1. Sáng nay đọc một bài viết trên báo Tuổi trẻ mà không khỏi giật mình : “ Với khá nhiều trí thức tương lai của đất nước, việc cư xử tử tế là chuyện… xa xỉ!
Hút thuốc trong giảng đường, đi học trễ, bỏ rác trong hộc bàn, chạy xe trong sân trường, lãng phí điện nước ký túc xá… là thói quen thường ngày của sinh viên…”
“Dạo quanh khuôn viên các trường Đại học, chúng tôi chứng kiến thêm nhiều hình ảnh đáng thất vọng của sinh viên, đặc biệt là ý thức tự giác chấp hành nội quy của nhà trường..” (Những chuyện không đẹp của sinh viên- Báo Tuổi Trẻ số 331/2014 ngày 6.12.2014).
Đọc xong, lại bồi hồi nhớ lại những ngày đầu bước chân vào trường Sư Phạm Quy Nhơn (SPQN). Năm 1968, tốt nghiệp xong Tú tài chúng tôi nộp đơn thi tuyển vào trường SPQN. Đây là kỳ thi tuyển chọn giáo sinh để đào tạo giáo viên cho các tỉnh miền Trung từ Quảng Trị đến Phan Thiết. Hàng nghìn thí sinh dự thi, nhưng đỗ thi viết chỉ có khoảng 700 người. Vào thi tiếp vấn đáp chỉ còn lại hơn 400 người được đỗ chính thức. Chính sự tuyển chọn nghiêm túc này, những giáo sinh được vào học SPQN là những “hạt gạo trên sàng” là những người đã xác định nghề nghiệp của đời mình là nghề Mô phạm. Nhớ lần đầu tiên đến trường , tôi ngỡ ngàng vì khi vào các trường khác thì luôn thấy có những khẩu hiệu về giáo dục. Trong trường SPQN những chỗ cần thiết thì chỉ có hai chữ: TỰ TRỌNG. Vào nhà để xe : TỰ TRỌNG, thế mà từ thầy giáo đến học sinh đều xếp những chiếc xe đạp của mình ngay ngắn. Có lần chiếc xe đạp của thầy giáo dạy môn Sư phạm thực hành tự nhiên biến mất – đây là chiếc xe đạp quá cũ và xấu nhất trong nhà xe – Dạy xong tiết, ra về không có xe, thầy vẫn vui vẽ quá giang xe của một giáo sinh. Hôm sau thầy đến nhà xe, thấy chiếc xe của mình, lại được vô dầu mỡ , thầy đọc ngay một bài thơ tứ tuyệt, nghe xong cả lớp chúng tôi cười vang, tôi chỉ còn nhớ được một câu là :”…Vui duyên tái ngộ leo lên cỡi…”. Vào phòng học, phía trước ngay trên bảng đen cũng treo hai chữ TỰ TRỌNG. Chỉ có thế mà mỗi khi vào lớp, chúng tôi đều đi đứng nhẹ nhàng, tự giác thực hiện nghiêm túc nội quy của nhà trường. Vào nhà vệ sinh cũng chỉ thấy hai chữ TỰ TRỌNG , thế mà nhà vệ sinh bao giờ cũng sạch sẽ.
Chúng tôi được học bài TỰ TRỌNG ngay khi mới vào trường, sau đó theo chân chúng tôi về đến các trường học và… cho đến hôm nay.
2. Năm thứ nhất học tại trường SPQN, chúng tôi được thầy Đoàn Nhật Tấn dạy môn Sư phạm lý thuyết. Thầy giới thiệu tài liệu cho chúng tôi tham khảo, sau đó cho giáo sinh tình nguyện thuyết trình, cả lớp đặt câu hỏi và cùng trao đổi, thảo luận. Thầy tổng kết sau tiết học và giải quyết vấn đề nào lớp chưa thấu đáo. Những tiết học của thầy lúc nào cũng sôi nổi. Cho dù đã hơn 45 năm, nhưng chúng tôi vẫn nhớ như in: Nền giáo dục đặt nền tảng trên cơ sở ba phương châm: nhân bản, dân tộc và khai phóng. Giáo dục nhân bản lấy cá nhân làm trọng, lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; nhấn mạnh đức dục, hướng đến phục vụ tha nhân. Giáo dục dân tộc tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt, liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Giáo dục dân tộc bắt đầu từ chương trình Việt, xiển dương lòng ái quốc thương nòi. Giáo dục khai phóng là phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
Triết lý giáo dục được thầy Tấn áp dụng vào phương pháp dạy học trong từng tiết học của mình đã khắc sâu vào ký ức của mỗi chúng tôi. Khi ra trường, phương pháp dạy học cho học sinh thuyết trình được chúng tôi áp dụng phổ biến ngay còn ở cấp tiểu học. Triết lý giáo dục và phương pháp dạy học nhân bản đó đã giúp học trò thăng hoa, sự sáng tạo được khích lệ, tự do cá nhân được nâng đỡ, do vậy đã đào tạo cho đất nước nhiều thế hệ học sinh đa tài đa năng .
3. Phương pháp “dạy học theo chủ đề tích hợp và vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các tình huống thực tiễn” đang được ngành giáo dục triển khai trong các trường trung học đáp ứng yêu cầu chương trình và sách giáo khoa năm 2015. “Tích hợp trong dạy học được hiểu là sự kết hợp các nội dung kiến thức từ các môn học, các lĩnh vực học tập khác nhau vào nội dung một bài học; là sự phối kết hợp các tri thức có quan hệ gần gũi, mật thiết với nhau trong thực tiễn để chúng hỗ trợ tác động vào nhau tạo nên một kiến thức tổng hợp vững chắc nhằm giúp người học có đủ khả năng, phẩm chất giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống. Một tình huống xảy ra trong đời sống bao giờ cũng là sự tích hợp từ nhiều lĩnh vực khác nhau”.
Đọc những điều mà ngành giáo dục đang thực hiện về phương pháp dạy học theo chủ đề tích hợp, tôi lại nhớ đến phương pháp dạy học theo chủ điểm giáo dục cộng đồng của trường SPQN. Đây là môn học do thầy Đặng Văn Bồn giảng dạy. Trong quá trình nghiên cứu địa phương, tiếp cận với cộng đồng, giáo viên phát hiện được những nhu cầu của dân chúng cần cải thiện như: nước uống trong lành, bài trừ sán lãi, giáo dục môi trường, phòng chống sốt xuất huyết... Nhà trường đặt kế hoạch giải quyết những nhu cầu ấy bằng cách: một mặt ở trong nhà trường, giáo viên dạy theo chủ điểm tức là vận dụng các kiến thức về chủ điểm ấy vào từng môn học và có kế hoạch cho học sinh thực hành những kiến thức đó vào cộng đồng. Mặt khác, nhà trường tổ chức các hoạt động xã hội. Chẳng hạn như mở đêm văn nghệ dân gian, thu hút quần chúng đến xem. Nhân đó, phổ biến cách thức cải thiện đời sống của họ. Việc làm này gọi là "Thực hiện chủ điểm giáo dục".
Dạy học theo chủ điểm giáo dục đã góp phần xóa bỏ được lối dạy học khép kín tách biệt nhà trường với thế giới bên ngoài, cô lập kiến thức, kỹ năng vốn có liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau. Những tiết học dạy theo chủ điểm mang lại cho học sinh sự hứng thú, thiết thực, phát huy được tính tích cực, giúp các em gắn kết kiến thức lý thuyết với thực hành.
Được đào tạo trong một nhà trường như thế, những giáo sinh chúng tôi khi ra trường đã đầy đủ tiêu chuẩn về năng lực, đạo đức của một giáo viên. Vì thế, dù ở môi trường nào, thời kỳ nào, những giáo viên được đào tạo từ trường SPQN đều được xã hội trân trọng. Trường SPQN chỉ đào tạo được 13 khóa (từ 1961-1975) nhưng anh em đồng môn chúng tôi luôn gắn kết tình cảm. Những lần họp mặt cựu giáo sinh SPQN liên tục được tổ chức hàng năm giữa các khóa. Thầy trò, anh chị em gặp nhau mừng mừng tủi tủi như những người thân lâu ngày được gặp lại. k.7-

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét