chúng tôi biết liệt kê theo cách các nhà làm từ điển, theo A,B,C…

Học sinh thời nào cũng có nhiều trò chơi, hầu hết những trò chơi đó đều bị thầy cô và nhà trường cấm. Tiếng trò chọi chữ là trò chơi trí tuệ, có lợi cho môn văn và nhất là lại có cái lợi thiết thực khi chơi trò này trong lớp bớt náo loạn ồn ào nên được nhà trường khuyến khích.

Thường vào cuối tháng năm đầu tháng sáu, khi kỳ thi đệ nhị tam cá nguyệt (học kỳ 2) đã xong, không khí học tập có phần uể oải, lơ là, thầy cô cũng nới tay, đó là lúc trò chọi chữ nở rộ. Chiều hôm ấy học sinh tổ chức cuộc thi chung kết chọi chữ giữa lớp Thất Ba đấu với Ngũ bốn. Chữ bốc thăm đem ra chọi là chữ “Ăn”, một chữ rất giàu có của tiếng Việt:
-Ăn thề, ăn vạ, ăn gian, ăn mày, ăn xin, ăn hiếp, ăn sương… ăn xổi ở thì, ăn tươi nuốt sống, ăn vóc học hay, ăn mặn nói ngay, ăn xem nồi, ăn không ngồi rồi, ăn nên làm ra…

Đội thất ba thắng đội ngũ bốn nhờ có ba chữ ăn thuộc loại quái chiêu : Ăn ong (đi tìm mật ong), ăn đàng sóng nói đàng gió (nói năng ngang ngược), Ăn lông ở lỗ. Công đầu thuộc về thằng Đạo. Chữ nó nhiều vô số.

Tôi đinh ninh sau này thằng Đạo thế nào cũng làm nghề nghiệp gì liên quan đến chữ nghĩa. Nó sẽ thành nhà soạn từ điển. Tôi tin từ điển hắn soạn ra chẳng thiếu chữ nào. Thằng Đạo làm luận hay lắm. Bài hắn kỳ nào cũng được thầy đọc cho cả lớp nghe. Hắn còn giỏi văn nghệ, làm thơ, viết báo tường. Hắn là một học sinh kiểu mẫu mà thầy cô lấy ra làm gương cho chúng tôi noi theo.

“Xã hội” học trò chỉ có hai “giai cấp” học giỏi, học dở. Hai nhóm này chẳng cố định và cũng chẳng thấy có đấu tranh gì gay gắt cả. Tháng này học nhiều, đứng cao, tháng sau lười biếng rơi xuống cuối sổ trở thành nhà lực sĩ đội trên đầu bốn mươi bạn đồng lớp, thế là chuyển từ giai cấp này sang giai cấp kia.

Học xong ra đời chẳng thế. Cuộc đời tàn nhẫn hơn. Với sự có mặt của gia thế nó đóng đinh số phận con người vào một vị trí nhất định và trừ khi có phép lạ mới nhảy từ cấp dưới lên cấp trên. Thế nhưng rủi ro sơ sảy, chỉ trong chốc lát rơi tới đáy lầm than!.

Ra đời mỗi học sinh một hoàn cảnh. Có kẻ học rất giỏi lại chẳng ra gì. Có đứa học dốt kiếm được chỗ đứng trên cao. Tôi thuộc hạng này. Thuở còn đi học tôi học hành tầm thường thế nhưng khi vào đời lại làm vị quan toà xét xử và định đoạt số phận kẻ khác.

Có lần xử án, cảnh sát lôi từ xe bít bùng xuống một người đàn ông đẩy hắn tới trước vành móng ngựa. Tôi ra lệnh mở còng. Trông hắn rách rưới thiểu não, tồi tệ. Hắn bị đưa ra toà về tội trộm. Một tên trộm hạng bét, tầm thường. Tôi bảo hắn khai tên họ, tuổi tác, nghề nghiệp, chỗ ở. Khi hắn ngẫng đầu lên tôi đã ngờ ngợ, nhưng chưa tin vào mắt mình. Tại sao trông hắn giống như thằng Đạo, vua chọi chữ cách đây hai mươi năm thời chúng tôi còn là học sinh ngồi chung bàn? Tuy giờ đây cuộc sống nhọc nhằn đã khiến cho hắn già cả tiều tuỵ. Tôi tự nhủ: Lẽ nào người ấy là thằng Đạo, thằng học trò thông minh học giỏi, hạnh kiểm tốt, đầy tài năng lại chịu cảnh khốn cùng đến nỗi di vào ngõ cụt như thế này? Tôi nhận ra hắn nhưng hắn vẫn chưa ngước lên nhìn tôi. Cũng khó mà nhìn ra tôi. Ngày trước tôi là cậu học sinh ốm o và nhỏ nhất lớp song giờ đây tôi đã trở thành vị quan toà phương phi bệ vệ, mặc áo choàng đen ngồi trên chiếc ghế uy nghi. Chung quanh tôi là một quang cảnh đầy sự tôn kính và đang làm cái công việc định đoạt cho số phận con người nhỏ nhoi hèn mọn đang đứng trong vành móng ngựa dưới kia. Tôi hỏi:
-Tên họ?
Hắn ngẫng lên nhìn tôi. Hình như hắn cũng có tâm trạng như tôi, nghĩa là lẽ nào thằng bạn ngày xưa lại là người xét xử hắn. Hắn cúi xuống, không trả lời. Tôi giục:
-Họ và tên, khai đi!
Và hắn ngước nhìn lên một lần nữa. Bây giờ chẳng còn nghi ngờ gì. Chúng tôi đã nhận ra nhau trong một tình cảnh cực kỳ oái oăm và khó xử cho cả hai. Tôi đùa:
-Này “vua chọi chữ”…
Hắn hỏi:
-Cái gì? Nhái bén chàng hiu (Biệt hiệu của tôi thời học sinh)?
Tôi nói:
-Có một chữ rất dễ…
Hắn hỏi:
-Chữ gì?
-Tên họ của mình…
Hắn buồn bã lắc đầu. Hình như hắn không muốn đem cái chữ “đạo” ra chọi với cuộc đời, với hoàn cảnh éo le bây giờ. Hắn muốn giữ cái tên tuổi tốt đẹp đó cho quãng đời học sinh tuyệt vời ngày trước mà thôi. Tôi cố ép hắn:
-Này vua chọi chữ đừng có giấu nữa. Lấy chữ Đạo ra chọi nhé – và rồi tôi ứng khẩu đọc một lô – đạo diễn, đạo sĩ, đạo đức, đạo hạnh, đạo đồng, đạo mạo…
Hắn nói:
-Thiếu hai chữ.
-Hai chữ gì?
Hắn cười:
-Đạo chích, đạo tặc! (trộm cắp)
Hắn không xin giảm án. Hắn không chịu nhún mình. Hắn vẫn giữ được tính cách cao ngạo dễ thương thời còn đi học. Hắn lãnh án. Đưa hai tay ra cho người ta còng, bước ra, vừa đi vừa cười./.


Quý Thể
https://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2014/05/choi-chu-quy-the.html

