Chữ nghĩa làng văn
***
Chữ và nghĩa
Ðèo ở phía bắc Nha Trang do kỹ sư người Pháp tên Rury điều khiển sửa sang nên Pháp dùng tên người này đặt cho đèo.
Người Việt đã gọi là đèo Rù Rì.
(Vài hiện tượng thú vị trong tiếng Việt – Lê Trung Hà)
Khóc vợ
Đất chẳng phải trồng, đem gửI thịt xương sao lợi
Trời mà chết vợ, thử xem gan ruột mần răng
(Thầy đồ xứ Nghệ)
Bùi Xuân Phái vẽ tranh
theo thơ Hồ Xuân Hương
Đánh đu
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông,
Trai đu gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân có biết xuân chăng tá.
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Muốn sang phải cưỡi a còng
Cái hay cái dở ở thơ Bùi Giáng
Đọc Bùi Giáng ta gặp Nguyễn Du đều đều, ở những câu trang trọng, phức tạp:
Biển dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh
(Áo Xanh)
Và cũng gặp Nguyễn Bính thường xuyên, ở những câu chân chất như lời lách lẹ ra từ tim; như thế này:
Hôm nay mưa gió đầy trời
Về sau sẽ có vài người quên nhau"
(Mê Cung)
Hay khi nhà thơ tự tả mình trong cái nhìn của cô hàng xóm:
Vừa điên dại vừa thê lương
Vừa vui trời đất vừa buồn nắng mưa
(Lẩm Cẩm)
Lục bát Bùi Giáng là thơ của trời, lục bát Nguyễn Bính từ đất. Tư tưởng là nền cho thơ Bùi Giáng. Ở Nguyễn Bình là tình cảm. Có thể vì học vấn của họ Bùi thâm hậu, còn họ Nguyễn thì chân quê!
Trong tập Đi Vào Cõi Thơ, khi tự bình thơ mình, ông chọn ra hai bài đượm chất Bùi Giáng nhất – đó là Giữa Phố và Bóng Dương Buồn Ngủ. Đã nhâm nhi đến cả tá lần hai bài này, tôi khó mà có ý gì khác với tác giả. Với những độc giả đã chịu rồi, thơ Bùi Giáng tỏ ra rất hào phóng. Không như với đại đa số nhà thơ tên tuổi khác, các bài hay của họ dễ thành của chung trong lòng người yêu thơ. Ai cũng có thể có một Bùi Giáng, một thơ Bùi Giáng của riêng mình. Trong khi chúng ta thường có chung một Nguyễn Du, một Nguyễn Bính, một Thanh Tâm Tuyền, một Hoàng Cầm, một Tô Thùy Yên... Và ngay cả một Đinh Hùng, một Trần Dần...
(Đỗ Quyên)
Đừng tưởng
Đừng tưởng cứ dưới là ngu
Cứ cao là sáng cứ tu là hiền
(Bùi Giáng)
Mộng
Đường về khép bóng trần gian
Lợi danh gói một hành trang vô thường.
Lều chõng của sĩ tử Việt hàng trăm năm trước
Chõng là vật dụng giống cái bàn đóng bằng tre, dùng để ngồi làm bài, cũng là nơi để nghỉ ngơi. Chõng tre ngày nay vẫn là một dụng được sử dụng phổ biến ở vùng nông thôn Việt Nam.
Ngoài lều chõng, các thì sinh còn mang theo một chiếc hòm gỗ to, dùng để đựng quần áo, giấy bút, nghiên mực, thức ăn và các đồ dùng thiết yếu khác trong kỳ thi. Khi làm bài thi, chiếc hòm cũng trở thành bàn viết.
Một chiếc nghiên mực bằng gỗ đặt trên rương. Thời xưa sĩ tử viết bài bằng bút lông và mực tàu. Nghiên mực dùng để mài các thỏi mực với nước thành mực viết.
(Quốc Lê)
Nguyễn Xuân Hoàng

Quả là chưa bao giờ đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại lại quạnh quẽ như ba năm trở lại đây, sau khi chúng ta vắng bóng lần lượt những Nguyễn Xuân Hoàng 2014, rồi Mặc Ðỗ và Võ Phiến, 2015. Những nhà văn nhà báo đã hiện diện cả chục năm trên văn đàn. Ðành rằng phần lớn đã ngưng viết, song sự khuất bóng của họ nay hoàn toàn như một tấm màn đã kéo xuống, một sân khấu đã tắt đèn, vĩnh viễn. Nguyễn Xuân Hoàng, ra đi ngày 13 tháng chín 2014.
Người viết bài này có nhiều kỷ niệm với “người đi trên mây:” lúc làm bài thơ năm 20 tuổi, năm 1960, ký tên Hoang Vu.
Mang mang
từ xa phố chợ đến giờ
chân quen bỏ lệ gõ bờ lộ quen
hoang vu chín đến độ thèm
lạnh tàn nhẫn rót vào đêm lê đường
(…)
còn tôi, còn chỉ mình tôi
mây bay đầu núi kéo trời lên xa
bàn tay thoáng nổi da gà
thẳm sâu lòng đất nhà ga luân hồi
Hoang Vu (Nguyễn Xuân Hoàng) (1)
(1) Hoang Vu là một bút hiệu của Nguyễn Xuân Hoàng (7.7.1940-3.9.2014). Sinh tại Nha Trang nhưng gốc Xuân Trường, Nam Ðịnh. Trung học tại Võ Tánh rồi Petrus Ký Sài Gòn, tốt nghiệp Ðại học Sư phạm và Văn khoa. Dạy triết tại Petrus Ký từ 1962 tới 1975. Từ 1972-74 thư ký tòa soạn tạp chí Văn. 1986-1997: Tổng thư ký tòa soạn nhật báo Người Việt tại California. 1998-2005: làm báo Việt Mercury. Tác phẩm để lại: Mù Sương 1966, Sinh Nhật 1968. Khu Rừng Hực Lửa 1972. Kẻ Tà Ðạo 1973. Người Ði Trên Mây 1987. Sa Mạc 1989. Bụi và Rác 1996.
(Tháng chín nhớ Nguyễn Xuân Hoàng – Viên Linh)
Thiền
Bóng vờn lên ngọn tử sinh
Gậy khua đầu gậy giật mình thiên thu
Gặp nhà văn Nguyễn thị Thụy Vũ
Lần thứ hai tôi đến thăm nhà văn Thụy Vũ để tìm câu trả lời cho những ý nghĩ đó. Từ vài hôm trước Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn thông báo cơn bão số chín Usagi sẽ đổ bộ thẳng vào Sài Gòn và các tỉnh miền Tây; sức gió vùng gần tâm bão dự kiến sẽ từ 75km lên đến 100km/giờ, mưa rất to và có cả lốc xoáy. Chưa khi nào Sài Gòn biết đến một cơn bão dữ như thế. Mưa đã rơi từ đêm trước và tiếp tục rơi vào sáng sớm hôm sau. Nhưng khi xe lăn bánh ra khỏi thành phố và càng đi xa về hướng miền Đông, trời càng sáng đẹp. Chúng tôi đã bỏ lại cơn bão sau lưng mình.
Sau những lạc đường, dò dẫm, cuối cùng chúng tôi cũng tìm đến được nhà. Một cửa hàng ở mặt tiền đường bán đồ sành sứ, hoa lan, nằm trên một cái dốc nhộn nhịp xe khách liên tỉnh qua lại, nhìn sang một cơ quan kiểm lâm. Cửa hàng là của các con bà, còn thế giới của bà ở phía sau, tận trong cùng. Trời đẹp và Usagi vẫn còn rất xa. Nhà văn Thụy Vũ tiếp chúng tôi trong phòng khách; giữa những đồ trần thiết bằng gỗ mun khảm xà cừ lấp lánh từ một thời quá vãng nào đó, hoành phi, câu đối, tủ thờ và dưới bóng những bức ảnh Phật từ bi. Ngồi ở đây, trong vùng tranh tối tranh sáng, chúng tôi không nghe thấy một tiếng động nào từ bên ngoài vọng vào. Cuộc đời trần trụi, khốc liệt thuộc về ngoài kia; ở đây là hồi ức, bóng tối và cầu nguyện.
Sau cơn bạo bệnh, nhà văn Thụy Vũ so với lần đầu tôi gặp đã gầy đi rất nhiều. Nhưng ánh mắt bà vẫn còn tinh anh lắm, giọng nói bà vẫn khoẻ khoắn và sự hài hước dường như không hề mất đi trong nụ cười của bà. Bà tiếp tục kể cho chúng tôi nghe những giông tố một thời của đời bà cũng vẫn với một thứ tự trào duyên dáng, từ chuyện dạy tiếng Anh cho những cô gái điếm để kiếm thêm tiền và để có tư liệu cho công việc sáng tác của một nhà văn đến chuyện bà phải hành nghề bói toán, bán bánh cuốn…Đó cũng chính là thế giới nhân vật trong những tiểu thuyết của bà, của một thời tao loạn, phân ly, chưa sống trọn cuộc đời bi kịch của mình nhưng đã buộc phải kết thúc trên những giá sách phủ đầy bụi bặm lãng quên của lịch sử. Tôi đọc Khung Rêu, chợt nghĩ bên cạnh những nhà văn của mọi thời, còn có những nhà văn của chỉ một thời; họ như ngọn lửa cần được khai quật và thắp sáng lại.
(Vũ Thành Sơn)
Thiền
Trần gian mỏng mộng vô thường
Đường xa mời mệt tôi nhường nhịn tôi
Thương nhớ thầy Nguyễn Đăng Mạnh
Khoảng đầu tháng 11 năm vừa rồi, anh Văn Giá mời tôi cơm trưa ở một nhà hàng đường Hoàng Cầu, có cả thầy Mạnh và các anh Phạm Xuân Nguyên, Đỗ Ngọc Thống… tôi bàng hoàng vì thầy xuống sức nhanh quá. Người thầy nhỏ thó, gầy guộc, hai má tóp lại, miệng móm mém, da tái đi. Tôi định bụng dịp 20-11 sẽ viết một bài về thầy, để thầy đọc trước khi đi xa… Ấy thế nhưng rồi không làm được. Vì bao nhiêu việc của đời cứ cuốn đi…
Sau hôm thăm thầy tháng 12-2017 về cũng muốn viết ngay, nhưng rồi việc đời cứ lôi tuột đi… Và cũng hy vọng thầy hãy còn cầm cự được. Rồi tin thầy ốm nặng. Việc đầu tiên là tính vào thăm thầy. Ấy thế mà đâu có đi ngay được. Công việc. Ốm đau. Trời rét đậm… Cái gì cũng khiến cho mình có lý do “để mai”. Tối thứ sáu (9.2) tuần trước, trong bữa cơm tối, tôi bảo vợ con: “Mai sáng bố vào thăm ông Mạnh, không thể để chậm hơn nữa”. Nhưng ít phút sau, vợ tôi vào mạng, kêu lên: “Ôi, thầy Mạnh mất rồi…”.
Tôi lặng người đi. Vợ tôi vốn không học thầy Mạnh, không gặp thầy Mạnh bao giờ, chỉ biết về thầy qua những trang sách và qua những lời kể của tôi, cũng lặng người đi…
Ngày tiễn đưa thầy Mạnh về nơi an nghỉ cuối cùng, tôi ghi vào sổ tang: “Ở thầy còn phảng phất một chút Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, một chút Tản Đà, một chút Nguyễn Tuân,… những giá trị mà ngày nay người ta vẫn nhắc đến nhưng thực sự đã đánh mất”. Cái đánh mất ấy là dám sống thật, sống như mình nghĩ, mình thích.
Vì sinh thời, nhiều lần tôi nghe thầy Mạnh nói: “Nhà văn có cái hạnh phúc là được sống với chính mình”. Sống với chính mình, trước hết phải sống thật với chính mình. Khó lắm. Nhưng thầy Mạnh cho tôi có thêm can đảm để sống thật với chính mình. Và cảm giác “được sống” cho tôi cái hạnh phúc làm người, dù là hạnh phúc trong khổ đau. Mấy trang này nhân ngày vĩnh biệt thầy, như một sự tri ân thầy, chỉ tiếc thầy không được đọc. Thương nhớ mãi thầy!
(Đào Tiến Thi)
Thiền
Ta về ngồi lại tình hư ảo
Hư ảo không còn chỉ có ta
Nguyễn Tất Nhiên, và bữa thịt chó cuối năm cũ
Sài Gòn năm 1976, khu vực chung quanh bùng binh chợ Bến Thành là một trong những nơi tập trung đông đảo dân buôn bán chợ trời. Người ta bán không thiếu thứ gì: thức ăn, thuốc Tây, quần áo cũ, cá thịt ướp sẵn từng nồi, sách báo “đồi trụy”, “nhạc vàng”… và cả súng. Nguyễn Tất Nhiên thường leo xe lửa từ Biên Hòa và xuống ga Sài Gòn vào giờ trưa. Chúng tôi gặp nhau ở đó, bữa đói bữa no ở đó và nhận ra nhau rõ hơn cũng ở đó.
Chúng tôi quen nhau năm 1973, trong đêm sinh hoạt do Phong Trào Du Ca tổ chức tại hội trường quân đội trên đường Trần Quốc Toản. Buổi sinh hoạt sắp bắt đầu, tôi đang đứng xớ rớ thì nhà báo Đỗ Ngọc Yến, giới thiệu tôi với một chàng cao lêu nghêu, “mặt vác lên trời”: Nguyễn Tất Nhiên. “Nghe đại danh, hôm nay mới hân hạnh gặp mặt”, tôi nói thế. Nhiên nhếch mép, nụ cười “kẻ cả” lắm. Thấy cử chỉ đó của Nhiên, anh Yến chỉ nhỏ nhẹ, đêm nay Thái sẽ giới thiệu Nhiên lên đọc thơ nhé.
Hai đứa tôi quen nhau như thế đó.
(Đinh Quang Anh Thái)
Tiểu sử : Nguyễn Tất Nhiên tên thật: Nguyễn Hoàng Hải. Sinh năm 30.5.1952 tại Đức Tu, Biên Hòa. Mất ngày 3.8.1992 tại California
Tác phẩm : Thơ Nguyễn Tất Nhiên (Tuyển thơ 1980); Những năm tình lận đận (Tập nhạc 1977-1984), Minh Khúc, Thiên tai (Thơ, 1970)
Thiền
Ý như thiên thủ thiền thiên cổ
Mà vẫn long lanh cái chính mình
Hồi ức về thi sĩ Hồ Dzếnh kỷ niệm còn tươi
Hình ảnh sâu đậm nhất để trong tôi không phải là những cái quán bình dân mọc rải rác trên khắp đường phố Sài Gòn. Tôi cũng không hiểu tại sao người ta lại gọi đó là quán cóc. Bởi đa số những quán cóc lề đường đều là những chiếc xe bán nước giải khát và bia phía trên che tạm một miếng tôn, một mảnh gỗ, hoặc khá hơn là một miếng vải bố. Người dẫn tôi đến làm quen với quán cóc đầu tiên là anh Hồ Dzếnh, nhà thơ nổi tiếng tiền chiến với hai tác phẩm Chân trời cũ và Quê ngoại. Đó là vào đầu năm 1953, tôi mới từ Hà Nội vào Sài Gòn.
Anh Hồ Dzếnh lúc đó đang viết cho báo Thần Chung của ông Nam Đình, vừa dịch tin vừa viết feuilleton cho báo đó. Chân ướt chân ráo tới Sài Gòn, tôi tìm đến Hồ Dzếnh ngay, bởi tất cả nhà văn sống ở Sài Gòn hồi đó, tôi chỉ quen có mỗi mình Hồ Dzếnh, tôi đến tìm Hồ Dzếnh vào lúc trưa. Anh Dzếnh giới thiệu tôi với ông Nam Đình lúc đó đang bận rộn với mấy hàng tít lớn trên báo chí khẽ gật cái đầu chào lại tôi rồi lại cắm cúi xuống trang bài vở còn ướt mực trên bàn.
Hồ Dzếnh kéo tôi ra khỏi tòa soạn:
- Cậu đã ăn gì chưa?
Tôi cười, thú thật là từ sáng đi lạc đường nên chưa có gì vào bụng hết.
Tác giả Chân trời cũ gật đầu:
- Nếu vậy mình đi ăn luôn.
Và anh dẫn tôi vào một quán cóc bên lề đường lúc đó còn ở đường Nguyễn Văn Thịnh, góc đường nhỏ ăn thông sang đường Tự Do rồi về đường Nguyễn Huệ. Con đường Nguyễn Văn Thịnh này hồi đó đầy những quán cóc và tiệm cơm bình dân trên hè.
Chai bia đầu tiên tôi uống ở Sài Gòn do Hồ Dzếnh mời ở trong một quán cóc vô danh nơi đó.
(Thanh Nam)
Thiền
Mênh mông quá biển trời lồng lộng gió
Một mình tôi ngày hai buổi đi về
Chế Lan Viên
Năm 1987 Hội Văn nghệ Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo của chúng tôi mở trại sáng tác, tôi mời hai thầy về giảng bài là nhà văn Nguyễn Khải và nhà thơ Chế lan Viên.
Nhà thơ đưa theo cô con gái Vàng Anh, tôi cử một cậu nhân viên của Hội đưa Vàng Anh đi chơi và tắm biển.
Anh em văn nghệ rất vui và hai thầy cũng cũng tận tâm giúp đỡ. Buổi chiều tôi thường đi dạo cùng với thầy Chế dọc bờ biển. Một lần chúng tôi gặp một xác người vượt biên bị sóng biển đánh giạt vào bờ, một ông già. Thi hài được đắp chiếu và một bát hương bên cạnh chờ làm thủ tục chôn cất.
Buổi hoàng hôn trước trời biển mênh mông, tôi đột ngột đọc to câu thơ :
“Đất nước đẹp vô cùng mà bác phải ra đi”
Nhà thơ nắm nhẹ tay tôi :
-Văn chương nhiều khi thật đáng sợ.
Tôi thẳng thắn tâm sự với ông nhiều chuyện. Thấy ông trầm tư nhiều hơn. Hết trại ông hẹn tôi :
- Khi nào lên Sài Gòn ghé nhà mình, mình ở tận Bà Quẹo,đường ngoắt ngéo lắm, mình đã vẽ sơ đồ đây để Sách dễ tìm.
Tôi đến nhà ông một căn nhà có thể gọi là tồi tàn so với ông,tôi nghĩ Sài Gòn còn nhiều ngôi nhà tốt hơn dành cho ông.Tôi không hỏi nhưng ông nói :
- Mình không biết làm phiền người khác,được sao ở vậy, cũng giống Sách ở ngôi nhà chiến khu Đ giữa thành phố du lịch Vũng Tàu đất rộng người thưa.
Hồi đó tôi cũng chưa có nhà, ở một căn gia binh trong khu đất đầy cây cỏ hoang dại nên anh em gọi đùa là chiến khu Đ.
(Xuân Sách)
Vòng tử sinh trong văn học
Thiều Chửu
Thiều Chửu tên thật là Nguyễn Hữu Kha, tự Lạc Khổ, sinh năm 1902, xuất thân trong gia đình nhà nho nghèo ở làng Trung Tự, phường Đông Tác, nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Thân phụ là Nguyễn Hữu Cầu, quen gọi là cụ cử Đông Tác, một trong những người sáng lập phong trào Đông Kinh nghĩa thục, nên bị đày đi Côn Đảo.
Tử thuở nhỏ, ông bẩm sinh là người đa sầu đa cảm, chính ông từng kể về tuổi thơ của mình: “Nhà nghèo quá, lúc đó mẹ tôi đã sinh đến 6 con. Nhiều con càng túng thiếu nhiều. Chị em tôi 7, 8 tuổi đã phải tập làm rồi: chăn bò, cắt cỏ, gánh nước, thổi cơm, nấu cám lợn, chả làm được cũng phải làm, con đàn ai chiều? 10 đã phải tát nước, 12 tuổi đã tập cày bừa… Năm tôi 14 tuổi, bố bị giặc Pháp bắt, khép án 10 năm, bị đày ra Côn Lôn… Mẹ tôi lúc này khổ quá, đẻ được 3 ngày đã phải đi làm, đi thăm bố tôi…
Năm 16 tuổi, ông một mình xuống Đồ Sơn bán thuốc Nam và bánh kẹo kiếm sống, nhưng vì tin người nên mất hết vốn, nên suốt 2 năm trường đành phải làm phu kéo thuyền, đẩy xe, thậm chí có lúc phải đi ăn mày, nhưng cũng nhờ khoảng thời gian ấy mà ông ngày càng tin yêu triết lý cứu khổ cứu người của đạo Phật. Ông bắt đầu dịch kinh Phật, lấy bút hiệu Lạc Khổ (vui trong cảnh khổ), ít năm sau đổi thành Thiều Chửu (cây chổi bông lau quét sạch mọi thứ rác nhơ trong tâm thức).
