Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Thơ Đường. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Thơ Đường. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

27 thg 12, 2016

SỰ KHÁC NHAU GIỮA THƠ ĐƯỜNG VÀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT


        1. Thơ Đường tức là Đường Thi:

        Là những bài thơ của các thi gia Trung hoa làm vào thời đại nhà Đường (618 – 907), số lượng các bài Đường thi được ghi chép và lưu truyền đến nay rất nhiều, lên đến hàng ngàn bài.
        Đã có một tác phẩm nổi tiếng là Đường Thi Nhất Thiên Thủ chọn lọc 1000 bài Đường Thi được coi là hay nhất của các thi nhân đời Đường. Trong số đó có một số được làm theo thể Thơ Đường Luật, số còn lại làm theo những thể thơ khác mà đa số là thơ Cổ phong (cổ phong hay cổ thể là loại thơ có trước đời nhà Đường, không theo niêm luật nhất định). Cho nên gọi là Đường Thi hay Thơ Đường thì phải là những bài thơ được sáng tác vào thời đại nhà Đường bên Trung hoa nhưng không nhất thiết làm theo luật thơ của Thơ Đường Luật.
        2. Thơ Đường Luật:
        Còn gọi thơ cận thể (để phân biệt với cổ phong là thơ cổ thể) là thể thơ được đặt ra từ đời nhà Đường và phải tuân theo các qui tắc bắt buộc, rất khắt khe, gò bó.
Về hình thức chữ, câu thì Thơ Đường Luật có:
        a. Theo số chữ trong câu:
- Ngũ ngôn, mỗi câu 5 chữ.
- Thất ngôn, mỗi câu 7 chữ.
        b. Theo số câu trong bài:
-Tứ Tuyệt hay Tuyệt Cú: mỗi bài bốn câu.
- Bát Cú: mỗi bài tám câu.
        Như vậy Thơ Đường Luật có 4 thể là: Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt, Ngũ Ngôn Bát Cú, Thất Ngôn Tứ Tuyệt và Thất Ngôn Bát Cú.
      
Thơ Đường Luật có những luật lệ bắt buộc rất khắt khe về: 

-
Vận (cách gieo vần).
-
Đối (đặt hai câu đi sóng đôi với nhau sao cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau, gồm cả đối ý lẫn đối chữ).
-
Luật (cách sắp đặt tiếng bằng, trắc trong từng câu của một bài thơ).
-
Niêm (nghĩa là dính) tức là sự liên lạc về âm luật của hai câu thơ trong bài Thơ Đường Luật. Hai câu thơ gọi là niêm với nhau khi nào chữ thứ 2 và chữ thứ 6 của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc).
-
Bố cục (cấu trúc bài thơ phải làm theo một trật tự bắt buộc):
* Đề: câu 1-2 (nhập bài, mở đầu).
* Trạng hay Thực: câu 3-4 (giải thích).
* Luận: câu 5-6 (bình luận, bàn bạc).
* Kết: câu 7-8 (tóm tắt toàn bài).
* Đường Luật Chính Thể chỉ có Thất Ngôn Bát Cú 5 vần bằng mà thôi.
        Khi làm thơ Đường luật phải theo chặt chẻ luật bắt buộc kể trên, chứ không phải ráp chữ cho có mà không mang một ý nghĩa nào thì không có giá trị. Lúc đó người ta gọi thơ đó là thơ lệch hay thơ xệ, hoặc thơ trật quẻ.
        3. Một sự lạm dụng và ngộ nhận:
       Thuật ngữ Thơ Đường hay Đường Thi đã bị lạm dụng, hiểu lầm, thiết nghĩ cần nói lại cho rõ.
      Thơ Đường là loại thơ do các thi nhân đời nhà Đường bên Trung Hoa sáng tác, hoàn toàn không có các tác giả đời khác, ngoài các thi sĩ đời Đường.
         Các thi sĩ Việt Nam trước đây (thường gọi là các nhà thơ cổ điển) chủ yếu làm theo thể Thơ Đường Luật. Họ sáng tác bằng Hán văn, gọi là thơ Hán văn (thí dụ thơ Hán văn của Nguyễn Du...). Còn nếu họ sáng tác bằng chữ Nôm, gọi là thơ Nôm. Như thơ của Bà Hồ Xuân Hương chẳng hạn, được người đời sau tôn xưng Bà là bà chúa thơ Nôm.
 Không ai gọi thơ Hán văn của Nguyễn Du là Thơ Đường cả. Cũng không ai gọi Bà Hồ Xuân Hương là bà chúa Thơ Đường cả.
        Tóm lại, các thi gia từ Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bùi Kỷ, Trần Tế Xương, Tản Đả, Nguyễn Khuyến ... trở về trước, người ta thường không nói là họ làm Thơ Đường, mà chỉ phân biệt Thơ Hán (Hán văn) và Thơ Nôm (chữ Nôm) thôi, với hiểu ngầm là Thơ Đường Luật chữ Hán hoặc Thơ Đường Luật chữ Nôm. Gọi tắt là Thơ Hán Đường Luật và Thơ Nôm Đường Luật.
         Đến khi phong trào thơ mới xuất hiện, có một trào lưu bài xích Thơ Đường Luật, đứng đầu là Phan Khôi, vì họ cho đó là loại thơ khắt khe, cứng ngắc, bó buộc, chật hẹp, không đủ cho để diễn tả cảm xúc bao la, dào dạt, bay bổng của các nhà thơ mới.
       Một cuộc bút chiến giữa hai trường phái thơ cổ điển và thơ mới diễn ra gay gắt suốt cả thập niên 1930 của thế kỷ trước. Kết thúc là sự thắng thế (một cách tương đối) của các nhà thơ mới.
Nói là thắng thế một cách tương đối, vì trong các nhà thơ mới, nhiều người vẫn sáng tác Thơ Đường Luật, điển hình là Hàn Mặc Tử.
        Nhưng đó là Thơ Đường Luật của Hàn Mặc Tử. Không ai gọi đó là Thơ Đường cả.
Quách Tấn, bạn thân của Hàn Mặc Tử, điển hình của thi sĩ chủ trương thơ cổ điển, ghét thơ mới, suốt đời chỉ làm Thơ Đường Luật, nhưng đó là thơ Quách Tấn, không phải Thơ Đường.
        Hiện nay nhiều người làm Thơ Đường Luật lại gọi đó là Thơ Đường.
Thật là một sự ngộ nhận đáng tiếc, cần được đính chính lại.
        Các bài thơ làm theo thể Thất Ngôn Bát Cú, Thất Ngôn Tứ Tuyệt... gọi chung là thể Thơ Đường Luật không phải Thơ Đường.
        Hãy vì sự tự trọng và tự hào của một thi nhân chân chính, không nên xưng là tôi sáng tác Thơ Đường. Mà nên nói, tôi làm thơ theo luật thơ của thể Thơ Đường Luật.
Có người thanh minh rằng Thơ Đường Việt Nam phải hiểu là Thơ Đường do người Việt Nam sáng tác. Cách nói đó là không đúng mà lại rất hàm hồ. Người Việt không thể làm ra Thơ Đường, mà chỉ làm thơ theo thể thơ Đường Luật mà thôi.
        Mấy năm nay, có rất nhiều "nhà thơ" làm thơ danh xưng là Thơ Đường hay Đường Thi (nhưng thực chất là Thơ Đường Luật). Cái tên này là mạo nhận, không chính xác, vì chỉ có các ông như Lý Bạch, Đỗ Phủ... mới đủ tư cách xưng là Thơ Đường.
       Cần hiểu là nếu bỏ đi một chữ (chữ LUẬT trong nhóm chữ Đường Luật) là ý nghĩa của từ ngữ bị thay đổi rồi. Vì thế chúng ta đang làm và chơi thơ Đường luật . Nhưng trong thực tế ta có gọi là làm thơ Đường, thì thực chất ta làm thơ theo thể luật Đường, trong ngôn ngữ nói thì cũng có thể châm chước . Nhưng khi viết thành chữ nghĩa thì nên viết cho trọn nghĩa: Thơ luật Đường hay Thơ Đường luật .Chứ không nên đặt bút viết  Đường thi .hay thơ Đường .
       Tài liệu do Hồ Xưa sưu tầm trên Internet.___________________________

15 thg 1, 2022

MỐI LƯƠNG DUYÊN GIỮA THƠ ĐƯỜNG VÀ THƠ LỤC BÁT QUA NGÒI BÚT TÀI HOA CỦA TẢN ĐÀ

 


Khi nói về thể thơ tiêu biểu của Trung Hoa thì người ta nghĩ ngay tới thơ Đường với những nhà thơ như Lý Bạch, Đổ Phủ, Vương Duy, Vương Bột…Khi nói về thể thơ tiêu biểu của Việt Nam thì chắc chắn ai cũng nghĩ đến thể thơ lục bát.Vì vậy nếu nói thơ Đường là tinh hoa của người Trung Hoa thì thơ lục bát là quốc hồn, quốc túy của người Việt vậy.
Thơ Đường là một thể thơ mang tính hàn lâm với những quy định khắt khe về niêm, luật, vần, đối… cho dù là thơ ngũ ngôn hay thất ngôn, tứ tuyệt hay bát cú cũng đều như vậy. Với những nguyên tắc khắt khe như thế nên hầu như thơ Đường chỉ được sáng tác và lưu truyền trong văn chương, học thuật của giới trí thức. Cái khó của thơ Đường là tác giả muốn thể hiện ý tưởng bằng những câu thơ phải tuân thủ những nguyên tắc về niêm , luật, vần, điệu, đối cho chỉnh nên rất gò bó về cách sử dụng từ ngữ, nhiều khi tác giả phải gò ép chữ cho đúng với niêm, luật nên câu thơ có phần gượng gạo, thiếu cảm xúc, từ đó bài thơ mất hay. Có thể nói thơ Đường nặng về kỹ thuật mà nhẹ về cảm xúc.
Trái với thơ Đường, thơ lục bát của người Việt thì lại xuất xứ từ những câu hò, những câu ca dao, tục ngữ được lưu truyền trong giới bình dân. Trong khi các nhà thơ nho sỹ, trí thức, miệt mài với thơ Đường bằng chữ Hán hay chữ Nôm thì một bộ phận rất lớn người nông dân đang làm việc với đồng lúa, nương khoai vẫn truyền tụng nhau bằng những câu hò dân dã bằng những câu thơ lục bát rất phong phú về ý tưởng và đề tài. Thơ lục bát của người Việt dù không quy định khắt khe như thơ Đường, nhưng cũng phải có luật bằng trắc, gieo vần nghiêm chỉnh. Thơ lục bát hầu như chỉ gieo vần bằng và chữ thứ sáu của câu bát phải khớp vận với chữ cuối của câu lục, đây là nguyên tắc bắt buộc. Ngoài ra cũng đòi hỏi nhà thơ phải có nghệ thuật tu từ, đối đoạn, văn phong, ý tưởng, từ ngữ phải hàm nghĩa súc tích nếu không thì nó sẽ thành bài vè mà không phải là thơ lục bát. Đất nước ta có một kho tàng ca dao, tục ngữ và những câu hò theo thể thơ lục bát hết sức đồ sộ và phong phú được những “nhà thơ” dân gian sáng tác mà không biết ai là tác giả. Riêng những nhà thơ “thứ thiệt” tiêu biểu cho thể thơ lục bát thì đứng cao hơn hết và tuyệt vời hơn hết là cụ Nguyễn Du với tác phẩm Truyện Kiều, tiếp theo có thể kể đến các nhà thơ Tản Đà, Nguyễn Bính, Huy Cận…, sau naỳ thì có Phạm Thiên Thư với ý tưởng viết Hậu Truyện Kiều với thi phẩm Đoạn Trường Vô Thanh cũng rất thành công.
Chúng ta có thể nghe những câu hò nặng chất dân dã nhưng lại là những câu thơ lục bát rất hay được khẩu tuyền trong dân gian như
Thò tay em ngắt ngọn ngò
Thương anh đứt ruột giả đò ngó lơ
Hay là:
Tay bưng dĩa muối chắm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau
V.v và v.v vô số kể những câu thơ lục bát một cách hồn nhiên như thế. Người nông dân vô tình sáng tác thơ lục bát mà không hề biết đến cách gieo vần, không cần biết đến luật bằng trắc vì họ không phải là nhà thơ nhưng đúng là “chuẩn không cần chỉnh”!
Như đã nói từ đầu, thơ Đường và thơ lục bát là hai thể thơ tinh túy của hai dân tộc, một bên là hàn lâm một bên là dân dã tưởng chừng như nó không có một sự tương tác nào. Thế nhưng qua ngòi bút tài hoa của Tản Đà thì từ một những câu thơ mang tính bác học của người Trung Hoa lại được cụ biến hóa nó biến thành câu thơ lục bát rất hay và rất gần gũi với người Việt, thế nên nó được người Việt đón nhận và nhiều cảm xúc như chính câu thơ của đất nước mình vậy.
Xưa nay chúng ta có khá nhiều dịch giả dịch những bài thơ Đường bằng chữ Hán qua chữ quốc ngữ, nhưng hầu như đa phần luôn tuân thủ theo một mô-tip thơ Đường bằng chữ Hán qua thơ Đường bằng chữ Việt. Chỉ có cụ Tản Đà là người chuyên dịch thơ Đường chữ Hán qua chữ quốc ngữ bằng thơ lục bát của người Việt. Lối dịch thơ của Tản Đà rất thanh thoát và phóng khoáng, cụ chỉ mượn ý mà không lệ thuộc quá nhiều vào văn tự, không dịch theo kiểu “chữ nào nghĩa đó”, nhưng vẫn vẫn giữ được ý thơ và hồn thơ của nguyên tác.

 Cụ Tản Đà đã Việt hóa những bài thơ Đường chữ Hán một cách tài tình, dưới mắt bạn đọc người Việt đôi lúc thấy bản dịch hay hơn nguyên tác nữa!.
Trong những năm 1937, 1938 Tản Đà chuyên dịch thơ chữ Hán đăng trên báo Ngày Nay, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, gần một trăm bài thơ Đường đa phần là thất ngôn, ngũ ngôn bát cú hay tứ tuyệt một số ít khác là trường thiên, được Tản Đà dịch qua Việt ngữ bằng thể thơ lục bát. Trong tập “Thơ Đường Tản Đà dịch” do Nguyễn Quảng Tuân biên soạn đã gom gần hết các bản dịch thơ Đường của cụ đã dịch trên báo Ngày Nay. Có những câu thơ dịch của cụ còn hay hơn nguyên tác, xin trích dẫn vài câu
Minh nguyệt xuất Thiên San
Thương mang vân hải quan
( Quan San Nguyệt của Lý Bạch)
 

Tản Đà dịch:
Vừng trăng ra núi Thiên San
Mênh mang nước bể mây ngàn sáng soi
Hai câu kết trong bài Ký Vi Chi của Bạch Cư Dị
Sinh đương phục tương phùng
Tử dương tòng thử biệt !
Tản Đà dịch:
 

Sống còn gặp gỡ đôi ta
Ví chăng chết mất thôi là biệt nhau !
Hà xứ dao vọng quân
Giang biên minh nguyệt lâu
(Tống Hồ Đại của Vương Xương Linh)
 

Tản Đà dịch:
Nhớ anh xa ngái dặm trường
Bên sông dưới bóng trăng suông tựa lầu
Còn rất nhiều những câu dịch thanh thoát và tài hoa như thế. Ở đây tôi chỉ xin trích dẫn hai bài thơ Đường chữ Hán nổi tiếng với bản dịch của Tàn Đà để bạn đọc thưởng lãm. Bài thứ nhất là bài “ Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Bản dịch của Tản Đà:
 

Hạc vàng ai cỡi đi đâu
Mà nay hoàng hạc bên lầu còn trơ!
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông lạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai ?
(Ngày nay số 80 10.10. 1937)
 

Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu la một bài thơ chữ Hán được nhiều người dịch sang Việt ngữ nhất như Ngô Tất Tố, Nguyễn Quảng Tuân, Vũ Hoàng Chương, Khương Hữu Dụng…hầu hết đều dịch qua thể thất ngôn bát cú chỉ riêng Tản Đà là dịch sang thơ lục bát.
Ta thấy hai câu kết trong bài thơ của Thôi Hiệu “Nhật mô hương quan hà xứ thị. Yên ba giang thượng sử nhân sầu” đã quá hay, bản dịch bằng thơ lục bát cùa Tản Đà là:
 

Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sóng khói sóng cho vừa lòng ai ?
Tôi thấy có lẽ còn hay hơn nguyên tác!.
 