1 thg 8, 2026

TRANG FACEBOOK NGHĨA TÌNH .FB Hiệp Nguyên SP.Phước Tuy

 TRANG FACEBOOK NGHĨA TÌNH .FB Hiệp Nguyên SP.Phước Tuy

Tôi nhớ có đọc đâu đó một bài viết khá tâm đắc. Có lẽ tác giả là một người cao tuổi vui tính, nên kể chuyện rất hài hước, nội dung so sánh tuổi già giữa hai thế hệ. Ngày xưa tuổi già là Râm Mát Mái Thềm - ngồi đếm lá rụng, đợi con cháu về. Tuổi già ngày nay Lướt Facebook, Gọi Zalo…. Cái thềm đó mở rộng ra cả thế giới. Cuối bài tác giả kết luận : Mạng xã hội không làm chúng ta già. Không chịu học hỏi, không chịu chia sẻ, không chịu kết nối mới làm chúng ta già đi !
Cũng gần mười năm rồi, từ lúc khép lại những hối hả của công việc, tôi chính thức bước vào hành trình nghỉ hưu trên đất nước Canada xinh đẹp. Những năm tháng đầu tiên ấy, mỗi khi nhìn tuyết phủ trắng ngoài khung cửa, hay nghĩ đến khoảng xa nửa vòng trái đất, khiến lòng người xa xứ như tôi không khỏi trăn trở, nên đã tìm cách tạo cho mình một góc nhỏ trên không gian mạng này.
Lúc đó trang Facebook của tôi chỉ giới hạn bóng dáng của những người thân yêu trong phạm vi gia đình. Chúng tôi tìm đến nhau qua từng dòng tin nhắn, hỏi thăm về công việc, về sức khoẻ và chia sẻ cho nhau những bức ảnh kỷ niệm. Cảm giác hơi ấm gia đình vượt qua nghìn trùng xa cách, đọng lại ngay trên màn hình chiếc điện thoại chưa khi nào xa rời tôi.
Rồi theo năm tháng, góc nhỏ ấy thêm xôn xao hơn. Những bạn học từ thuở còn cắp sách đến trường, những em học trò cũ, những thầy cô dạy tôi năm xưa, những đồng nghiệp từng kề vai sát cánh ….Tất cả những mái đầu xanh ngày ấy, nay đã chớm màu sương khói. Bằng một phép mầu kỳ diệu nào đó, đã khiến chúng tôi được tìm thấy nhau. Dù múi giờ có ngược lối, Facebook đã dệt nên một chiếc cầu nối mềm mại và bền chặt đến khó tin. Nơi đó trở thành những trang nhật ký mở, một diễn đàn chan chứa nghĩa tình. Chúng tôi luôn gạt ra ngoài những bận rộn thường nhật, để trao cho nhau những nụ cười, chia sẻ một niềm vui nhỏ, hay đôi khi chỉ là lắng nghe và vỗ về một nỗi buồn sâu kín.
Trang cá nhân của tôi không rộng mở công khai. Nó là một góc khép kín, lặng lẽ và yên bình, nơi tôi cẩn trọng đón nhận từng lời mời kết bạn. Bởi tôi trân trọng sự chân thành hơn là những con số. Hầu hết đều là bạn của những bạn tôi, hoặc cùng ngành học, hoặc cùng sở thích thể thao du lịch, cùng thú vui ươm trồng, chăm sóc hoa kiểng hay cùng đam mê Văn Thơ Nhạc Hoạ.
Mười Năm, chặng đường không quá dài của một đời người, nhưng đủ để thắp sáng những năm tháng tuổi già. Giữa tiết trời se lạnh hay những mùa thu lá đỏ nơi xứ xa, tôi chợt nhận ra mình chưa hề cô đơn. Tuổi già của tôi lướt qua nhẹ nhàng, được an ủi bởi ân tình của bạn hữu gần xa, và được lấp đầy bởi vô vàn những niềm vui mộc mạc.
Trang Facebook còn là nơi thuận tiện để tôi chia sẻ và lưu giữ rất nhiều hình ảnh, nhiều bài viết. Lưu dấu những kỷ niệm, những ký ức từ thuở ấu thơ cho đến tuổi xế chiều, và đã bắc giúp tôi nhịp cầu kết nối.
Xin góp ý với quý bạn già, nếu không muốn tuổi già tới mau, hãy nên lướt xem Facebook, sẽ có đôi mắt sáng thêm, đọc được những dòng chữ nhỏ. Đôi tay nhanh hơn để gõ chữ, viết bình luận. Não bộ thêm linh hoạt để kịp thời cập nhật công nghệ mới của trí tuệ nhân tạo. Mỗi khi xem thấy điều gì yêu thích cũng đừng ngần ngại Thả Tim, để cảm thấy mình dù đã quá bảy mươi, mà con tim vần luôn nồng nàn, tâm hồn vẫn còn son trẻ.
Cám ơn những người bạn thân yêu của tôi. Những dòng chia sẻ và bình luận của quý bạn đã là những mảnh ghép tuyệt vời, làm nên trang Facebook thêm lung linh, thân thiện và ấm áp.
Thân chúc một Tháng Tám an lành, một Mùa Hè rực rỡ để yêu thương !

' NHỚ MÃI THỜI ÁO TRẮNG '= Thơ Pham Văn Bắc - SPSaigon

 


NHỚ MÃI THỜI ÁO TRẮNG

Chân đã bước sao người còn ngoảnh lại
Phải chăng ai vẫn tiếc tuổi học trò.
Có gì đâu chỉ một thuở ngây thơ
Mà còn mãi một đời mang vương vấn...
Nhớ lớp học bảng đen cùng bụi phấn
Chỗ ai ngồi vóc dáng mãi thân quen
Mái tóc dài buông nhẹ xuống vai mềm
Và ánh mắt nụ cười ơi xao xuyến
Người vắng bóng buổi nào sao chẳng đến
Lòng bồn chồn mong ngóng bước chân ai...
Chiều tan trường đôi bóng bước theo hoài
Ta lặng lẽ cùng ai chung lối nhỏ
Ngày hè đến tiếng ve như nhắc nhở
Mùa chia tay lưu luyến tuổi học trò
Cánh phượng hồng nhuộm thắm mối tình thơ
Dòng lưu bút mênh mang màu mực tím
Mái trường cũ miên man bao kỷ niệm
Để bây giờ mãi nhớ những ngày xưa.