Ông dịch nhiều kinh Phật căn bản như: Kinh A Di Đà, Kim Cương Bát Nhã,…và Tây du ký (1933-1934). Riêng bộ Hán Việt Từ Điển Thiền sư Lê Mạnh Thát nhận xét về bộ Hán Việt Từ Điển của Thiều Chửu: “Những người Việt học Hán Văn không thể không cúi đầu tri ân công trình văn hóa bất hủ mà Cụ đã để lại cho đời”. Mặc dù từ điển của ông đơn giản hơn cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, nhưng uu điểm từ điển của ông là cách tra chữ được xếp theo Bộ Thủ, đếm chữ theo số nét. Ngoài ra còn có bảng tra các chữ khó đếm nét, cách tra theo mẫu tự A,B,C rất tiện lợi , sau này còn có cách tra theo phiên âm Bắc Kinh.
(Những cái chết tức tưởi của nhà văn, chuyện bây giờ mới kể - Thái Doãn Hiếu)
1 - Nhân một cuộc hội thảo về Văn học miền Nam 1954-75
Một cuộc hội thảo về Văn học miền Nam 1954-75 vừa được tổ chức ở bên Mỹ. Tôi hơi thất vọng vì ba lẽ:
1/ Các đồng nghiệp của tôi ở hải ngoại vẫn bị cảm xúc chi phối quá nặng. Bây giờ mà các anh vẫn nhắc nhở đến những đánh giá bất công của mấy ông X, Y. Z., những ý kiến cực đoan tồn tại từ đã trên dưới ba chục năm trước. Vào thời điểm này trong nước có mấy ai còn nghĩ như thế?
Theo sự nhìn nhận của tôi, thì hiện nay nghiên cứu văn học trong nước đang ở thế bế tắc đến cùng cực. Nhiều việc cần làm mà không ai đủ sức làm. Với cả nền văn học Hà Nội từ sau 1945 cũng không ai có được phát hiện gì mới.
Chính là lúc này, một số bạn trẻ rất có năng lực ở Hà Nội có, ở Sài Gòn Huế có, đang âm thầm hướng tới những Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan… để hy vọng qua kinh nghiệm của các nhà văn bậc thầy ấy, may ra hé lộ con đường đi tới của văn chương nước nhà. Sao các anh không tính chuyện thảo luận cùng họ, cộng tác với họ?
Các anh than thở “Văn học miền Nam (VHMN) từ 54-75 là một trong những nền văn học bất hạnh nhất trong lịch sử văn học Việt Nam” với nghĩa nó bị cấm đoán, nó không được thu thập đầy đủ. Cái đó có, nhưng tình cảnh đâu đến nỗi bi đát lắm, hiện nay nó đang được khôi phục dần dần. Nếu muốn dùng chữ bất hạnh, tôi nghĩ tới cả nền văn học dân tộc nói chung, bao gồm cả văn học miền Bắc. Nhưng hiểu theo nghĩa này, thì cứ gì văn học VN.
Nay là lúc chúng ta cùng nên gạt những cảm xúc bi lụy ấy đi.
May mà những năm ấy, còn có văn học miền Nam.
Nay là lúc chúng ta phải nhìn về nó với niềm tự hào và gắng đi tìm ra những bài học của nó, để tiếp tục làm văn học trong hoàn cảnh mới và giúp cho văn học trong nước cùng phát triển.
(Vương Trí Nhàn)
Thiền
Cỏ hoa nở đóa thiện hiền
Non xanh nước tĩnh an thiền đã lâu
2 - Nhân một cuộc hội thảo về Văn học miền Nam 1954-75
Xin phép nói một cảm tưởng sau khi đọc các bài tham luận. Gạt đi mọi khách sáo, tôi muốn được thẳng thắn mà nói rằng cách tôn vinh Văn học miền Nam của các anh rất nhiệt tình đấy, nhưng còn thiếu sức khai phá gợi mở.
Theo tôi hiểu, các phương pháp tiếp cận văn học trên thế giới hiện nay đủ mạnh để phát huy hiệu quả cả với văn học các nước Đông Nam Á, các nước Ả Rập…(nói chung là những nền văn học bên ngoài văn học phương Tây). Lâu nay đọc các anh viết trên mạng, các cuốn sách các anh mới in, tôi biết rằng trong mấy chục năm qua, ở xứ người, các anh đã học hỏi được rất nhiều.
Thế mà nhìn vào những nhận xét các anh nêu lên trong hội thảo này, tôi chưa thấy được cái mới đó, các anh chưa mở ra được cái phương hướng mới đủ sức giúp bạn đọc hôm nay hiểu thêm về một nền văn học mà mọi người cùng yêu mến. Khi nói về Văn học miền Nam, lẽ tự nhiên người ta phải đả động đến Văn học miền Bắc. Đã có lần, trong một cuộc phỏng vấn của một đồng nghiệp, tôi nói rằng một trăm năm sau, khi nói tới thế kỷ XX, người ta không bỏ được nền Văn học miền Nam, cũng như không thể bỏ được Văn học miền Bắc.
(Vương Trí Nhàn)
Tiểu sử : Vương Tri Nhàn sinh ngày 15-11-1942 tại Hà Nội. Quê quán của ông là xã Đông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm, hệ 3 năm vào năm 1964, sau đó gia nhập quân đội, chính là dạy học và về sau làm báo.
Tác phẩm : Sổ tay truyện ngắn (sưu tầm, biên soạn) - Bước đầu đến với văn học (tiểu luận phê bình) - Một số nhà văn VN hôm nay với Hà Nội (kể chuyện đời sống văn học) - Cánh bướm và đóa hướng dương (tiểu luận phê bình)
Thói hư tật xấu của người Việt
Thế nhưng đi vào con đường này vô cùng khó khăn. Những bậc đàn anh của tôi họ cũng có ý đồ cả đấy chứ, như giáo sư Trần Quốc Vượng, giáo sư Cao Xuân Hạo và bao người khác... Vài năm trước, Tiến sĩ Đức Uy từng ra quyển “Bí ẩn tâm lý người Việt” nhưng sách không đến được với người đọc.
Người đi trước đã vậy, đến tôi phải dùng hình thức khác. Ban đầu tôi mượn người xưa để nói người nay, "mượn mồm" những nhân vật mà không ai “chê” được như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... để nói về thói xấu người Việt.
Có cái này buồn cười: khi nghiên cứu để dạy cho học trò thì chẳng thầy nào dạy cái này. Dạy về Phan Bội Châu cũng chỉ nói Phan Bội Châu yêu nước ra sao, chứ không nói đến chuyện Phan Bội Châu sang Nhật, đối chiếu người Nhật và người Việt mình như thế nào, người Việt không bằng người Nhật điều gì...
(Bùi Dũng - Xuân Anh phỏng vấn Vương Trí Nhàn)
Quán Văn
Nguyên tắc của Quán Văn là tự quản. Anh em luân phiên quản lý, coi sóc hàng quán mỗi tuần một lần. Đặc biệt chương trình văn nghệ chính thức được tổ chức mỗi tối thứ sáu hàng tuần, nhằm giới thiệu một tác giả hoặc một ban, nhóm đã, đang hoặc sẽ có những hoạt động mang tính văn nghệ. Tối thứ bảy, chủ nhật là văn nghệ tự do, bỏ túi, cây nhà lá vườn. Toại và tôi lo trang trí mỹ thuật, kẽ bảng hiệu, sắp xếp, bố trí bàn ghế, hàng họ. Trước mặt quán, hai chiếc dù nhà binh phế thải được căng ra làm nơi che mưa nắng. Dưới mái dù có khoảng mươi bộ bàn ghế chính thấp lè tè. Và phía dưới tam cấp, dốc đồi, trên thảm cỏ … rải rác những ghế ngồi đủ kiểu đủ loại : thân cây cưa ngắn, ghế xe hơi cũ, thùng gỗ tạp, và thậm chí những két vỏ chai la de. Quán mang một dáng vẻ thô sơ, nghệ sĩ và rất là “sinh viên bụi ”.