Bài thứ hai là “Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Tản Đà dịch:
 

Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nữa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
 

Ở bài này thì có lẽ hai câu đầu không hay bằng nguyên tác, nhưng hai câu kết thì Tản Đà đã chuyển ngữ quá xuất sắc.
Càng tìm đọc các bài thơ lục bát của Tản Đà dịch từ thơ Đường ta thấy ngòi bút của cụ thật là tài hoa và phóng khoáng. Chính Tản Đà đã đưa những bài thơ Đường, mặc dù rất hay, rất tiêu biểu cho nền văn học cổ điển Trung Hoa nhưng nó quá hàn lâm và được viết bằng thứ văn tự rất xa lạ với người Việt bằng những vần thơ lục bát là thể thơ gần gũi của người nước ta để cho mọi người có thể cảm nhận cái hay, cái đẹp của thơ Đường mà đôi lúc quên đi nguyên tác, nó sống trong trái tim người bằng một thể thơ quốc hồn quốc túy của người Việt chúng ta vậy.
 

Nguyễn Ngọc Luật
(Tàn Đông Tân Sửu
 

8 thg 5, 2020

Mạn đàm : THƠ ĐƯỜNG VẦN TRẮC - Đổ Chiêu Đức

Thường nói đến gieo vần là người ta nghĩ ngay đến Vần Bằng. VẦN là những chữ những từ có  âm điệu, âm sắc và âm vận giống nhau như SA, GIA, HOA trong bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt "BẠC TẦN HOÀI 泊秦淮" của chàng thi sĩ lạc phách phong lưu đa tình của buổi Tàn Đường Đỗ Mục 杜牧 :

                      煙籠寒水月籠沙,   Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung SA,
                      夜泊秦淮近酒家。   Dạ bạc Tần Hoài cận tửu GIA.
                      商女不知亡國恨,   Thương nữ bất tri vong quốc hận,
                      隔江猶唱後庭花。   Cách giang do xướng Hậu Đình HOA.
Có mghĩa :  
Khói mờ nước lạnh cát trăng nhòa,
                      Đêm ghé Tần Hoài cạnh tửu gia.
                      Ca kỷ biết đâu hờn mất nước,
                      Cách sông còn hát Hậu Đình Hoa ! 

        Đó là cách gieo vần của các bài Ngũ Ngôn và Thất Ngôn Tứ Tuyệt mà cụ Nguyễn Du đã nói trong Truyện Kiều khi chị em Thúy Kiều đi du xuân Đạp Thanh nhân tiết Thanh Minh, trước mả Đạm Tiên cô Kiều đã :
                                     Rút trâm sẵn vắt mái đầu,
                               Vạch da cây vịnh BỐN CÂU BA VẦN.

        Không "Bốn câu ba vần" thì "Bốn câu hai vần" nghe vẫn êm tai như thường. Như bài "Ức Đông Sơn" của Thi Tiên Lý Bạch sau đây :

                           不向東山久,       Bất hướng Đông sơn cữu,
                           薔薇幾度花?       Tường vi kỷ độ HOA ?
                           白雲還自散,       Bạch vân hoàn tự tán,
                           明月落誰家?       Minh nguyệt lạc thùy GIA ?
Có nghĩa :
 Đông Sơn lâu không đến,
                          Mấy độ tường vi PHAI?
                          Mây trắng còn tan biến,
                          Trăng vàng rụng nhà AI ?!
   Lục bát :
                          Đông Sơn lâu qúa không QUA,
                      Tường Vi mấy độ hoa ĐÀ phôi PHAI.
                          Ngẩn ngơ mây trắng còn BAY,
                     Trăng vàng rụng xuống nhà AI đêm này ?!

        Ta thấy, vần BẰNG êm tai là thế, du dương là thế, gợi cảm là thế !... Nhưng trong thi ca, thỉnh thoảng ta vẫn bắt gặp những bài thơ gieo vần TRẮC, đọc lên nghe "Trúc trắc" chói cái lổ tai, nhưng vẫn có cái âm  điệu độc đáo riêng của nó. Ta hãy nghe thử âm điệu bài thơ "Giang Tuyết 江雪" của Liễu Tông Nguyên 柳宗元sau đây sẽ rõ :

                       千山鳥飛絕,    Thiên sơn điểu phi TUYỆT,
                       萬徑人踪滅。    Vạn kính nhân tung DIỆT.
                       孤舟簑笠翁,    Cô chu toa lập ông,
                       獨釣寒江雪。    Độc điếu hàn giang TUYẾT !
Có nghĩa :
  Ngàn núi chim bay MIẾT,
                       Muôn lối bóng người TUYỆT.
                       Thuyên côi một lão ông,
                       Buông cần trên sông TUYẾT !
   Lục bát :
                       Chim bay về núi hết rồi,
               Đường mòn muôn lối bóng người bặt tăm.
                       Thuyền côi áo lá ngư ông,
                Buông cần một bóng trên sông tuyết mù !

      Ba âm TUYỆT, DIỆT, TUYẾT khô khan cộc lốc lạnh lẽo như trời đông giá tuyết ! nêu bậc được cảnh trí độc đáo lạnh lùng vắng vẻ của trời đông tuyết giá trên sông, làm ta lại nhớ đến...

                                        Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, 
                                        Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo...

 của cụ Nguyễn Khuyến. Ai bảo thơ vần TRẮC không nên thơ, không gợi cảm đâu ? Thơ VẦN TRẮC hay theo kiểu VẦN TRẮC ! Nhưng, lại nhưng, luật thơ Đường, Luật chính quy lại không chấp nhận thơ Vần Trắc là thơ CHÍNH LUẬT, mà lại liệt vào hàng thơ Cổ Phong CỔ THỂ. Theo như tài liệu tham khảo trên mạng thì...

      Cơ bản mà nói, cho đến trước mắt vẫn chưa có tài liệu văn bản nào quy định là "Thơ Đường luật không thể gieo vần TRẮC". Nhưng căn cứ vào tất cả tư liệu về Đường Thi trước mắt, thì rất hiếm có một bài thơ Đường Luật nào của đời Đường mang vần TRẮC cả, thường thì những câu thơ "Đúng Luật Bằng Trắc" xa cạ xen lẫn những câu "Thất Luật" trong cùng một bài thơ, nên có người xếp NÓ vào thơ Đường Luật, có người xếp NÓ vào thơ "Cổ Phong".
      Sự phân biệt giữa thơ Đường Luật và thơ Cổ Phong không phải căn cứ ở chỗ gieo VẦN TRẮC hay VẦN BẰNG, cũng không phải xem SỐ CHỮ trong câu thơ, mà là căn cứ vào LUẬT BẰNG TRẮC TRONG TỪNG CÂU THƠ có đúng với "Cách Luật" hay không, nếu đúng thì là THƠ LUẬT, còn nếu không đúng thì là thơ CỔ PHONG.