Cây Độc - Nguyên Thảo

 CÂY ĐỘC [không trái; gái độc không con]

Nguyên Thảo

 


Lần nào tôi về Huế, người đón đầu tiên cũng là O. Người đứng tiễn sau cùng, khi xe đã lăn bánh ra khỏi ngõ, cũng là O. Như một cái hẹn không ai nói ra, bao năm rồi chưa từng trật.

O là con ông nội thúc, ở lại giữ nhà từ đường họ Kim Hoàn làng Kế Môn. Làng nhỏ nép bên sông Bồ, năm nào đến 27 tháng 2 âm lịch là khói hương lại quyện vào tiếng đục, tiếng chạm. Ngày giỗ tổ, ai đi xa mấy cũng ráng về, thắp một nén nhang rồi lại vội đi. Chỉ có O là ở lại.

Trong họ ai cũng kể, hồi con gái O đẹp nhất nhì Kế Môn. Da trắng như bông bưởi đầu mùa, tóc đen quá lưng, cười một cái là mấy anh thợ bạc đánh rơi cả cây dũa. Mười tám tuổi O lấy chồng, gả qua bên kia phá Tam Giang. Ba năm sau, người ta trả O về. Chỉ một câu gọn lỏn:

“Cây độc không trái, gái độc không con”.

O ôm gói áo cũ, lội qua phá mà về. Rồi ở vậy luôn.

Căn nhà từ đường ấy không phải của O, nhưng O giữ. Sân rộng mà lá rụng nhiều. Ngày nào cũng nghe tiếng chổi tre O quét sân, xào xạc như tiếng thở dài. Bàn thờ tổ lúc nào tro cũng còn ấm. O nói: lửa ni phải giữ, lửa tắt là họ tàn.

Ngày giỗ tổ, sân đông không thể tả. Người từ bốn phương đổ về, trong nước ngoài nước, áo quần tươm tất. tiếng cười nói rộn như phiên chợ Tết.

O đứng nép bên cây cột, cười hiền. Ai O cũng nhớ, đứa nào đậu đại học, đứa nào ly dị, đứa nào giàu to, đứa nào vỡ nợ... Vậy mà không ai hỏi O sống ra răng.

Giổ xong, mọi người lại lần lượt ra về, sân từ đường vắng hoe. O lại lẳng lặng ra khép cổng. Một mình.

Có đêm trở trời đau lưng, O nằm nghe mưa Huế gõ trên mái ngói âm dương, dầm dề. O đưa tay sờ bụng mình, bụng phẳng, lạnh ngắt. Hồi trẻ O thèm một tiếng kêu mạ đến phát điên, thấy con nít là phải quay mặt đi, sợ nhìn lâu rồi hóa ác. Rồi giờ O hết thèm. Hay O tưởng mình đã hết thèm.

O không nuôi con. O nuôi thứ khác. O nuôi căn nhà từ đường, nuôi ngọn đèn dầu không để tắt, nuôi mấy chậu kim tiền ngoài sân xanh quanh năm mà chẳng trổ hoa.

Người ta bảo cây không trái là cây độc. O nghe rồi chỉ cười:

Đàn bà không con ngày xưa họ cũng kêu rứa.

Mà O nghĩ: Cây không trái thì cho bóng mát. Không con thì giữ nòi. Mỗi người một kiểu nối dõi chứ.

O tiễn tôi ra xe. Gió sông Bồ thốc lên, ngọn đèn trong nhà từ đường chao một cái. O lật đật chạy vào châm thêm dầu.

Bóng O in lên vách, một mình, dài và mỏng

Xe lăn bánh. Tôi ngoái lại nhìn, cái bóng cây độc ấy cứ xa dần, xa dần…

Cỏ

(trích từ FB Nguyên Thảo)
304Đen – Llttm – MT68