Ngồi quán nhâm nhi ly cà phê, nghe nhạc là mode cực thịnh của sinh viên học sinh thời bấy giờ. Ngồi cho qua ngày đoạn tháng. Ngồi cho quên nỗi ám ảnh ghê sợ chiến tranh và đường tương lai mù mịt. Quán Cái Chùa (La Pagode), Givral, Brodard dưới phố. Cà phê Hân, Duyên Anh, Thái Chi … ở Đa Kao. Thu Hương ở Tân Định. Gió Bấc, Năm Dưỡng ở Phan Đình Phùng/Nguyễn Thiện Thuật. Quán nào cũng đông cứng và nườm nượp khách.
Quán Văn cũng không ra ngoài tiền lệ, có phần đông đảo khách hàng hơn, có sức thu hút đặc biệt hơn nhờ những chương trình văn nghệ sống động. Nhạc nền thường trực của Quán Văn là nhạc chọn lọc từ Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến … cùng nhạc tiền chiến, cổ điển phát ra từ magnétophone gắn tape nhạc lớn do Trần Đại Lộc cung cấp. Thức uống của Quán Văn cũng đơn giản, chỉ vài ba món :
Cà phê, nước ngọt, thường là nước cam chua nhãn Birley, có khi là Xá Xị Con Cọp. Đặc biệt rất đắt hàng là nước đá chanh đường pha rượu Rhum, gọi tắt là Chanh Rum. Trà nóng trà đá miễn phí. Tới phiên ai quản lý, người đó phải mua sắm dự trữ thức uống đủ cho cả tuần. Bọn tôi chọn cà phê Pháp thơm ngon loại Jean Martin ở quày hàng kế restaurant Thanh Bạch đường Lê Lợi.
Có những hôm quá đông khách phe ta phải cật lực làm việc “ rụp rụp” (nói theo ngôn từ Võ Phiến) kiểu dây chuyền mới bắt kịp lưu lượng khách vào ra. Nào liền tay rửa phin, ly tách, pha cà phê, quậy chanh rum, chặt nước đá v. v . Có những tay pha cà phê rành nghề như Hoàng Xuân Giang …thì cũng có những hảo thủ múa tay chặt nước đá cỡ Nguyễn Khả Lộc …Lắm khi làm không kịp, khách phải nhào vào giúp một tay. Không khí thiệt là rộn rịp, thân thiện. Đông, vui không thể tả.
(Hoàng Xuân Sơn)
Hồ Xuân Hương
Nguyễn Du đối với Hồ Xuân Hương như thế nào? Cái ấy có nhẽ là tôi (Hoàng Xuân Hãn) phát hiện ra. Tôi thấy rằng trong lúc viết quyển Kiều cụ không thể không nghĩ đến mối tình cũ với Hồ Xuân Hương hồi xưa. Bài Hái sen ở Hồ Tây đối với tôi, thì bài thơ đó nói về Hồ Xuân Hương. Tức nhiên không nói rõ tên, nhưng tôi có linh cảm rằng người con gái ấy là Hồ Xuân Hương. Trong bài ấy có câu ngụ ý rằng: Yêu sen, nhưng không ai nghĩ trong sen, trong ruột có tơ, dù có bẻ đi nó vẫn còn giăng díu. Dặn người ta có hái sen đừng bẻ ngó bởi vì sau nó không sinh hoa được.
Trong Kiều cũng có câu: “Những từ sen ngó đào tơ - Mười lăm năm mới bây giờ là đây”. Theo ý tôi, khi viết câu ấy cụ Nguyễn không thể nào mà không nghĩ tới chuyện hái sen với Hồ Xuân Hương. Lúc cụ viết là để chỉ mối tình Kiều với Kim Trọng tuy đã xa cách nhau lâu thế rồi mà không thể dứt được Tôi nghĩ rằng bài hái sen trên đây và những câu thơ trong Kiều phù hợp với mối tình của cụ với Hồ Xuân Hương lúc trẻ.
(Hoàng Xuân Hãn: Thân thế và sự nghiệp Hồ Xuân Hương)
Rau sắng Chùa Hương
Chúa Trịnh Sâm đề nơi cửa động năm chữ đại tự, sơn son thếp vàng: Nam Thiên Đệ Nhất Động. Tương truyền Phật Bà Hương Tích, xuất thân là Công Chúa Diệu Thiện người nước Hưng Lâm phía đông Thiên Trúc, đã tu hành đắc đạo tại động Hương Sơn. Danh hiệu của bà tại đây là Đức Quan Âm Nam Hải hay Quan Âm Diệu Thiện, nay còn tượng bằng đá xanh trong chùa.
Một tấm bia trụ vuông, dựng ở mé trái có nói rõ: trước kia tượng vốn bằng đồng, đúc thời Lê Cảnh Hưng (1767). Đến năm Bính Ngọ (1786), Tây Sơn ra Bắc đánh Chúa Trịnh, đồ đồng bị Chúa Trịnh tịch thu đúc súng đạn. Năm Quý Sửu (1793) đời vua Cảnh Thịnh mới tạc lại bằng đá xanh thay thế, đồng thời có đúc quả chuông lớn, treo nơi chùa Thiên Trù. Người có công lo việc này là Nhật Quang Hầu, thời Tây Sơn. Như vậy, tượng đá và chuông là hai di tích của triều dại Tây Sơn.
Phía ngoài chùa Hương Tích là núi Hình Bồng, dưới chân núi có sông, hai bên bờ là vách đá dựng đứng, có con đường tắt đi vào. Nơi vách núi có hàng vạn nhũ đá rũ xuống óng ánh như minh châu, soi bóng trên dòng sông xanh uốn khúc giữa núi non hùng vĩ. Trong những bài thơ về chùa Hương, nổi tiếng nhất có bài Hương Sơn Tức Cảnh của Chu Mạnh Trinh (1862-1905):
Bầu trời cảnh Bụt,
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay,
...
Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái,
Lẳng lơ khe Yến cá nghe kinh,
Thoảng bên tai một tiếng chày kình.
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng
(Thái Văn Kiểm)
Gối đầu lên sử tre gỗ mít
Nam quốc sơn hà là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng văn ngôn chữ Hán, không rõ tác giả. Bài thơ này vốn không có tên, tên gọi Nam quốc sơn hà là lấy từ hai câu thơ đầu Nam quốc sơn hà Nam đế cư - Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư…
Theo truyện dã sử thần linh ma quái Việt điện u linh Thái uý Lý Thường Kiệt đem quân đánh nhà Tống dựa bờ sông đóng cừ để cố thủ. Một đêm kia quân sĩ nghe trong đền có tiếng của thần nhân ngâm to rằng: Nam quốc sơn hà Nam đế cư
(sau cho là bản “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của nước ta).