      Căn cứ theo tài liệu nghiên cứu của Vương Lực 王力, một học giả cận đại chuyên nghiên cứu về Luật Thi đời Đường thì :"Thơ Đường luật đời Đường, mặc dù có những tác phẩm gieo vần trắc, nhưng rất ít. Một ít tác phẩm thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt và Ngũ ngôn luật thi, còn Thất ngôn tuyệt cú và Thất ngôn luật thì lại càng hiếm thấy. Đại bộ phận Ngũ ngôn tuyệt cú đều được xếp vào "Ngũ Ngôn Cổ Phong", nên thơ gieo "Vần Trắc" đều được liệt vào nhóm "Cổ Thể Thi". Theo học giả Vương Lực thì :

      "Thơ Chính luật Đường Luật lấy VẦN BẰNG làm chính, còn VẦN TRẮC thì giống như thơ Cổ Phong. Ta phân biệt chúng bằng cách căn cứ vào LUẬT BẰNG TRẮC trong một câu thơ làm tiêu chuẩn". Theo như mẫu BẰNG TRẮC dưới đây :

   * NGŨ NGÔN :               
                 1.仄仄平平仄      T T B B T
                 2.仄仄仄平平      T T T B B
                 3.平平平仄仄      B B B T T
                 4.平平仄仄平      B B T T B
   * THẤT NGÔN :
                 1. 平平仄仄平平仄    B B T T B B T
                 2. 平平仄仄仄平平    B B T T T B B
                 3. 仄仄平平平仄仄    T T B B B T T
                 4. 仄仄平平仄仄平    T T B B T T B

     Cụ thể như bài "Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ" (Tìm người ở ẩn không gặp) của nhà Thơ Giả Đảo 賈島的尋隐者不遇 đời Đường như sau : 

               松下问童子,Tùng hạ vấn đồng TỬ,    平仄仄平仄   BTTBT    sai luật câu
               言师采药去。Ngôn sư thái dược KHỨ. 平平仄仄仄   BBTTT    sai luật câu
               只在此山中,Chỉ tại thử sơn trung,    仄仄仄平平   TTTBB    đúng luật câu
               云深不知处。Vân thâm bất tri XỨ.      平平仄平仄   BBTBT    sai luật câu
Có nghĩa :
Dưới tùng hỏi đồng TỬ,
                    Sư hái thuốc đâu HỬ ?
                    Chỉ ở trong núi nầy,
                    Mây mù sao thấy CHỨ ?!
   Lục bát :
                    Dưới rặng thông, hỏi tiểu đồng,
               Rằng sư hái thuốc lòng vòng đâu đây.
                    Quẩn quanh trong ngọn núi nầy,
               Mây mù khuất lắp bóng thầy thấy đâu !

     Nếu kể theo Luật Thi thì bài thơ trên vừa "Thất Niêm" vừa "Thất Luật", nên phải được liệt vào nhóm các bài thơ "Cổ Phong". Sau đây là bài VỌNG NHẠC (Ngắm núi) của Thi Thánh Đỗ Phủ 又如杜甫的《望岳》:

               岱宗夫如何? Đại tông phù như hà ?        仄平平平平    TBBBB      sai luật câu
               齐鲁青未了。 Tề Lỗ thanh vị liễu.            平仄平仄仄    BTBTT       sai luật câu
               造化钟神秀, Tạo hóa chung thần tú,      仄仄平平仄    TTBBT       đúng luật câu
               阴阳割昏晓。 Âm dương các hôn hiểu.     平平仄平仄    BBTBT      sai luật câu
               荡胸生层云, Đảng hung sanh tằng vân,  仄平平平平    TBBBB      sai luật câu
               决眦入归鸟。 Quyết tí nhập quy điểu.      仄仄仄平仄    TTTBT       sai luật câu
               会当凌绝顶, Hội đương lăng tuyệt đĩnh, 仄平平仄仄     TBBTT      sai luật câu
               一览众山小。 Nhất lãm chúng sơn tiểu.   仄仄仄平仄     TTTBT      sai luật câu
Có nghĩa :
                        Thái Sơn đẹp ra sao ?
                       Tề Lỗ xanh khôn nói.
                       Tạo hóa kết xinh tươi,
                       Âm dương chia sáng tối.
                       Lòng tợ mây trắng trôi,
                       Chim như bay lạc lối.
                       Quyết lên tận đĩnh cao,
                       Dưới thấp muôn ngàn núi !
    Lục bát :
                       Thái Sơn đẹp biết dường bao !
                    Xanh tươi Tề Lỗ ngạt ngào cỏ hoa.
                       Khéo thay con tạo nguy nga,
                    Âm dương sáng tối nam qua bắc về.
                       Chập chùng mây trắng tư bề,
                   Chim bay mõi cánh đi về phương nao.
                       Cố lên tận đĩnh non cao,
                  Cúi trông ngàn núi khác nào dưới chân     

        Ông Thánh làm thơ, mặc dù đối rất chỉnh, nhưng nếu kể là Luật Thi thì vẫn "Thất Niên Thất Luật" như thường, nên bài thơ trên phải được kể là thơ "Cổ Phong" chứ không phải "Ngũ Ngôn Luật Thi".

      Lại như bài kệ VÔ MÔN QUAN của Tuệ Khai Thiền Sư đời Tống 宋.慧開禪師《無門關》như sau :

                春有百花秋有月, Xuân hữu bách hoa thu hữu nguyệt,    BTTBBTT   Sai luật
                夏有涼風冬有雪; Hạ hữu lương phong đông hữu tuyết.   TTBBBTT   Đúng luật
                若無閒事掛心頭, Nhược vô nhàn sự quải tâm đầu,         TBBTTBB   Sai luật
                便是人間好時節。 Tiện thị nhân gian hảo thời tiết.           TTBBTBT   Sai luật
Có nghĩa :
                        Xuân có trăm hoa thu có nguyệt,
                        Hạ thì gió mát đông thì tuyết.
                        Nếu không vướng mắc truyện trong lòng,
                        Nhân gian bốn mùa nào cũng tuyệt !
  Lục bát :
                        Xuân hoa thu nguyệt lẽ thường,
                    Hạ thì gió mát đông thường tuyết rơi.
                        Nếu lòng thanh thản thảnh thơi,
                      Bốn mùa thời tiết tuyệt vời kể chi !

      Ba câu trên còn giữ được "Nhị tứ lục phân minh", câu bốn thì bỏ luôn " Nhị tứ lục" và bài kệ cũng Thất cả Niêm. nên chỉ kể là Cổ Phong chứ không kể là "Thất Ngôn Tứ Tuyệt". 

      Lại như bài Thất ngôn bát cú "Ý TỰ" của Hàn Ốc 韩偓的《意绪》đời Đường :

               绝代佳人何寂寞,Tuyệt đại giai nhân hà tịch mạc,         仄仄平平平仄仄     Đ.luật
               梨花未发梅花落。Lê hoa vị phát mai hoa lạc.                平平仄仄平平仄     S.luật
               东风吹雨入西园,Đông phong xuy vũ nhập tây viên,     平平平仄仄平平     S.luật
               银线千条度虚阁。Ngân tuyến thiên điều độ hư các.       平仄平平仄平仄     S.luật
               脸粉难匀蜀酒浓,Kiểm phấn nan quân Thục tửu nùng,  仄仄平平仄仄平     Đ.luật
               口脂易印吴绫薄。Khẩu chi dị ấn Ngô lăng bạc.              仄平仄仄平平仄     S.luật
               娇娆意态不胜羞,Kiều nhiêu ý thái bất thắng tu,           平平仄仄仄平平     Đ.luật
               愿倚郎肩永相着。Nguyện ỷ lang kiên vĩnh tương trác.    仄仄平平仄平仄     S.luật
Người đẹp tuyệt trần sao vắng lặng,
                      Hoa lê chưa quét hoa mai rụng.
                      Gió đông mưa thổi góc vườn tây,
                      Kim chỉ thêm buồn lầu gác vắng.
                      Hương phấn khôn che rượu Thục nồng,
                      Son môi dễ để lụa Ngô ấn.
                      Yêu kiều diễm lệ thẹn thùng nên...
                      Tựa lấy vai chàng qua kiếp sống !
 Lục bát :
                      Tuyệt trần người đẹp buồn sao,
                    Hoa lê chưa quét đã sầu hoa mai.
                      Gió đông mưa ướt vườn tây,
                 Ngàn kim mũi chỉ riêng đây lạnh lùng.
                      Phấn son rượu Thục vẫn nồng,
                   Son môi để dấu ấn hồng lụa Ngô.
                      Yêu kiều diễm lệ dường thơ...
                 Vai chàng tựa đến bạc phơ mái đầu !

     Bài thơ có Vần Trắc trên đây, Niêm rất chỉnh, Đối rất chỉnh, Luật thì có câu Sai câu Đúng, nhưng vẫn không kể là Luật Thi được. 

     Bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt độc nhất vô nhị trong Đường Thi (theo tài liệu nói, chớ không phải tôi nói). Thường thì Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt gieo vần Trắc thì nhiều, chớ Thất Ngôn thì duy nhất chỉ có bài nầy mà thôi. Đó là bài "Lạc Kiều Vãn Vọng 洛橋晚望" của Mạnh Giao 孟郊 đời Đường :

            天津橋下冰初結,        Thiên Tân kiều hạ băng sơ kết,               BBBTBBT       Sai luật
            洛陽陌上人行絕。        Lạc Dương lộ thượng nhân hành tuyệt.    TBTTBBT        Sai luật
            榆柳蕭疏樓閣閒,        Du liễu tiêu sơ lâu các nhàn,                   BTBBBTB       Sai luật
            月明直見嵩山雪。        Nguyệt minh trực kiến Tung Sơn tuyết.    TBTTBBT        Sai luật

        Bốn câu trên, nghiêm chỉnh mà nói thì đều phạm LUẬT BẰNG TRẮC, nhưng đều giữ được "Nhị Tứ Lục phân minh" của một bài Tuyệt Cú, đáng là một bài thơ hay.

* Nghĩa Bài Thơ :
                        - Dưới dốc cầu Thiên Tân vừa mới kết băng, thì...
                        - Trên đường phố Lạc Dương đã tuyệt bóng người đi rồi.
                        - Các nhánh liễu lơ thơ tiêu điều đứng nhàn hạ trước lầu,
                        - Vầng trăng sáng cho ta nhìn thấy rõ ràng tuyết phủ trên ngọn núi Tung Sơn.

* Diễn Nôm :
 Dưới dốc Thiên Tân băng mới kết,
                          Lạc Dương đường phố người đi hết.
                          Xác xơ tơ liễu rủ bên lầu,
                          Trăng chiếu Tung Sơn đầy núi tuyết !
   Lục bát :
                          Thiên Tân cầu mới đóng băng,
                   Lạc Dương đường phố đã không một người.
                            Trước lầu tơ liễu tơi bời,
                     Trăng soi tỏ rõ tuyết ngời Tung Sơn.

     Từ các ví dụ trên đưa ta đến kết luận là :

     Thơ TRẮC VẬN (Vần Trắc) thuộc phạm trù của thơ CỔ PHONG, nên "Không thể kể là thơ Đường Luật "  Chính Luật được. Nhưng thơ Vần Trắc cũng có nét độc đáo riêng, NÓ có thể nới lỏng hơn về Cách Luật trong từng câu, Niêm Luật và yêu cầu về Đối Xứng cũng dễ dàng hơn, dễ diễn tình diễn ý hơn mà âm điệu cũng hấp dẫn và lạ tai hơn, không đơn điệu gò bó như Luật Thi, nên thỉnh thoảng ta cũng hay bắt gặp một vài bài thơ độc đáo của các tác giả nổi danh tìm đến với không gian mới thông thoáng hơn nầy, như bài Sanh Tra Tử - NGUYÊN TỊCH (đêm Nguyên Tiêu) của Âu Dương Tu đời Tống 欧阳修的《生查子·元夕》sau đây :

            去年元夜时,   Khứ niên nguyên dạ thì,
            花市灯如昼。   Hoa thị đăng như trú.
            月上柳梢头,   Nguyệt thượng liễu sao đầu,
            人约黄昏后。   Nhân ước hoàng hôn hậu.
            今年元夜时,   Kim niên nguyên dạ thì,
            月与灯依旧。   Nguyệt dữ đăng y cựu,
            不见去年人,   Bất kiến khứ niên nhân,
            泪湿春衫袖。   Lệ thấp xuân sam tụ.

       Hai câu thơ nổi tiếng là bất hủ đi vào văn học dân gian, hòa vào cuộc sống và đầu môi chót lưỡi của mọi người là : 

            月上柳梢头     Nguyệt thượng liễu sao đầu, 
            人约黄昏后     Nhân ước hoàng hôn hậu. 
Trăng lên ngọn liễu rạng ngời,
              Người cùng ước hẹn sau trời hoàng hôn.

        Nhưng....
                     Trước mắt, các bạn thơ, các người thơ trong Vườn Thơ Thẩn hay các thi nhân, thi sĩ làm thơ Đường Luật gieo vần Trắc, nhưng vẫn giữ đúng NIÊM, LUẬT, VẬN một cách nghiêm chỉnh. Theo tôi thì đó cũng là một diễn biến theo thời đại của Luật Thơ, nên ta vẫn có thể gọi đó là  TRẮC VẬN LUẬT THI 仄韻律詩 là : "Thơ Đường Luật được gieo vần Trắc" cho hợp với trào lưu tiến hóa, chớ nếu gọi bằng thơ CỔ PHONG hay CỔ THỂ thì nghe có vẽ CỨNG NGẮT không linh động thông thoáng chút nào cả ! Những từ chuyên môn như "Cổ Phong, Cổ Thể" chỉ để nghiên cứu và chỉ nên gọi ở trên lớp khi đang giảng cho các học viên mà thôi !

         Sau đây là hai bài thơ xướng họa của Vườn Thơ Thẩn được gieo VẦN TRẮC và Niêm Luật đều rất chỉnh đúng với Luật Thơ Đường Luật chính thể :

     Chúc Mừng Sinh Nhật 
       Nguyễn Đắc Thắng
           
Sinh Nhật hôm nay mừng sáu sáu
Dù đang yếu bước chân kỳ lão
Cảm hoài tâm sự nặng lòng thơ
Cố gắng gìn thân an bộ não 
Bằng hữu nơi nơi gởi chúc mừng
Thâm tình đặc biệt mời đi dạo
Ngẫm mình thấy bạn thoáng nao nao
Mong mỏi yên bình sau gió bão.
                              Cao Linh Tử . 
                               Cao Lãnh, 4/4/2018

       Inline image
  Nguyễn Đắc Thắng 66
          
Họa Vận :

    MỪNG SINH NHẬT 66

Mừng đệ năm nay đạt sáu sáu,
Vượt vòng Hoa Giáp năm năm lão.
Lạc quan dưỡng bệnh chớ âu sầu,
Vui sống yêu đời đừng áo não !
Tình bạn chan hòa khắp mọi nơi,
Vườn thơ bát ngát chung cùng dạo.
Bền lòng vững chí chớ oán vưu,
Trời sẽ xanh hơn sau lốc bão !
                        Đỗ Chiêu Đức
                            Mậu Tuất 2018

Sau đây là các bài thơ xướng họa của Vườn Thơ Thẩn nhân MÙNG 1 TẾT Âm Lịch, Canh Tý 2020.

    KHAI BÚT CANH TÝ
       (Thơ Vận Trắc)

 Inline image

Đôi vần khai bút xuân Canh Tý
Ước viết sao tròn câu ý nhị
Cầu sẽ trăm ngày vẹn thỏa tâm
Mong rằng vạn sự xuôi như ý
Mừng mừng bá tánh ngập tài danh 
Chúc chúc muôn nhà tràn phước hỉ
Quốc thái dân an, cảnh thịnh cường
Người người no thỏa tiền căng …ví.
                        CAO BỒI GIÀ
                               25-01-2020

HỌA VẬN :

     HỌP MẶT ĐẦU NĂM

Họp mặt bạn bè vui Tết Tý
Bên cành mai thắm vừa bung nhị
Hàn huyên câu chuyện mãi thân tình
Chúc tụng cuộc đời luôn toại ý
Chén rượu tương phùng say ngất ngây
Vần thơ xướng họa tràn hoan hỉ
Tuổi già thanh thản sống an vui
Lọ phải sang giàu tiền chật ví.
                        Sông Thu
             (Mùng Một Tết Canh Tý 2020)

   Inline image

    CHÚC MỪNG NĂM TÝ

Năm chuột địa chi gọi chú Tý,
Tết về trăm thứ hoa đương nhị.
Muôn điều may mắn thảy toại lòng,
Vạn sự hanh thông đều xứng ý.
Già trẻ tương thông cộng lạc an,
Gái trai hòa hợp cùng hoan hỉ.
Xóm làng khởi sắc hết lo toan,
Rủng rỉnh bàng dân tiền chật ví !
                                Đỗ Chiêu Đức

         Xin được kết thúc bài viết về THƠ ĐƯỜNG VẦN TRẮC ở nơi đây. Hẹn bài viết tới !

                                                                                                                        杜紹德
                                                                                                                   Đỗ Chiêu Đức
🌼🌼🌼🌼🌼


      🌷🌷🌷            CÁCH THỨC HỌA THƠ ĐƯỜNG LUẬT





















12 thg 12, 2014

Cái khó khi làm thơ Đường - Nguyễn Cang

                                            CÁI KHÓ KHI LÀM THƠ ĐƯỜNG
                                                         ( Nguyễn Cang )      
 MỞ BÀI :    Hiện tại, có nhiều người trong nước cũng như hải ngoại, làm thơ Đường. Bỗng dưng nó trở thành cái mốt, mà có mới mẻ gì đâu thể loại thơ nầy? Nó được các vua quan nước ta đưa vào quy chế trong các cuộc thi tuyển lựa nhân tài ra giúp nước, từ mấy thế kỷ trước.Ở hải ngoại cũng như trong nước nhiều câu lạc bộ, hội  thơ Đường được thành lập,nhỏ hơn một chút thì có vườn thơ Đường, góc thơ Đường, chùm thơ Đường v.v.  Đặc biệt có sự tham gia của các bạn trẻ làm thành phong trào giống như phong trào thơ mới giai đoạn 1932-1945 vậy.Tôi không rõ do đâu mà phong trào lên nhanh, có thể do nhàn hạ sau khi "tang bồng trang trắng vỗ tay reo" thì các cụ muốn tìm thú vui giải trí vừa thanh tao vừa luyện cho trí não khỏi bị suy thoái, Bạn mình làm được bài thơ hay bèn khoe cho bạn khác biết tạo  thành luồng điện lan nhanh. Còn các bạn trẻ thấy cha mẹ làm thơ cũng bắt chước làm thử, đọc lên nghe được bèn làm tiếp, nhưng cũng có thể do bế tắc trong cuộc sồng nên tìm quên lãng trong tiếng thơ .Có thể nói bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật là thể thơ khó làm nhất ví nó có nhiều luật lệ ràng buộc mà nếu ta không nắm vững thì sẽ bị thất luật, thất niêm , biến thành thơ cổ phong hay thơ tự do và bị xếp vào loại non nớt, ấu trĩ. Bài thơ hạn định trong 8 câu, mỗi câu 7 chữ,nghĩa là có tất cả 56 chữ thôi nhưng mỗi chữ phải được đặt ở một vị trí nhất định theo đúng luật bằng trắc. Có thể sánh những chữ trong bài như một quân cờ trong bàn cờ thế . Quả thực nó khó làm, nhưng khó nhất là điểm nào?
VÀI ĐIỀU CĂN BẢN :  Có những điều căn bản sau đây mà ta cần nắm vững trước khi giải quyết vấn đề. Trong thể loại thơ thất ngôn bát cú Đường luật có thể nói là một sự kết tinh thống nhất kỳ diệu giữa ngôn  ngữ và âm nhạc, giữa tình và lý giữa nghệ thuật và khoa học thể hiện đồng thời trong năm yệú tố sau đây:niêm, luật, vần, đối và kết cấu. Trong 5 yếu tố đó thì "đối" là quan trọng nhất. Mỗi âm tiết đều mang dấu giọng cao thấp nên người ta chia ra hai loại là thanh trắc và thanh bằng. Thanh trắc là những tiếng có dấu sắc ( hỏi, ngã, nặng ). Thanh bằng là những tiếng có dấu dấu huyền ( gọi là trầm bình thanh) hoặc không dấu (gọi là phù bình thanh). Vần là những chữ có cách phát âm gần giống nhau ( gọi là vần thông  ) hoặc giống nhau ( gọi là vần chính). Vần thông , thí dụ: nga ,moa, sà,...Vần chính, thí dụ: lính, tính, dính.. hoặc: la, ba, nga... Một cách tổng quát, vần có thể gieo ở cuối câu hoặc giữa câu. Trong bài thơ thất ngôn bát cú , vần được gieo ở cuối câu. Khi chữ gieo vần mà mang dấu sắc (hoặc hỏi , ngã , nặng) thì ta gọi nó là vần trắc , còn nếu nó mang dấu huyền (hoặc không dấu) thì  gọi là vần bằng.
    Niêm , luật , vần là ba yếu tố căn bản quy định phép tắc làm thơ ta chỉ cần nắm vững là được . Còn "đối" và "kết cấu" mới là quan trọng, nó đòi hỏi khả nămg trí tuệ , kiến thức cao để làm cho nghệ thuật thăng hoa, giàu tính biểu cảm.
KHẢO SÁT VỀ PHÉP ĐỐIBây giờ xin đi vào vấn đề chính là phép đối  ngẫu trong bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, Vậy định nghĩa đối là gì? Đối là những câu văn đi sóng đôi với nhau từng cặp. Xét 3 phép đối căn bản được áp dụng hiện hành, những cách  phân loại khác khá phức tạp như: liên châu đối,song nghĩ đối,sự đối v.v. ta không bàn ở đây, các bạn có thể tham khảo ở sách báo hay trên internet. Ba phép đối căn bản là đối thanh , đối ý và đối từ. Cái khó khi làm bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật là bạn phải đạt 3 yếu tố cơ bản trên đồng thời phải giữ đúng luật bằng trắc theo quy định của thơ Đường trong mỗi câu mỗi chữ của bàì thơ. Mà việc chọn ý lựa vần đã là khó huống chi phải sắp xếp như thế nào để có đối nữa. Nhưng một khi bạn quen tay rồi thì nó trở nên dễ dàng, đó là điều chắc chắn!
  Trong bài thơ thất ngôn bát  cú Đường luật thì 2 câu thực (3&4) và 2 câu luận(5&6) bắt buộc phải đối, còn cặp đề (1&2) và kết (7&8) không bắt buộc. Quy định như vậy ta phải theo để có một bài thơ Đường đúng luật, còn hay hay dở là vấn đề khác. Một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật mà không có đối thì kể như hỏng, dù bài thơ đó ý có hay cở nào cũng bị loại chẳng khác nào ăn phở mà thiếu ngò gai!
Tóm lại đối là đặc điểm để nhân biết một bài thơ Đường luật, cũng là  tinh hoa của thơ Đường và sau cũng là tiêu chuẩn để đo trình độ làm thơ Đường của tác giả.
Xin lưu ý trong hai câu đối thì  câu trên câu dưới phải có số chữ  bằng nhau, nghĩa là câu trên có 7 chữ thì câu dưới cũng phải 7 chữ, chứ không thể câu nầy 7  chữ câu kia 6 chữ được.
Đối thanh: tức đối về luật bằng trắc , thì mỗi chữ tương ứng với vị trí câu trước và câu sau, nếu chữ của câu trên mà bằng thì chữ của câu dưới phải trắc, và ngược lại.Ví dụ:     
       Có phải thuyền em e bến lạ
       Hay là trần thế vắng người quen.
*"phải" ( trắc) câu trên, đối với" là"(bằng) câu dưới.
*"em" (bằng) câu trên, đối với "thế" (trắc) câu dưới
*"bến lạ" (trắc) câu trên, đối với "người quen" (bằng) câu dưới...
v.v...
Trong câu đối 7 chữ, chữ cuối vế trên là thanh trắc thì chữ cuối vế dưới phải là thanh bằng. Như vậy câu đối 7 chữ cũng có 2 bảng luật trắc và bằng như sau:
           * Bảng luật trắc:      
           T-T-B-B-B-T-T
           B-B-T-T-T-B-B
Thí dụ:
          Ngũ phụng thư danh lưu sử sách
         Thập cơ bát thạch giúp giang sơn
           *Bảng luật bằng:
          B-B-T-T-B-B-T
          T-T-B-B-T-T-B
Thí dụ:
          Sau nhà chậu cúc vừa đơm nụ
          Trước ngõ cành mai mới trổ hoa.
Chú thích :+ Các chữ 2,4,6,7 phải theo đúng luật bằng trắc. Nếu tiếng thứ 2,4,6 câu trên mà bố trí B-T-B thì chữ thứ 2,4,6 tương ứng câu dưới phải làT-B-T và ngược lại, nếu chữ 2,4,6 câu trên được bố trí T-B-T thì chữ tương ứng của câu dưới phải là B-T-B. Còn chữ thứ 1,3,5 thì sao? Chữ thứ 1,3 nói bất luận thì được chứ chữ thứ 5 mà nói bất luận thì dễ rơi vào khổ độc  (khó đọc).Do đó nếu tiếng thứ 7 thuộc nhóm trắc thì tiếng thứ 5 phải thuộc nhóm bằng và ngược lại để cho lúc nào tiếng thứ 5 và 7 cũng phải đối nhau qua tiếng thứ 6, Chỉ khi nào đối mà làm hại cả câu thơ thì lúc đó ta mới sử dụng luật "bất luận" chữ thứ 5 nầy, nghĩa là bằng trắc gì cũng được, nhưng  những  tiếng đáng trắc (chữ thứ 5  của  những câu có vần)   mà đổi ra bằng thì được , còn những tiếng đáng bằng (chữ thứ  5 của  những câu 3,5,7) mà đổi ra trắc thì không nên vì dễ bị rơi vào khổ độc như đã nói ở trên. Thí dụ cho trường hợp thứ nhứt nói trên: "Giữa núi non nầy ai cố tri?"
    [(chữ "ai"( bằng) đối với "tri" (bằng) qua chữ thứ 6 là "cố". Chữ "ai" là chữ thứ 5  (câu có vần) theo lẽ thanh trắc mới đúng, nhưng ở đây áp dụng luật "bất luận", biến trắc thành bằng].
      [Tới đây tôi xin mở dấu ngoặc để giải thích thêm về trường hợp thứ hai nói trên. Chữ thứ 5  (câu khôngcó vần) là thanh bằng thì không nên ( chớ không phạm luật vì chữ  1, 3,5 cho phép tùy chọn) đổi sang thanh trắc. Tại sao luật "bất luận" cho phép mà bảo là không nên? Vì đổi như thế sẽ dễ  rơi vào khổ độc ( khó đọc).Vài bạn làm thơ Đường lâu năm mà vẫn lấn cấn chỗ nầy. Bạn cho rằng thanh bằng nầy không thể chuyển sang trắc vì chuyển như vậy là phạm luật! Phạm sao được khi luật "bất luận" cho phép thì tự nó hóa giải được rồi.Khi rơi vào khổ khổ độc thì khó đọc nhưng vẫn chấp nhận được. Trường hợp nào cho phép ta làm như vậy? Đó là khi gặp tên riêng, hoặc địa  danh v.v.Xin đưa ra một ví dụ để minh hoạ cho trường hợp nầy.
                         Mùa xuân mới
                 1, Mậu Thân đón Tết chốn quê nhà             (v)
                2.  Đất nước Thanh bình ước hiện ra            (v)
                 3. Cửa cửa chưa mời Hạnh phúc đến
                 4.  Đường đường đã thấy chiến chinh qua   (v)
                 5.  Pháo xuân thưa tiếng đì đùng nổ
                  6. "Pháo chuột" mở mùa tành tạch ca            (v)
                  7. Xuân mới cái chi? Xuân mới lạ
                  8. Bao giờ xuân mới thật đơm hoa                   (v)
                                                      ( HD)
   Trên đây là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, luật bằng vần bằng.
     Xét chữ thứ 5 câu 3 (câu không có vần): "Cửa cửa chưa mời Hạnh phúc đến", chữ "Hạnh" theo lẽ phải thanh bằng nhưng ở đây tác giả đổi thành trắc ( xử dụng luật "bất luận") vì muốn nhấn mạnh Hạnh phúc thì không thể nói "Hành" phúc được.
      Xét chữ thứ 5 câu 5 (câu không có vần): "Pháo xuân thưa tiếng đì đùng nổ",chữ "đì" thanh bằng tác giả giữ nguyên.
      Xét chữ thứ 5 câu 6 (câu có vần): "Pháo chuột mở mùa tành tạch ca", chữ "tành" theo lẽ thanh trắc nhưng đổi thành bằng ( áp dụng luật "bất luận") , vì tác giả không muốn dùng điệp từ "tạch tạch", mà dùng từ láy "tành tạch", đọc lên, âm điệu nghe hay hơn.
  Kết luận bài thơ nầy không sai luật.]
  Đối ý : nghĩa là ý câu trên và ý câu dưới hoặc là chống đối nhau hoặc bổ sung ý nghĩa cho nhau, hoặc  khác nhau . Ví dụ:
     *Ý chống nhau:
                Đi đầu năm chốt bò từng bước
                Cản hậu hai xe tiến tới sang
       *Ý bổ sung nhau:
                Tường rào nghiêm gác chòi dăm trạm
                 Bờ lũy giăng gai thép mấy vòng 
          *Ý khác nhau:
              Lìa Ngô bịn rịn còm mây bạc
              Về Hán trau tria mảnh má hồng
                (Trích bài xướng của Tôn Thọ Tường)
Đối từ loại:
 Danh từ đối  với danh từ: danh từ riêng-----danh từ riêng, danh từ chung-----danh từ chung; tính từ đối với tinh từ; động từ ----động từ; trạng từ----trạng từ; số lượng -----số lượng; tên người -----tên người; tên nước ----tên nước; từ Hán Việt -----từ Hán Việt; từ nôm ----từ nôm v.v...
           Ví dụ danh từ riêng đối với danh từ riêng:
                  Liễu Thăng tặc tướng, đầu sa ngựa
                  Phương Chính hàng quân, lũ mất hồn
    Đối từ loại, thoạt trông có vẻ đơn giản nhưng thực tế nó rất phức tạp và khó làm . Cần nhớ nếu mỗi chữ câu trên  là  danh từ thì câu dưới, tương ứng với vị trí, cũng phải danh từ ( không thể tỉnh từ hay động từ), thông thường là chiếu thẳng từng  từ, từ ngữ, trên xuống dưới. Một vài trường hợp đặc biệt ta sẽ nói sau.
    Lấy ví dụ 2 câu đối của Bà Huyện Thanh Quan:
        Lom khom dưới núi tiều vài chú
        Lác đác bên sông rợ mấy nhà
"Lom khom" đối với "Lác đác" ; "dưới"----"trên" ; "núi"------"sông" ; "tiều"-----     "rợ" ; " vài"------"mấy" ; "chú" -----"nhà".
Đối như vầy thật chỉnh và điêu luyện.
**Vài trường hợp đặc biệt:
    *Chữ đồng âm dị nghĩa:
 Ví dụ:
                Hai mái trống tung đành chịu dột
                Tám giờ chuông đánh phải nằm co
                          (Tú Xương/ Hà nam tức sự)
Câu trên chữ "trống"nghĩa là trống trải, đồng âm với "trống" là cái trống để đối với chữ "chuông" ở câu dưới.
      *Phép đối lưu thủy:
 Ví dụ:
                Còn chăng lời hẹn bên trang sách
                Hay đã tàn theo ánh lữa đèn
Nếu theo cách chiếu chữ thì hai câu nầy bất đối, nhưng xét về cấu trúc ngữ pháp thì 2 câu trên đều có cấu trúc giống nhau, và nghĩa câu trên chảy một mạch tràn xuống câu dưới làm trọn nghĩa ý câu trên nên đối được.
    Vậy nếu câu trên là : còn chăng, nếu biết,..và câu dưới tương ứng là: hay đã, trời ơi....thì liên thơ đó đã theo phép đối trên .
*Phép "cú trung đối":
      Ví dụ:
          Màn trời chiếu đất con người khổ
          Nước vật thuyền xơ cá biển nghèo 
Nếu lấy câu trên câu dưới chiếu từng chữ lên nhau thì hai câu nầy không có đối. Nhưng xét nội bộ từng câu thì ta thấy từ ngữ "màn trời" đối với "chiếu đất", "nước vật" đối với "thuyền xơ", nhóm từ "con người khổ" đối với "cà biển nghèo" Như vậy lấy câu có nội đối để đối nhau thì rất cân bằng. Vậy chấp nhận có đối.
  * Phép đối chéo.
        Ví dụ:
             Chân bước vững, đường chiều khấp khểnh
             Rừng cây rậm rạp, trúc vươn cao
  Nếu lấy câu trên câu dưới chiếu từng chữ lên nhau thì hai câu nầy bất đối, nhưng ta thấy nhóm từ "Chân bước vững" lại đối chéo  với "trúc vươn cao"; và "vườn cây rậm rạp" đối chéo với "đường chiều khấp khểnh". Kết luận cặp nầy đối nhau.
        Cần lưu ý thêm về đối từ loại. Khi nói tới từ loại trong phép đối ta phải hiểu là từ loại mang ý nghĩa về văn phạm vừa mang ngữ nghĩa riêng nữa. Cùng là danh từ ( hoặc tĩnh , hoặc động từ v.v.) nhưng nghĩa phải tương xứng , nghĩa là phải cùng một chng loi, hoc cùng tính cht. Ví dụ:
     Giữ tiết, gìn trinh xinh nét cúc
     Đội trời, đạp đất vững thân tùng.
Chữ "tiết" đối với chữ trời", chũ "trinh" đối vời chữ "đất" là không được mặc dầu chúng cùng là danh từ, nhưng khác nhau về chng loi.
    Cuối cùng xin trích ra hai bài thơ của bạn hữu để so sánh về phép đối từ đó rút kinh nghiệm khi làm bài thơ Đường luật sao cho có được một bài thơ hay.      
                         Hạnh phúc tuổi thọ
               "Nhân sinh thất thập cổ lai hy"
               Thấm thoát nào hay tuổi quá thì*
                Mái tóc chòm xanh chòm trắng bạc
                Hàm răng cái rụng cái  đen x
                Ngày hai buổi hết ăn rồi ngủ
                Đêm chín giờ ôn phú tác thi**
                Ví  phỏng cuộc đời như thế mãi
                 Trăm năm hưởng thọ khó khăn gì!  
                *ghi chú: *thì: thời, ** tác thi: làm thơ 
                               ( Khánh Trần)
                          Nam giớí thì thầm
                  Con cà chưa hết, tới con kê,
                  Lớn tuổi, lắm lời sợ bị chê.
                  Chức Nữ đòi chồng, xin xuất giá,
                  Ngưu Lang muốn vợ, cưới đem về.
                  Thấy bông không hái, người cho dốt,
                  Gặp gáí làm ngơ, họ bảo quê.
                   Bảy bó xuân tình đâu đã hết,
                   Làm sao tránh khỏi thú đam mê.
                                ( Nguyên Khôi)
**Nhận xét phép đối trong bài thơ của Khánh Trần:
          *xét 2 câu thực :              
                Mái tóc chòm xanh chòm trắng bạc
                Hàm răng cái rụng cái đen x
 "Mái tóc" đối với "hàm răng"( rất chỉnh : danh từ đối với danh từ); "chòm" đối với "cái" ( danh từ đối với danh từ, chú ý "cái" là đại danh từ thay thế  "răng"); "xanh" đối với " rụng "( xanh: tĩnh từ ,rụng: động từ nên hai tứ nầy không đối với nhau được ); từ ngữ " trắng bạc" đối với  "đen xì" (có đối nhưng không chỉnh vì "trắng bạc" là từ ghép đẳng lập còn "đen xì" là từ ghép chính phụ).
   Hai câu trên chỉ đạt một phần tiêu chuẩn đối.
         *Xét hai câu luận:
                Ngày hai buổi hết ăn rồi ngủ
                Đêm chín giờ ôn phú tác thi
"Ngày" đối với "Đêm " ( danh từ đối với danh từ); "hai"....."chín"( số từ đối với số từ); " buổi" ...."giờ" ( danh từ đối với danh từ); từ "hết"/"ôn" ( không đối về từ loại, "hết" là trợ từ, "ôn" là động từ); "ăn"/ "phú"( không đối về từ loại, vì "ăn" là động từ, còn "phú" là danh từ);  "rồi"/ "tác"( không đối được về từ loại vì "rồi" là liên từ, từ tiếng Việt; còn "tác" là động từ Hán Việt); " ngủ "/ "thi" ( không đối được về từ loại vì "ngủ" là động từ còn "thi" là danh từ). Kết luận cặp nầy không đối.
    Tóm lại dựa vào tiêu chuẩn đối thì bài thơ nầy không đạt tức nó không được gọi là bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú, ta xếp nó vào loại thơ cổ phong, điều nầy đưa đến sự suy ỵếu cả bài thơ, khác với ý định ban đầu của tác giả là muốn phác họa ra một khoảnh khắc nhàn nhã hạnh phúc của một người cao tuổi, nay chính vì "bất đối" và sự dùng từ ngữ không khéo  đã làm bài thơ trở nên nhợt nhạt, bịnh hoạn, thiếu sinh khí, thật đáng tiếc.
**Nhận xét về phép đối trong bài thơ của Nguyên Khôi:
         * Xét 2 câu thực:
             Chức Nữ đòi chồng, xin xuất giá,
             Ngưu Lang muốn vợ, cưới đem về.
"Chức Nữ" đốí với "Ngưu Lang" rất chỉnh ( danh từ riêng đối với danh từ riêng); "đòi" ( động từ) đối với "muốn"( động từ); "chồng" đối với "vợ"( danh từ);"xin xuất giá" đối với "cưới đem về" ( rất chỉnh).
 Tóm lại 2 câu nầy đối rất chỉnh về thanh , ý, từ . Hai câu thơ tình gợi tả nhưng lại đằm thắm mà không sỗ sàng. KN xử dụng phép đối rất nghiêm để được hiệu quả.
        *Xét 2 câu luận:
              Thấy bông không hái, người cho dốt,
              Gặp gáí làm ngơ, họ bảo quê.
"Thấy"( động từ) đối   với "gặp"( động từ); "bông" ( danh từ, chỉ người con gái đẹp)-  ----"gái" ( danh từ); " không hái"-----"làm ngơ" (từ ngữ ) rất chỉnh;  "họ bảo quê"----"người cho dốt" ( nhóm từ) rất chỉnh.
  Hai câu nầy đối nhau  rất chỉnh về thanh , ý . từ. Cặp đối chính danh nầy rất chặt chẽ như thấy bóng dáng chàng trai đang chinh phục cảm tình cô gái vậy.
    Tóm lại NK sử dụng phép đối khá điêu luyện: đối chan chát , đứt khoát , tự tin .
    Một chút thô thiển bài viết, hy vọng sẽ đóng góp vào tài liệu tham khảo để các bạn nghiên cứu thêm hầu sáng tác được nhiều bài thơ hay, thất ngôn bát cú Đường luật. Mong thay!!!
                        Nguyễn Cang


                  .




.