Lĩnh Nam chích quái cũng chuyện chiến chinh, chỉ khác người gặp thần nhân không phải Lý Thường Kiệt mà là Lê Đại Hành.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư đời Lê của Ngô Sĩ Liên (bộ chính sử đầu tiên ghi chép bài thơ này), tác giả bản “Tuyên ngôn độc lập” là Lê Hoàn (Lê Đại Hành), người sáng lập ra nhà Tiền Lê (980-1009), đánh Tống lần thứ nhất. Các nhà nghiên cứu gần đây cùng một quan điểm Nam quốc sơn hà là bài thơ, xuất hiện dưới thời Lê Đại Hành.
Thế nhưng với sử gia Phan Huy Lê:
Vì Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc (tổ nhà Nguyễn), thông dâm với vợ vua. Nếu Lê Đại Hành như vậy thì lại đem bài thơ như một bản "Tuyên ngôn độc lập" đó gắn cho Lê Hoàn được.
Vì vậy các tác giả đã gắn bài thơ đó cho Lý Thường Kiệt.
Cây mù u
Ong bầu vờn đọt mù u
Lấy chồng chi sớm, tiếng ru càng buồn..
Trong kho tàng của làng mạc, chúng ta mỗi người mỗi hoàn cảnh địa lý đều có kỷ niệm một cây nào đó, dưới rặng trâm bầu, cây đa đầu làng, ngã 3 cây gáo, cây phượng bên sông, dưới nhánh cây bần, hoa tím bằng lăng, cây bàng...Riêng tôi cây mù u đã nhiều lần đưa tôi vào một vùng trời kỷ niệm thời thơ ấu.
Các bạn chắc còn nhớ hồi khoảng 45-55, chúng ta còn đi học. Xuân đi học coi người hớn hở. Gặp cậu Thu đi ở giữa đàng. Hỏi rằng sao quá vội vàng. Trống kia chưa đánh đến trường làm chi ? Thế là chúng ta ngồi xề gần chị mua gánh bán bưng, kêu một dĩa bánh bèo bì mở hành đậu xanh...Chị bán hàng múc cho ta vài cống nước mắm làm sẵn, chan lên đĩa bánh ngon lành.
Cái cống nước mắm đó làm bằng trái mù u cắt ngang 1/3 và xuyên qua bằng 1 cọng tre để ta cầm, khi nào lạt, ta tự động lấy cái cống mù u múc thêm nước mắm. Những buổi trưa hè, nghe bà bán dầu mù u, tay quảy tay xách rao ai mua dầu mù u hôn.
(Nguyễn Quý Định)
Ẩm thực miền Trung - vùng Bắc Trung bộ
Ẩm thực xứ Nghệ - 1
Nhắc đến ẩm thực xứ Nghệ, món ăn không thể không thể nhắc đến chính là miến lươn/ cháo lươn/ súp lươn, vừa là đặc sản mà cũng là niềm tự hào của người dân ở đây; lươn được nấu phải là lươn đồng, thịt săn, người ta rọc thịt lươn bằng cật tre chứ không dùng dao để mổ, thịt lươn nấu vừa mềm, ngọt, không quá dai mà cũng không quá nhão.
Miến lươn - hương vị dân dã
nhưng đậm đà của người dân xứ Nghệ.
Món ăn nổi tiếng tiếp theo trong ẩm thực miền Trung là nhút Thanh Chương. Nhút Thanh Chương ngon hơn cả bởi ở đây trồng được mít ngon. Nhút là món ăn thân thuộc mà người dân xứ Nghệ hay cả du khách tìm về thưởng thức, vị giòn giòn, mặn mặn với chút cay của ớt làm bữa cơm dân dã càng ngon miệng hơn.
Tương Nam Đàn, còn được biết là “tương mảnh”, được làm từ hạt đậu nành, nếp hoặc ngô, muối và nước, khi tương đã ủ thành, nước tương có màu vàng sánh như mật ong chứ không có màu nâu giống các loại tương bình thường. Hầu như các gia đình xứ Nghệ đều dùng tương để chấm thay vì nước mắm, bát nước tương trở thành hương vị gia đình ấm cúng của người dân ở đây.
Đến với ẩm thực biển của xứ Nghệ, không thể bỏ lỡ khi ăn món mực nhảy, là đặc sản biển nổi tiếng tại biển Cửa Lò. Những con mực này được ngư dân bắt lên và được chế biến ngay khi còn tươi sống. Mực cửa lò có nhiều cách chế biến, có thể nướng luôn trên tán đèn măng sông, cũng có thể ăn luộc hoặc có thể ăn tái tùy khẩu vị từng người.
(Khuyết danh)
Thanh Tịnh: Những bước chân âm thầm
Nhà văn Nguyễn Khắc Trường chưa từng được sống và làm việc cùng Thanh Tịnh dưới mái nhà số 4, bởi khi ông về công tác thì Thanh Tịnh đã thôi làm quản lý tại đây, nhưng có một chi tiết về Thanh Tịnh do nhà văn Nguyễn Khải kể lại khiến ông ám ảnh đến tận hôm nay. Nguyễn Khải kể với Nguyễn Khắc Trường rằng, bình thường Thanh Tịnh rất điềm đạm, ít luận bàn về văn chương của anh em, thậm chí là của các đàn em nhưng những lời ông nói ra đều khiến người khác phải nể phục. Ngày ấy, dù Nguyễn Khải đã viết rất nhiều và có dư luận tốt nhưng chưa khi nào thấy Thanh Tịnh nhận xét về văn của Nguyễn Khải.
Cho đến một lần, khi Nguyễn Khải in truyện ngắn “Sự ra đi của người con” Thanh Tịnh mới bảo: “Khải đã bắt đầu thành nhà văn rồi đấy, nhà văn là phải có giọng riêng”. Câu trao đổi ngắn ấy đã khiến Nguyễn Khải nhớ cả đời và luôn kể lại với anh em viết văn mà Nguyễn Khắc Trường cũng là người được nghe. Nguyễn Khắc Trường nói rằng, “thời gian ở nhà số 4, bên những tên tuổi lớn, tôi nghiệm ra rằng mình đã học được từ các anh cách sống nhiều hơn là cách viết”.
(Thanh Tịnh “giấu niềm đau vui sống với đời” – Khuyết danh)
Tác giả: Thanh Tịnh (1911-1988), tên thật là Trần Văn Ninh (6 tuổi được đổi là Trần Thanh Tịnh), là một nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Ông sinh ngày 12-12-1911 tại xóm Gia Lạc, ven sông Hương, ngoại ô Huế. Thanh Tịnh mất ngày 17- 7-1988 tại Hà Nội. Hiện phần mộ ông đặt tại núi Thiên Thai phía Tây thành phố Huế.
Tác phẩm: Quê mẹ (truyện ngắn, 1941), Tôi đi học, Thanh Tịnh đời và văn (1996).
“Cheo Leo”, quán cà phê ‘xưa’ nhất Sài Gòn
Gặp chị Nguyễn Thị Sương, chúng tôi thăm hỏi về quán cà phê kỳ cựu này. Chị Sương là con ông Vĩnh Ngô, người lập nên quán Cheo Leo cách đây 75 năm. “Nghe cha tui nói, thuở đó vùng Bàn Cờ này còn hoang sơ heo hút lắm, không khác chốn đèo heo hút gió, nên khi mở quán cha tui đặt tên là quán Cheo Leo. Từ đó khách uống cà phê gọi luôn tên cha tui là ông Cheo Leo…”
Một vị khách lão niên ngưng ngụm cà phê đá, nói với chúng tôi:
“Sanh thời ông Cheo Leo điệu nghệ lắm. Ổng luôn vận quần soọc, cỡi vespa đi chợ Bến Thành mua cà phê chánh hiệu Meilleur Gout, Jean Martin mang dìa pha vợt. Tới khi Sài Gòn đã hiếm quán cà phê pha vợt, ổng cũng không chịu pha phin, biểu pha bằng cái phin thì cà phê cũng chẳng ngon hơn chút nào, mà nỡ bỏ đi cái cách cà phê pha vợt đã quá thân thương với người Sài Gòn. Tụi tui mến ổng là vậy.”
Ông Cheo Leo mất trong năm 1993, lúc vừa tròn 75 tuổi, ngang bằng tuổi quán Cheo Leo hôm nay. Chị Sương dẫn chúng tôi vào nơi pha chế cà phê vợt, phía trong cùng của căn nhà chật hẹp. Cái lò nung để ủ nóng cà phê ngẫu nhiên như một kiệt tác nghệ thuật, với những dòng chảy nâu quánh kết tinh của 75 năm, không khác những dòng thạch nhũ trong hang động.
(Nguyễn Đạt)
Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ
Lâu đài tình ái không xây một mình
Anh đi chiến dịch đăng trình nặng vai
Ngậm ngùi cửa đóng then gài
Người yêu của lính không phai má đào
(Sưu tầm từ VMQH)
Hui nhị tỳ
Về vụ người sống lấn người chết, cảnh rõ rệt nhứt là cảnh đất thánh của nhà thờ Cầu Kho. Đất thánh ấy ở giữa trung tâm thành phố, bạn bước tới mà xem.
Những ngôi mộ bia bị giấu mặt dưới những nếp nhà lá nhỏ như chiếc khăn mu soa, rồi trong đó, đám người kẻ dương gian người âm cảnh, ngủ chung với nhau.
Nếu có ma thì ma ở đây rất sợ người ta, những người lì lợm; mả mới mả cũ gì họ cũng cất nhà chồng tưới lên. Nhiều nhà mồ biến thành trại mộc và có vài ngôi mộ có rào sắt, bị người ta dùng làm chuồng heo.
Ở đây dương thịnh mà âm suy, ông lang nào có muốn bốc thuốc hiệu nghiệm thì tôi xin mách một toa toàn vị bổ âm:
Đất trống vài mẫu.
Cây lá vài trăm xe.
Sở phí dọn nhà vài trăm ngàn.
Mấy vị thuốc nầy uống vào thì âm hạ ngay cho dương trở lại. Toa gia truyền nầy là toa “giải tỏa và định cư” [3].
[3] Nghĩa địa nầy đã gợi hứng cho tác giả viết truyện Ba Con Cáo (Ký thác) và ngày nay đã bị giải tỏa để làm phố Nguyễn Cư Trinh.
(Bình Nguyên Lộc)
Sài Gòn: Hành trình ẩm thực
Từ khi tác giả đến với Sài Gòn trong phong trào di cư đến nay đã đúng nửa thế kỷ. Cũng từ đó bắt đầu có ý thức về việc ăn uống và thường nghiên cứu về vấn đề này, đã nhận thấy có rất nhiều thay đổi trong cách pha chế trải dài trong suốt 50 năm. Ăn uống đi chung với kỷ niệm, tuy nhiên lại ảnh hưởng không ít bởi hoàn cảnh xã hội, tình trạng kinh tế, vv… do đó đã không ngừng đổi thay và cải tiến. Những ông Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thạch Lam hay Vũ Bằng là những tay cự phách trong làng ăn nhậu, nếu còn sống để được thưởng thức một món quen thuộc của một thời nào đó trong quá khứ, không biết còn cảm thấy hấp dẫn hay không vì khẩu vị đã bị “áp chế” bởi quá nhiều món mới, món lạ.
Chắc chắn là không, vì rất khó khăn để tìm được những gia vị, những loại rau thơm đặc sản của từng vùng để pha chế. Ngay thịt thà từ gà, vịt, heo, bò, vv… mùi vị cũng chẳng còn được như “thời ấy”, lấy đâu ra để bảo tồn được hương vị của sự “vang bóng một thời” của mỗi người.
(bút ký Trường Kỳ 2)
Vênh váo như bố vợ phải đấm
Câu: “Vênh váo như khố rợ phải lấm” bị biến thành “Vênh váo như bố vợ phải đấm” thì biến nghĩa một cách hoàn toàn.
Ngày xưa người dân quê thường đóng khố bằng vải rợ (vải dệt thô). Khi đi lội ruộng, bùn lấm lem vào. Lúc khô bùn cứng lại vênh bên nọ vẹo bên kia, hở hang cơ thể, nên mới có câu đó.
(Tự điển thành ngữ)
Sài Gòn xưa trước cửa trường Taberd
(xe bò bía trước Bưu Điện)
Ngoài ra khu Bưu điện còn bán xôi gà, cơm tấm, gỏi khô bò, bò bía, bột chiên… Riêng cái món bột chiên nổi tiếng mà ông Taberd nào cũng mê này là của một ông Tàu mà mấy ông anh lớn hay gọi là chú Mạ, chân đi hơi khập khiễng nên chơi luôn cái tên chú Mạ Què cho gọn. Mỗi sáng ghé vào cái xe hàng ăn này là phải chờ vì bà con khoái món này lắm, xe cũng chỉ có 5 – 6 cái ghế để ngồi, đông quá có khi vừa đứng vừa ăn. Có bữa đi học trễ, thèm dĩa bột chiên, thế là sà vào. Nhằm bữa chú Mạ đông khách nên phải đợi. Đến chừng dĩa bột chiên của mình cũng được đem ra nóng hổi, vừa thổi vừa nhai ngấu nghiến vài miếng thì tiếng chuông trường kêu leng keng giục giã vào học. Vội lùa thêm một vài miếng bột chiên nữa là ông nhỏ ôm cặp táp chạy thục mạng, có bữa quên cả trả tiền dĩa bột (nhưng không sao ,vì là khách ruột nên hôm sau trả cũng được).
***
Có cái xe đạp bán gỏi khô bò của một ông Tàu khác. Khô bò của ông này thuộc loại tuyệt hảo vừa ngon vừa cay, miếng khô bò hay miếng gan của ông ướp gia vị đậm đà lắm. Khô bò của ông có hai loại: loại gan mềm ăn rất béo và bùi, loại khô bò cứng và rất cay với nước gia vị sền sệt. Bốc một nhúm gỏi đu đủ đã bào sẵn vào cái đĩa bằng sắt, tay cầm kéo của ông nhanh nhẹn cắt khô bò hay gan ra từng miếng, rưới một chút nước cốt dùng để ướp miếng khô bò lên trên dĩa gỏi, xắt thêm ít rau răm lên trên, rồi dích miếng tương ớt cắn một miếng nhai sừng sực gân guốc thấy đã làm sao!
(Vũ Văn Chính)
Giai thoại về Lãng Nhân Phùng Tất Đắc
Bút danh của Lãng Nhân, rất đặc biệt: Lãng Nhân là phiên âm một từ ngữ Nhật Bản: Ronin, nghĩa một samurai mất chủ, đi lang bạt.
Tôi nghĩ có lẽ lúc chọn bút danh cho nghề văn, ông đã có khí tiết của một samurai mất chủ, mang tinh thần võ sĩ đạo Nhật Bản đi lang bạt kỳ hồ. Lãng Nhân từng xuống tàu của Bạch Thái Bưởi ở Hải Phòng, định vượt biển. Thân phụ ông biết tin, buộc ông trở lại quê nhà. Lãng Nhân bắt đầu làm báo khi Hoàng Tích Chu chủ trương Nhật báo Đông Tây. Rồi cộng tác với các Tuần báo Ích Hữu, Tiểu Thuyết Thứ Bảy…
(Nguyễn Đạt)
Đệ nhị khoái : đầu cá
Gần bờ sông Cầu Ông Lảnh, có mấy quán nhậu bình dân bán các món nhậu trứ danh như cá lóc nướng trui cuốn bánh tráng, lẩu cá, cá hấp, hay cơm với canh chua cá lóc hay cá bông lau, cá lóc hay cá bông lau kho tộ. Không khí ở đây chứa chan hương vị quê hương. Các ghe chở cá tươi nhảy xông xổng tiếp tế lựơng cá từ miệt lục tỉnh về cho thành phố Sài Gòn. Đâu đây tôi chiêm ngưỡng cảnh thực khách húp canh, múc lẩu, hút đầu cá sồn sột cho thấy con người đang bồi bổ sức khỏe bằng những chất đạm protein quý báu và mỡ tốt vào cho cơ thể của họ.
Trên bước đường tị nạn sang Mỹ, tôi nhớ thuỡ ở trại tị nạn Pendleton năm 75, các nhà ăn (mess halls) thường cho chúng tôi ăn món cá fillet luộc. Bà con tị nạn phản đối vì món cá luộc tanh, mà nhà ăn chỉ có muối tiêu và không có món quốc hồn quốc túy nước mắm đi kèm.
Một hôm tôi và các anh bạn định xếp hàng ăn trưa thì các mess halls ồn ào vì đồng bào ta quyết định không vào ăn. Chúng tôi mặt mày bơ phờ, bụng đói meo nhưng phải theo số đông. Nhìn các anh chàng tị nạn đứng gác cửa mặt mày bặm trợn, đằng đằng sát khí ngăn cản đồng bào nào muốn xé lẻ chui vào ăn. Tiếng đồn đến tai trại trưởng, trung tướng Paul Kelly. Ông tiếp đón phái đoàn đại diện tị nạn để nghe thỉnh nguyện. Phái đoàn đại diện yêu cầu trại cho ăn cá chiên và kèm nước mắm pha tỏi, ớt, chanh... và nên cho ăn gà nhiều hơn cá. Nguyện vọng của người tị nạn đựơc đáp ứng. Trại bắt đầu tuyển mộ nhân viên Việt Nam vào nấu nướng. Vì số người lưu trú quá đông nên số cá chiên đựơc cung cấp rất giới hạn, nhưng bây giờ trại ban cho món quốc hồn quốc túy nước mắm do người tị nạn pha chế. Trên bàn anh, anh em chúng tôi rất thoải mái với món cơm cá luộc ăn kèm nứơc mắm pha. Bổng một anh ngồi bàn bên cạnh hỏi các bạn: "Tại sao không có món đầu cá nhi? ". Một vị thực khách khác lên tiếng: " Bọn Mỹ không thích xương, nên chỉ ăn fillet thôi ”. Anh bạn đặt câu hỏi thì thầm: "Dại thật". Trong một khía cạnh nào đó anh bạn nói đúng. Người Mỹ không xơi đầu cá, và đồng bào tị nạn vẫn thích món gà luộc hơn cá luộc. Khi xuất trại rồi tôi mới biết ngày xưa đồng bào ta đòi ăn gà thì mess halls yểm trợ ngay gà. Nứơc Mỹ giàu mạnh, nứơc Mỹ không hề thiếu thịt bò và thịt gà cơ mà.
(Trần Việt Hải)
***
Phụ đính I
Vào hè nói dóc chuyện La ve (La de)
Nhãn vẽ xong đại khái cũng tạm ổn, vì anh họa sĩ nhà chưa bao giờ nhìn thấy hoa houblon, nên đinh ninh thấy hoa houblon giống trái thơm, và vẽ giống trái thơm. Các ông giám đốc tây cũng ba chớp ba nháng, kể cả anh Chánh sở trách nhiệm là tui, cũng thế. Vì thiệt tình mà nói thì có ông nội nào thấy hoa houblon tươi đâu? Biết là houblon nhưng chỉ nhìn thấy hoa dưới dạng khô.
Còn các anh kỹ sư nhà máy, các anh nấu rượu (brasseurs là một cái nghề riêng) dân La De thiệt, thì ở nhà máy. Bọn quyết định là dân Văn phòng, dân làm Marketing quyết định mọi việc, bổn phận các anh kỹ sư là sản xuất, chỉ sao làm đúng vậy thôi.
Nhãn Ô kê, gởi đi làm décalques đưa qua Công ty Thủy tinh Việtnam, (Khánh Hội) dán vào chai: 100 ngàn chai mới. Khi đưa vào nhà máy Chợ lớn, các lão kỹ sư cười vỡ bụng, « hoa houblon sao giống trái thơm thế nầy ». Nhưng đã nói các quan Văn phóng là chánh mà, nên quyết định, cứ trộn chai mới vào với đám chai cũ, lẫn lộn chả ai biết gì đâu, người ta uống La De có ai thèm nhìn nhãn đâu. Chẳng lẽ vất bỏ 100 ngàn chai hay sao? Vài ông Giám đốc còn thày lay dạy đời «Dân Việt không biết uống Bia, uống quá lạnh, nhiều khi còn để đông đặc lại (Bia đặc), còn thêm nước đá, ngon lành gì, vì vậy trái thơm hay hoa houblon có ai biết chi mô mà ngại ngùng, a - lê ta cứ thế mà làm ».
(Phan Văn Song)
***
Phụ đính II
Một trong những bài thơ làm trong tù

Ngày 13-4-1976, CS bắt giam Vũ Hòang Chương đưa vào khám Chí Hòa, ông để lại bài thơ làm trong tù như sau:
Rồi vì bệnh nặng, được thả về, nhưng chỉ 5 ngày sau tức ngày 6-9-1976 thì ông từ trần.
(Trung tâm Văn bút Việt Nam 1957-1975 - Nhật Tiến)
Một trong những bài thơ làm trong tù - 2
Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,
Lông hồng gieo xuống nhẹ như non,
Một manh chiếu nát, thân tơi tả,
Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.
Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,
Đêm về giấc ngủ lại thương con.
Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,
Hồ dễ gì phai được tấc son.
(V.H.C. - Chí Hòa 1976)

Bà Đinh Thục Oanh
Vũ Hoàng Chương, phu nhân
trước ban thờ của cố thi sĩ.
(Trung tâm Văn bút Việt Nam
1957-1975 - Nhật Tiến)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét