16 thg 5, 2026

Chữ nghiã làng văn - Kỳ 15/6/2026 - Ngộ Không Phi Ngọc Hùng


Chữ nghĩa làng văn


***


Cái Răng 


Cái Răng (thuộc Cần Thơ) là sự Việt hoá của k’ran, tức cà ràn, là một loại bếp lò nấu bằng củi, có thể trước kia đây là vùng sản xuất hoặc bán cà ràn.


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam – Hồ Đình Vũ)


Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả


 “Quốc: trứng quốc”.


Không lẽ soạn giả muốn nói tới trứng loài chim có tên là “cuốc


(Hòang Tuấn Công)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Nhà sạch thì mát, bát sạch hao cơm


Góp nhặt…


Khu phố Dakao thời Tây còn được gọi là Đất Hộ. Vì đường trên phía đất cao (route haute). “Route haute” được người Việt gọi là đường hô (haut). Đất cao được gọi là đất hộ. Ta gọi là Đất Hộ

Khu phố Đa Kao nằm tại vùng đất cao mà người Pháp gọi là Zone de plateau, ta gọi là vùng đất cao

Đất cao được người Pháp phát âm là Dakao.


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam - Hồ Đình Vũ)


Câu đối Tết


Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
Uớc gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân 


Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà


(Nguyễn Khuyến)


Quảng Nam


Một phần vì chúa Nguyễn Phúc Chu di dân từ Huế mà đa số người Kẻ Chợ (Đông Đô) và đất Thanh (Tây Đô) vào Quảng Nam

Thêm nữa, một phần vì ảnh hưởng của sông núi, Quảng Nam xưa vốn là linh địa của người Chàm (Amavati – Trà Kiệu là kinh đô của họ trước thế kỷ VIII). Thế nên đất này là đất địa linh nhân kiệt có nhiều nhân tài, khoa bảng, văn nhân thi sĩ.


(Quảng Nam hay cãi - Trần Gia Phụng)


Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương


Dệt vải

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau,
Con cò mấp máy suốt đêm thâu.
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
Một suốt đâm ngang thích thích mau.
Rộng, hẹp, nhỏ, to, vừa vặn cả.
Ngắn, dài, khuôn khổ cũng như nhau.
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ,
Chờ đến ba thu mới dãi mầu

hoxuanhuong09

Góp nhặt cát đá


Mộng


Một hôm mộng thấy... 

Kệ!


Cái dở trong thơ Bùi Giáng  

Sẽ rất thú vị về những phát hiện vết đen trên mặt trời thi ca mà các chiêm tinh gia, thiên văn gia với đầy đủ kính viễn vọng, vô tình hay cố ý, hoặc bị ràng buộc bởi cách thức phê bình đã không nhận ra ở các bài phê bình mô phạm. Cái dở trong thơ của các nhà thơ hay. Đó không phải dọn vườn thơ ở các thi sĩ đã mang thương hiệu. Càng không là hành vi "lật đít tượng" hay "đốt đền"! Đó cũng không hẳn là "nói đến cái dở thì cũng chỉ cốt làm nổi cái hay" (Hoài Thanh). 


Với các bậc kỳ tài, có những cái dở tệ trong thơ có thể chấp nhận được. Nhưng, thơ rất khó tính: có những cái thơ không thể cho phép một nhà thơ đã đến thế mà lại có thể hạ một chữ thơ, một câu thơ như thế. Điều đó nằm ở đâu: Đề tài? Nội dung? Chi tiết? Câu chữ? Cấu tứ? Hình tượng? Nhịp điệu? Âm vần? Xúc cảm? 


Tất cả đều có thể. Và ở từng tác giả, từng câu, bài cụ thể nó hiện ra mỗi cách, khi hiển hiện khi ẩn tàng. Trong thơ, chúng là cái dở vô cớ; nói nôm là lãng xẹt, vớ vẩn. Phân tích từng nhà thơ với văn phong, tính cách, cuộc đờii… ta có thể tiếp cận nguyên do của các cái dở vô cớ. Nói chung, với những nhà thơ tránh được lỗi này, ta gọi họ là những người biết tự biên tập thơ. Làm thơ là khó, là phiêu lưu; biên tập thơ là chuyện sống chết! Chiến công trong các chuyện sửa thơ thường được lưu truyền như giai thoại.

(Đỗ Quyên)


Đừng tưởng


Đừng tưởng cứ thấp là khinh.. 

Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to

(Bùi Giáng)


Làm báo văn học ở hải ngoại 


Những tình cờ định mệnh


Tôi (Khánh Trường) yêu hội họa. Từ ấu thơ, tôi đã mơ sẽ có ngày nào đó, trong đời, tên tuổi tôi trở nên quen thuộc, được nhiều người hâm mộ, như một họa sĩ. Lớn hơn tí nữa, định mệnh đẩy tôi vào một ngã rẽ khốc liệt, chính cây bút chì than và tập giấy croquis giúp tôi đứng thẳng được trên đôi chân yếu, để tiếp tục bước về phía trước, làm người.


Bản vẽ đầu tiên của tôi năm 13 tuổi được trả bằng tiền. Từ đó đến bây giờ, tôi đã sống, đã nuôi vợ nuôi con và nuôi chính bản thân mình chỉ bằng một nghề duy nhất: hội họa. Tôi dùng chữ hội họa trong nghĩa phổ thông, gồm tất cả mọi công việc ít nhiều liên quan đến cọ sơn, màu sắc: tôi từng là thợ kẻ bảng hiệu; vẽ chân dung truyền thần; vẽ quảng cáo báo chí. Tôi cũng đã từng trình bày bìa sách, bìa băng nhạc, logo, nhãn bao bì cho các cơ sở sản xuất hàng tiêu dùng. Cuối cùng, "có trình độ" hơn, tôi sáng tác tranh bằng sơn dầu, màu nước, bột màu... và triển lãm vung vít. May mắn, những sản phẩm ấy thường được đánh giá "có chất lượng". Nhờ thế, tôi sống. Ngay cả chuyện vượt biển "tìm tự do", định mệnh cũng sắp xếp cho tôi bằng con đường hội họa: một cậu học trò (học vẽ) đã cho tôi một chỗ ngồi trên chiếc tàu đánh cá nhỏ bé với sức chứa tối đa 22 nhân mạng do cậu làm chủ.


Xuyên qua quá trình đầy thử thách đó, tôi nghĩ, và yên trí, suốt đời, sẽ chẳng còn con đường nào để chọn lựa cho hướng đi (đến nghĩa trang) của mình, ngoài con đường duy nhất, và cũng là con đường tôi hằng mơ ước thuở thiếu thời: hội họa.

Nhưng, như tất cả mọi chúng sinh khác trong "cõi nhân gian bé tí" này, có nhiều tình cờ không định trước đã đẩy số phận mỗi chúng ta vào những khúc quanh... tiền định.

Từ hội họa, bất ngờ, tôi rơi vào lĩnh vực văn chương, báo chí.


(Khánh Trường)


Mộng


Giã từ cõi mọng điêu linh
Ta về buôn bán với mình phôi pha


Nói chuyện cùng nhà văn Trần Thị NgH.


Minh Thùy: Chào chị Trần Thị NgH., cái tên này có vẻ khá bí hiểm với bạn đọc, vì sao chị có cái bút hiệu không giống ai như vậy, chị có thể cho biết tên thật không?

Trần Thị NgH.: Tên thật là Trần Thị Nguyệt Hồng. Thứ nhất, tôi chọn như vậy vì lấy từ chữ ký, ngắn gọn dễ chịu; thứ hai, cái tên hơi sến nên tôi không thích lắm; thứ ba do… hèn, lúc mới thập thò ở cửa viết lách, không dám xuất đầu lộ diện sợ bị má rầy.


Minh Thùy: Truyện ngắn đầu tiên của chị là truyện gì, khi mới bắt đầu viết chị có gặp khó khăn khi gửi truyện đến các tạp chí văn học không, vì chưa có tên tuổi trong giới văn nghệ?

Trần Thị NgH.: Truyện ngắn đầu tiên để chuyền tay nhau đọc được viết rất sớm, lúc còn học tiểu học. Để đăng báo ngày là những truyện viết trong thập niên 60. Đầu thập niên 70 mới gửi đến các tạp chí có vẻ cây đa cây đề, sừng sỏ trong giới văn nghệ như tờ Vấn Đề, Văn…

Truyện ngắn đầu tiên được gửi đến tạp chí Văn – lúc đó anh Trần Phong Giao làm tổng thư ký không được chọn đăng. Nhưng cũng truyện đó khi gửi sang tạp chí Vấn Đề của Mai Thảo thì được chọn. Bắt đầu như vậy không thấy có khó khăn gì, thấy rất vui. Truyện có tựa là Chủ Nhật, viết năm 1968 nhưng mãi mấy năm sau mới dám gửi đăng.


(Minh Thùy phỏng vấn)


Tiểu sử : Trần Thị NgH. tên thật: Trần thị Nguyệt Hồng

Sinh ngày 18.4.1948 tại An Xuyên, Cà Mau. Hiện ở Sài Gòn.

Tác phẩm : Những ngày rất thong thả (1975), Lạc đạn và 10 truyện ngắn (truyện dài, 2000), Nhăn rúm (tuyển tập truyện ngắn).


Mộng


Một hôm mộng thấy :
- Nợ nần bủa vây
- Bệnh hoạn tật nguyền
- Tai họa triền miên...
Giật mình tỉnh giấc: ta vẫn là ta


Mừng


Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy


Cho đến nay tác phẩm của các nhà văn Việt hiện sống ở Mỹ tôi đọc chưa được bao nhiêu. Gặp gỡ tác giả càng ít có dịp, lại hay những lúc đông đảo, chuyện phiếm là phần nhiều. Nhưng nếu đã thực trò chuyện được với nhau rồi thì khó quên. Như là với nhà văn Cao Xuân Huy,  chỉ một lần và đã cả chục năm, mà  nhớ mãi.


Năm ấy, còn đang cày ở tờ Văn Nghệ Trẻ, buổi chiều, trước cổng báo,  tôi vẩn vơ đứng đó hút thuốc ngó trời thì một ông đi tới.  Nhã nhặn ông hỏi tôi có phải Bảo Ninh không. Nghĩ đấy là một ông đến gửi truyện ngắn, tôi đáp vâng song lại xin lỗi rằng vì không phải biên tập viên nên không có quyền nhận bản thảo. Ông đó mỉm cười bảo là mình chẳng nhà văn nhà báo gì cả, rồi tự giới thiệu: " Tôi là Huy, ở Mỹ về thăm nhà, có lá thư với chút quà anh Khánh Trường gửi anh ".  Tôi sang tiệm cà phê ở vỉa hè bên kia ngồi đợi ông Huy ấy về qua nhà lấy thư. Nhà số 19 phố Trần Quốc Toản, ngay kề số 17 của báo Văn Nghệ. 


Tôi không khỏi ngạc nhiên. Với tôi không ai là Việt kiều hết, người Việt là người Việt, nhưng, dù không có ý phân biệt, mà ai vừa " ở bển " về thoáng nhìn tôi biết. 

Còn ông này thì đã tự giới thiệu mình là như thế tôi lại chẳng thấy ra là thế. Không như tôi song cũng là như tôi thôi. Như thiên hạ. Trang phục, đầu tóc, giọng nói, cách nói. Cố nhiên, có một cái gì đó, nhưng là cái gì ?  Thư của Khánh Trường chỉ mấy dòng, hỏi han sự viết lách và mời dịp nào qua Mỹ thì tới chơi Hợp Lưu


Chót thư anh viết: ông đưa Huy dạo  phố Hà Nội,  như hồi nào  tôi với ông. Huy viết Tháng Ba Gãy SúngÔng đọc chưa ?


(Bảo Ninh)


Mộng

 

Có gì mà lấy làm vui
Chỉ là một giấc mộng vùi trăm năm


“Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ” hay lịch sử bị chối bỏ?


Nhiều ý kiến cho rằng phải chăng do tên gọi của quyển sách là "Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ" mà tác phẩm này đã không được ra mắt như đã định?
Tác giả quyển sách cho biết công trình của ông khảo cứu tất cả những người nói về Trương Vĩnh Ký, phê bình Trương Vĩnh Ký khi còn sống và sau khi qua đời. “Trong tất cả giai đoạn thăng trầm lịch sử của Việt Nam, có những người khen Trương Vĩnh Ký, có người chê Trương Vĩnh Ký nhưng đều không dựa vào tài liệu chính thức. Vì thế tôi thấy muốn hoà hợp dân tộc, đại đoàn kết dân tộc, thì tôi nghĩ đối với nhân vật lịch sử đặc biệt như Trương Vĩnh Ký, thì nên làm một hồ sơ về Trương Vĩnh Ký.”

Nhà sử học Nguyễn Nhã thì nhận định rằng:

“Nếu nói về nỗi oan, thì có thể dưới một góc độ về chính trị, thì cho ông Trương Vĩnh Ký là người thân Pháp hay gì đó thì không đúng vì một người học thuật như ông thì ở bất cứ ở đâu và thời gian nào họ cũng thể hiện tính cách và công trình của họ có giá trị muôn đời. Một công trình hơn 50 năm


Trường Petrus Ký chụp năm 1972. Sau 1975 bị đổi tên thành trường Lê Hồng Phong. 

image

Ngay từ bài mở đầu của cuốn sách, Giáo sư Phan Huy Lê đã gọi đây là một công trình như một hồ sơ Trương Vĩnh Ký mang tên Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ. 

“Tôi coi đây là một công trình tổng hợp có giá trị về Trương Vĩnh Ký, cung cấp một hệ thống tư liệu khá đầy đủ và khách quan với nhiều góc nhìn khác nhau, cho tất cả các nhà khoa học trên mọi lĩnh vực muốn nghiên cứu sâu về nhà bác học Trương Vĩnh Ký.”

Nhà sử học Nguyễn Nhã, người đã nhận được thư mời đến buổi ra mắt sách (nhưng đã không xảy ra) dùng hai từ “đặc biệt” để nói về Trương Vĩnh Ký.
“Theo tôi, một nhân vật như Trương Vĩnh Ký là một nhân vật rất đặc biệt, mà tôi vẫn cho là tiêu biểu cho thân phận của người Việt Nam. Ông sống ở thời kỳ Pháp thuộc, nơi đó lại là Nam kỳ, thuộc Pháp. Mà khi mình sống thời kỳ Pháp thuộc, mình sống như thế nào trong giới học thuật đó, mà để mãi với thời gian thì đó là một vấn đề rất quan trọng. 

Ông Trương Vĩnh Ký đã làm được điều đó. Những công trình nghiên cứu và con người, nhân cách của ông là muôn đời.”

(Cát Linh RFA)


Hoàng Xuân Hãn


Tính ra chương trình Hoàng Xuân Hãn soạn thảo trong 3 tháng với 13 chuyên viên “thọ” được 9 năm, nhưng ảnh hưởng của nó trên hệ thống giáo dục ở miền Nam kéo dài đến năm 1975. Không biết nên gọi đó là cuộc cải cách hay cách mạng giáo dục? Khi chương trình được áp dụng, chẳng thấy ai ý kiến ý cò gì, hay là tại hồi đó không có tự do báo chí? Làm bằng cái tâm, bằng cả tấm lòng với sự nghiệp giáo dục, ai mà nói nổi.


Bây giờ, soạn lại sách giáo khoa thì cứ soạn, đậu tú tài thì vô tư (trên 90%), nhưng triết lý giáo dục là gì nhỉ?


 (Vũ Thế Thành)


T.T.Kh. và chuyện tình thơ “Hai sắc hoa ti gôn”


Câu chuyện tình của Thanh Châu kết thúc. Hơn một tháng sau, tòa soạn Tiểu thuyết thứ bảy  nhận được bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” ký tên T.T.Kh. do một thiếu nữ mang đến tòa soạn. Bài thơ  được đăng ngay trên  số báo 179, ngày 30/10/1937. 

Hai mươi ngày sau tòa soạn lại nhận được một bài thơ nữa: Bài thơ  thứ nhất (đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 182, ngày 20/11/1937). Khoảng chưa đầy một năm sau, tạp chí Phụ nữ thời đàm đăng bài thơ Đan áo cho chồng;  bài thơ vừa đăng thì lại có thêm Bài thơ cuối cùng được gửi tới Tiểu thuyết thứ bảy  (trên số báo 217 ngày 23/7/1938). Cả thảy trước sau có bốn bài cùng ký tên: T.T.Kh; rồi  từ đó bặt luôn.

 

Nhiều người ngờ lắm: Nhà văn Thế Phong trong Lược sử văn nghệ VN (Nxb Vàng Son - Saigon 1974) đã cho rằng T.T.Kh. là người yêu của Thâm Tâm nhưng mới đây, Thế Phong (soạn chung với nhà thơ Trần Nhật Thu, ký tắt : Thế Nhật) trong cuốn "T.T.Kh. - Nàng là ai" lại bác bỏ giả thiết đó và khẳng định: 

T.T.Kh. tên thật là Trần Thị Chung (Trần Thị Vân Chung), sinh ngày 25/8/1919 tại Thanh Hoá, nguyên là người yêu cũ của Thanh Châu sau đó vâng lời gia đình lấy luật sư Lê Ngọc Chấn. 


Ông Trần Đình Thu trong cuốn “Giải mã nghi án văn học” (NXB Văn hóa Sài Gòn; 2007) cũng cho rằng T.T.Kh là Trần Thị Vân Chung nhưng đến nay thì hình như điều này là không đúng:  

Thanh Châu gần cuối đời phủ nhận  những đồn đoán; lời phủ nhận ít nhiều bộc lộ sự bất bình:  “...Không! Không phải! Bà Vân Chung không phải là T.T.Kh ...Toàn là bày vẽ chuyện “ (1). 


(1) Bà Vân Chung lúc bấy giờ đang ở Pháp cũng viết thư về phản đối tác giả Thế Nhật và Trần Đình Thu đồng thời khẳng định mình không phải là T.T.Kh

 

(Nguyễn Cẩm Xuyên)


Giai thọai xóm chữ làng văn


Ca dao có dây mơ rễ má vào đời Lê Chiêu Thống là hai câu:

Gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.


Ông Bút Chì, báo Làng Văn 26, trang 94, giải thích theo sách Việt Nam phong sử của Nguyễn Văn Mại: "Thơ phong sử này thuộc tỷ. Cải (rau cải) có thể làm dưa, tháng mùa đông bắt đầu gieo hột mà trồng. Răm, thứ rau có vị cay, mọc ở chỗ đất thấp.


Theo sử ký, Nguyễn Thị Kim, người ở làng Tỳ Bà, huyện Lương Tài, là cung phi của Lê Chiêu Thống. Khi Tây Sơn chiếm cứ thành Thăng Long, vua và hoàng thái hậu với cung phi chạy lên Cao Bằng, nếm mọi nỗi đắng cay. Đến khi vua Chiêu Thống sai người sang cầu cứu với nhà Thanh (1) thì vua và thái hậu sang Tàu.

(1) Việc cầu viện nhà Thanh, sử nước ta đã từ lâu cho là việc của mẹ Chiêu Thống.


Còn Cung phi Nguyễn Thị Kim đi theo không kịp, âm thầm ẩn tránh trong dân gian lo việc làm ruộng nuôi tằm, dệt vải. Ngày xưa sống với phấn sáp cung trang, ngày nay nàng trở thành người đàn bà quê với áo vải hoa gai, vua thì chạy đi, nước thì tan mất, nỗi đắng cay không xiết được, cho nên làm thơ để tự ví mình.

Cải, là thứ rau có vị đắng, ví với thái hậu

Rau răm cũng có vị đắng, ví với cung phi


Ý nói là thái hậu đi xa sang thiên triều chưa biết kham khổ ra sao. Một mình cung phi ở lại trong đất giặc chiếm đóng phải chịu những nỗi cay đắng ấy. Đấy cũng là lời than thở. Về sau vua Chiêu Thống ở Yên Kinh bị bịnh chết. Sau khi lấy được nước và định quốc đô, triều Nguyễn (2) xin nhà Thanh đưa linh cữu vua Lê Chiêu Thống về nước. Cung phi Nguyễn Thị Kim đến trước linh cữu lạy khóc rồi uống thuốc độc mà chết.


(2) Không phải triều Nguyễn mà là Lê Quýnh, vong thần nhà Lê cùng Lê Chiêu Thống lưu vong sang Tàu. Lê Quýnh khi ra khỏi ngục luôn luôn đến viếng mộ ông và sau này tìm đủ mọi cách để thực hiện di mệnh đưa nắm xương tàn của ông về quê cũ. 

Khi Thanh triều công nhận triều Nguyễn, năm Giáp Tí (1804) niên hiệu Gia Long thứ 3, Lê Quýnh xin được đưa hài cốt vua Lê, thái hậu và nguyên tử về nước táng ở Thanh Hóa. Việc hoàn thành, Lê Quýnh trở về quê tu ở chùa Đại Đồng. Tháng Chín năm Ất Sửu (1805), ông bị cướp đâm chết.


Lợn 


Làng Niệm Thượng (Bắc Ninh), làng Tích Sơn (Vĩnh Yên) có tục chọc tiết, chém lợn ỉ tại sân đình để làm lễ tưởng nhớ thành hoàng làng xưa kia hành nghề... tướng cướp (1)(2)


Chọc tiết lợn giữa tiếng chiêng trống, hò reo có thể kích thích tính hung bạo, gây ảnh hưởng xấu lên đám trẻ con. Tuy vậy, chọc tiết lợn vẫn chưa dã man bằng chém lợn. Đồ tể chờ lúc con lợn bị nhốt trong cũi thò đầu ra ngoài thì lập tức khua dao, chém một nhát thật ngọt! Chém lợn gợi nhớ cảnh Bát Lê múa đao chém tử tù trong Bữa rượu máu (còn có tựa khác là Chém treo ngành) của Nguyễn Tuân. 


Miền Nam cũng có heo ỷ (Tự vị Huỳnh Tịnh Của). Nhưng heo ỷ của miền Nam không bị chém để tế thần, lại còn được hân hạnh tham dự vào lễ cưới, được chú rể mang biếu bố mẹ cô dâu (Từ điển Génibrel). 


(Nguyễn Dư)

 

(1) Ngô Tất Tố, tập 2, Tập án cái đình, Văn Học, 1977, tr. 159. 
(2) Toan Ánh, Hội hè đình đám, quyển hạ, tr. 60. 


Ba Giai Tú Xuất là ai?

Vài nét về nhà văn Nguyễn Nam Thông

Nhà văn Nguyễn Nam Thông tên thật là Nguyễn Xuân Thông quê ở làng Động Dã, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cách làng Tú Xuất không xa. Trong sách Lược truyện các tác gia Việt Nam của hai tác giả Nguyễn Văn Phú và Tạ Phong Châu thì Nguyễn Nam Thông sống vào khoảng 1893 – 1945. Nhưng theo nhà báo Bích Ngọc, con gái nhà văn, ông sinh năm 1906 trong một gia đình nhà Nho. Năm 1937, Nguyễn Nam Thông làm chủ bút tờ Đông Tây tiểu thuyết và thường viết tiểu thuyết lịch sử.

Tác phẩm đã xuất bản:

Ba Giai (NXB Tân Dân Hà Nội 1931); Tú Xuất (NXB Tân Dân Hà Nội 1930); Đàn bà dễ có mấy tay (Tân Dân Thư Quán Hải Phòng 1930); Thằng ăn mày giàu nhất tham nhất thế giới (Tân Dân Thư Quán Hà Nội 1930); Trung Nhật chiến tranh yếu nhân (Nhà in Thụy Ký Hà Nội 1938); Vợ lẽ của tôi (Tân Dân Hà Nội 1933)..


(Nguyễn Tý)


Phố Hàng Đào


Tôi (Tô Hòai) cũng được biết cái quang cảnh ngày phiên ở Hàng Ngang, Pho Hang Ngang 1926 - A


(Phố Hàng Ngang)


Hàng Đào thế nào rồi. Nhiều phiên tôi được đi tàu điện xuống phố theo bà tôi, dì tôi. Trẻ con phải ngồi vào xó bậc cửa nhà người ta. Tôi ngồi đấy, cứ việc ngắm nghía. Gian ngoài vuông vắn. Phòng giữa là cái sân con tun hút tối mờ mờ thấp xuống, trên mảnh đất lát gạch vuông lộ thiên lắp kính, cái bể cạn giữa có hòn núi non bộ, cây si uốn giả cổ thụ tý hon. Nắng lên hắt vào cửa. Anh xe trong nhà ra, cầm chiếc sào bằng cái lao màn móc tấm màn cửa vải tây vàng sẫm lên, những người bán lụa tránh nắng chen chúc trong bóng râm quây lại.

Mợ Hai ngồi xếp bằng giữa cái sập. Mợ chít khăn nhung vành dây. Tai đeo hạt ngọc xanh. Cổ quấn dây chuyền vàng, tay mấy tầng vàng ngọc thạch, áo nhiễu trắng, tấm quần lụa trắng tôn người mợ Hai lên thành một ụ lụa, lút vào trong những bó lụa mộc mọi người lấy trong đây ra từng chồng xếp cao lù lù quanh sập, cả dưới mặt gạch hoa.
Người bán lụa ngồi xổm từ ngoài cửa vào kín lối đi. Người đến sau bước rón rén, nói nịnh vu vơ một câu: Nhà lát đá hoa thế này mà được ngả lưng một cái còn mát bằng vạn cái giường thổ tả nhà tôi, các ông các bà ạ. Rồi cúi đầu, đảo mắt nhìn xung quanh. Có người đứng dậy, vào rút đệp lụa nhà mình đặt lên trên hết. Rồi cầm cái quạt lông, khẽ phảy một bên tóc mai mợ Hai. Ý muốn nhắc khéo mợ đo cho nhà cháu trước. Lại quạt thái sư thêm mấy cái. Mấy người ngồi gần đấy nguýt dài ngoảnh đi.

(Chuyện cũ Hà Nội – Tô Hòai)


Phở


Phở mặc nhiên được coi là món ăn “bổ béo” trong tâm thức người Việt. Ngay từ năm 1937, nhà thơ Tú Mỡ từng reo những vần thơ bất hủ ca tụng phở:
“...Phở đại bổ, tốt bằng mười thang thuốc bắc

Quế-phụ-sâm nhung chưa chắc đã hơn gì

Phở bổ âm-dương-phế-thận-can-tỳ

Bổ cả ngũ tạng tứ chi bát mạch...”.


Phở xào được xác định ra đời sau thời kỳ kinh tế khủng khoảng, một sáng tạo ẩm thực độc đáo. Thực sự phở xào như một nét giao duyên ẩm thực Đông Tây đầy quyến rũ. Bánh phở cháy cạnh, thịt bò xào cần tây, hành tây với nước xốt sệt đổ lên trên thật hấp dẫn, lại thêm rau xà lách búp, cà rốt su hào ngâm giấm.


Phở xốt vang, một sản phẩm khác của giao lưu ẩm thực. Thịt bò xắt miếng vuông ướp rượu vang và hầm nhừ chan lên bánh phở. Gia vị châu Âu kết hợp với gia vị châu Á tạo cho phở xốt vang một hương vị là lạ không món nào có được. Tuy không mấy phổ biến nhưng loại phở này đã khẳng định được vị trí trong “menu phở”, ít nhất cũng đã trên 50 năm trải nghiệm.


Phở chua ngọt là một biến tấu khác của phở mà ngày nay đã gần như vắng bóng. Ở Hà Nội, người ta chỉ còn được thưởng thức ở một quán nhỏ khiêm tốn trên đường Lương Văn Can, quãng gần đầu Hàng Gai. Món phở này chế biến bằng thịt xá xíu, dạ dày, đồ lòng (không có dồi) xếp trên bánh phở và rưới nước xốt chua ngọt lên trên. Hơn 40 năm trước phở chua ngọt còn khá phổ biến, ngay đầu ngõ Trung Yên giao với Đinh Liệt hay ngách vào chợ Đồng Xuân người ta có thể thưởng thức nó.


(Nhiều tác giả)


Sài Gòn 1925 


Để minh họa, nhiều báo đã dùng một bức tranh vẽ cảnh trước chợ Bến Thành. Thật ra thì tranh đó chỉ vẽ lại một bức ảnh xưa, và nếu tôi nhớ kỹ thì đó là ảnh chụp năm 1925. 

Sáu mươi hai năm đã qua rồi. 

Di ảnh còn đó, nhưng cái Saigon của năm 1925 thì đã bị xóa mất rồi. Biết rõ cái Saigon 1925 đó, phải là một người may mắn sống lâu lên lão làng. Số người lên được lão làng không phải là ít nhưng đa số còn bị kẹt lại ở nước nhà. Thiểu số đã may mắn đi ra nước ngoài được thì không có viết lách.

Kẻ viết bài nầy thấy mình có bổn phận kể chuyện đời xưa vì được hai cái may là lên lão làng và có viết lách, tức là nhân chứng bằng lòng cung khai những gì mình biết.


Chuyện đời xưa mà ít xưa như thế, có đáng kể hay chăng, và hiện có ai buồn nghe hay chăng? Chắc cũng có một số người muốn nghe chớ sao lại không, nhứt là bức tranh mà báo cứ đăng đi đăng lại mãi, đã gợi tò mò rất nhiêu người, vì hai loại xe có vẻ kỳ khôi, đã có mặt trong tranh. Loại xe thứ nhứt, do người kéo, không lạ bao nhiêu. Đó là “Xe kéo”, mà những cụ gốc người Bắc, di cư vào Nam năm 1954, đã thấy rồi ở Hà nội trước 1945. Nhưng các bạn trẻ gốc Hà nội, gốc Saigon thì chẳng hề thấy thứ xe đó. 


Loại xe thứ nhì, thì chắc chẳng mấy ai thấy bao giờ. Sai Gon - 1

Đó là loại xe ngựa mà thùng xe vuông vức giống loại thùng của ô tô kiểu Limousine năm 1930.


                                  (Xe ngựa thùng)


Saigon đã đặt ca dao cho loai xe ấy, và nó rất “nổi danh tài sắc một thời” chớ không lơ mơ đâu.


(Sài Gòn xưa in ít – Bình Nguyên Lôc)


Văn hóa ẩm thực


Thịt cầy Sài Gòn: 36 nẻo


Trong giới sành thịt chó tại miền Trung và Sài Gòn, nhiều người hay nói đến quán Mộc Tồn trên đường Ông Ích Khiêm ở Đà Nẵng, nơi lưu dấu của nhiều văn nhân nghệ sĩ nổi tiếng ngày trước. 


Trong hành trình vào Nam, khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ trước, chủ nhân của Mộc Tồn ngày nay chọn Đà Nẵng làm nơi dừng chân, với bản sắc độc tôn của cầy Nam Định trên 100 năm, cộng với “công thức” Nhật Tân, Mộc Tồn Đà Nẵng trong suốt một thời gian dài (khoảng 40 năm) đã giữ vai trò độc tôn gia vị về 7 món tại khu vực miền Trung, nhiều sinh viên Đại học Đà Nẵng (sic), hay khách vãng lai một lần tạt ngang đều nhận về cho mình một ấn tượng. Nhiều người còn gọi Mộc Tồn là Đệ nhất giang hồ cầy quán. Ngày cao điểm, vừa bán vừa bỏ mối cho các quán khác, Mộc Tồn Đà Nẵng đã 'chuyển vế đổi dấu' cuộc đời khoảng 20 đến 30 con chó.

Và cái tinh thần mộc tồn từ phương Bắc ấy cứ vậy chuyển di khắp miền Trung, Tây Nguyên, vào Hố Nai, Biên Hoà rồi đến Sài Gòn, qua miền Đông, xuống miền Tây và cả Cà Mau. Rộ lên từ sau 1975, khi cơ hội lịch sử làm cho nhiều cư dân không phải là Công giáo cũng lên đường tìm kế sinh nhai... Ngày nay Sài Gòn là chốn ngụ cư, chung sống nhiều bản sắc, nhiều nhóm dân, nên thịt cầy cũng ra sức nở rộ. Người ăn thịt cầy ngày nay không nhất thiết phản ánh bản sắc gì, đạo gì, Bắc-Nam-Trung, ai thích uống rượu, và thích tìm món khoái khẩu, ngon, bổ rẻ… thì mời vào. 


Ngày trước, vua Càn Long vi hành phương Nam, ăn được miếng thịt chó ngon sau nhiều ngày rượu thịt ê chề, ông đã phong nó là 'vương nhục' (vua của các loại thịt), và sau này, khi chỉ đạo việc biên soạn sách về ẩm thực phương Nam, ông vẫn đặt thịt chó ở vị trí đặc sản đặc dị.

(Lý Đợi


Địa danh vùng phụ cận Sài Gòn


Tên cầu, tên rạch nào đó có từ “Bà” rất nhiều. Như: rạch Bà Bướm (có tên từ 1902)Bà Cả Bảy, Bà HomBà Tà, Bà Lài, Bà Hồng, Bà Lát, Bà Nghiêm, Bà Chủ, Bà Tàng, Bà Thiên, Bà Tiếng, Bà Xếp, Bà Khắc (chiếc cầu xưa ở vùng Cầu Kho)Bà KýBà Lài, Bà Chiểu, Bà Đô, Bà Thuông, Bà Nhuận, v…v…


Bà Điểm là tên một bà chủ quán nước chè vùng Hóc Môn. Còn Da bà Bầu là bà tên Bầu bán nước dưới gốc…cây da (đa).


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam - Hồ Đình Vũ)


Cúng ông tổ thầy thuốc


Ông nội tôi là thầy thuốc đông y nên ông có thờ ông tổ thầy thuốc trên trang ở giữa nhà, thờ chung với ông Táo. Ông nói là vậy nhưng nhìn lên ‘’trang’’ tôi chỉ thấy một bài vị viết bằng chữ Nho. Việc cúng rất đơn giản. Tới ngày cúng, ông tôi bày:

. Đèn, nước

. Một dĩa bánh

. Một dĩa trái cây

Ông lên đèn, đốt nhang, đứng trước trang vái lâm râm một lát rồi cắm nhang vào lư nhang.

Độ năm mười phút sau, ông cúng nước và tắt đèn, thế là xong. 


Sau khi ông nội tôi qua đời, ba tôi cho rằng mình không làm nghề thuốc nữa nên bỏ “cái trang(1) đi như vậy là bỏ luôn việc thờ ông Táo ở trên trang nữa.


(Phạm Hữu Nghĩa)


(1)  Trang có mái, thường để ở ngòai trời

       Không có mái gọi là bàn thiên


Khi văn thi nhân đong thóc


Trời mưa, sắn ống cao quần

Hỏi cô bán thuốc nhà gần hay xa

Thân anh đã xác như vờ

Đồng cân xin chị cho già chớ non

(Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu)


Cà phê phin hay cà phê “nồi trên cốc”


Dòng cà phê… vớ, cà phê kho lững lờ trôi như thế hằng thế kỷ của thiên kỷ trước là như thế, cứ vào tiệm hủ tíu mà uống cà phê đổ ra đĩa rồi sì sụp húp thì được xem như đó là phong cách của dân chơi sành điệu. Một người tên ông Chín “cù lủ”, một tay bạc bịp nay đã hoàn lương cho rằng dân cờ bạc, dân giang hồ hồi đó chẳng đời nào bưng ly mà uống như ngày nay. Kẻ ngồi nghiêm túc, nâng ly lên uống như uống rượu bị các đàn anh “húp” đĩa xem khinh bằng nửa con mắt, coi như hạng… “bột” lục hục thường tình không đáng kết giao.


Nhưng rồi cái quan điểm húp cà phê trên đĩa mới… “sang” cũng đến lúc phải lụi tàn, vì bị chê là kiểu uống bẩn, uống thô vụng khi trào lưu cái phin “filtre” bắt đầu xuất hiện và đã làm biến dạng cái kiểu uống cà phê trong tiệm hủ tíu.


9-ca-phe-sg-6

Vào thập niên 60, nhà hàng Kim Sơn (nằm trên góc Lê Lợi – nguyễn Trung Trực) mở cú đột phá ngoạn mục bằng cách bày bàn ghế ra hàng hiên dành cho các văn nghệ sĩ trẻ chiều chiều ra đó bàn chuyện văn chương và… rửa con mắt. 


Mặc dù chủ quán Kim Sơn lúc đó là người Hoa nhưng đã tiếp thu phong cách cà phê hè phố của dân Paris. Thuở ấy đường Lê Lợi vẫn còn những hàng me. Vào những ngày me thay lá, dưới ánh nắng chiều phớt nhẹ, lá me vàng khô rơi tản mản như hoa “com-phét-ti” lấp lánh làm đường phố trở nên “mộng mị” và thơ…

Kim Sơn biết tận dụng ưu thế chiếm lĩnh một góc ngã tư, tầm nhìn rộng bao quát để khai thác dịch vụ cà phê hè phố. Cái phin đã trở nên quen thuộc, cao cấp hơn cái vợt, cái vớ của cà phê kho trên cái siêu đất “phản cảm” xưa.


(Thú vui tao nhã của người Sài Gòn – Khuyết danh)


Từ cuộc di dân của người Việt cổ Đông Nam Á đến sông nước miền Nam 


Ông Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Chu bổ vào làm kinh lược sứ miền Nam. Tiếp đến chúa Nguyễn Phúc Tần, (đời chúa thứ 4) đưa dân vào Quảng Ngãi lập nghiệp. Năm 1679, hai tướng nhà Minh là Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Định đem 3000 quân xin tị nạn. Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) cho Dương Ngạn Định vào miền đồng bằng Củu Long khai khẩn đất hoang mới có Nam kỳ lục tỉnh (xem 2 kỳ tới). Nhà chúa cho Trần Thượng Xuyên vào Cù Lao Phố, nhờ Trần Thượng Xuyên và Kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh mới có Chợ Lớn, Sài Gòn ngày nay.


Bởi thế ở Chợ Lớn, đình Minh Hương Gia Thạnh ở đường Trần Hưng Đạo (trên đường Trần Hưng Đạo thuộc Chợ Lớn). Làng Gia Thạnh của người Minh Hương có ngôi đình cổ nhất Sài Gòn, xây năm 1789. Trong đình, bên phải thờ Trần Thượng Xuyên, bên trái thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Người Minh Hương thờ hai ông, vì đã giúp họ có nơi chốn để sinh cơ lập nghiệp ở Cù lao Phố. Ông biến vùng đất hoang sơ thành một thương cảng vào bậc nhất phương Nam thời ấy. Khúc sông Đồng Nai ở Cù lao Phố từ đó được biết với tên mới: Sông Phố nằm trên Cù Lao Rùa. Người Minh Hương tiên khởi dựng lên Cù lao Rùa như một thành phố thu nhỏ: Bởi thế cũng có hai, ba phố, dăm ba tiệm mì, tiệm cao lâu và chả thể thiếu tiệm chạp pô, tiệm thuốc Bắc. Từ đó, Nguyễn Hữu Cảnh định cương giới, lập xứ Sài Gòn là huyện Tân Bình sau này.


Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức viết: ”Trần Thượng Xuyên chiêu tập người Hoa đến kiến thiết phố xá mái ngói tường vôi, lầu cao, quán rộng, dọc theo bờ sông Đồng Nai dài 5 dặm, chia và vạch làm 3 đường phố, đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lát gạch xanh, đường rộng bằng phẳng, kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đến đậu, ấy là một chỗ đại đô hội nhất hơn thảy những nơi khác". Năm 1822, khi người Anh ỏ Bengal (Ấn độ) gởi ông John Crawfurd vào Gia Định, ông cho hay: “Nếu cảng Cù Lao Phố vẫn còn thì đây là khu phố cổ thương mại thứ hai ở Việt Nam sau phố cổ Hội An”.


Vĩnh An hầu Nguyễn Hữu Cảnh


Trong khi Kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh được người miền Nam thờ ở Rác Gầm, Mỹ Tho, nơi ông mất vì bị bệnh thổ tả. Quan tài mang về quàn tại dinh Trấn Biên, sau đưa về an táng ở Quảng Ninh đất quê ông. Trên Cù lao Rùa ở Cù lao Phố, cư dân lập “mộ gió” cho ông và dựng bia ghi công ơn vị công thần đã khai phá miền Nam, chúa Nguyễn phong ông là Thượng đẳng thần hòang. Tại Quảng Ninh quê ông ở Quảng Bình, ông được thờ trong nhà thờ (vì ông theo Công giáo)


Số là định tống táng bài khảo chữ Cua cáy phiếm lược vào tàng kinh các. Hiểu vụng là cứ phiếm này, phiếm kia để kéo dài bài viết đến…vô định sao? Nói cho ngay, chỉ còn 3 tấm ảnh có con cua nữa là xong. Là xong cái ngiệp đắp chữ vá câu.

 

 king crab_1   cua hoang de alaska (7)   golden king crab


 Blue King Crab              Red King Crab           Golden King Crab


Ẩm thực miền Bắc


Nem nắm Giao Thủy, Nam Định


Nem nắm trông có vẻ đơn giản nhưng thực tế để làm được món nem nắm Giao Thủy cũng rất cầu kỳ ở khâu chế biến. Thịt lợn làm nem phải là thịt nạc mông ngon, cùng thính ngon được làm từ gạo tám thơm Hải Hậu, Nam Định.


Để làm thính cần dùng gạo tám thơm ngâm qua đêm, vớt ra để ráo nước, đem gạo rang tới khi có màu vàng ngà, giã mịn ra thu được thính gạo. Lấy thính gạo trộn cùng thịt đã được chế biến mới tạo nên được món nem thính Giao Thủy ngon nức tiếng.


Món đặc sản vùng đất Nam Định này khá cầu kỳ  ở khâu chế biến, cũng chính vì thế mà người làm nem giỏi cũng thuộc vào dạng nghệ nhân, được ca tụng với danh xưng “tay nem, tay chạo”.



Nem nắm Giao Thủy (Nam Định)


Một cuốn nem nắm Giao Thủy đầy đủ và thơm ngon sẽ gồm có tấm lá sung làm nền, thêm đinh lăng, lá mơ, ngọn húng, chút nem rồi ăn kèm với nước chấm Sa Châu.


(Khuyết danh)


Nguyễn Tất Nhiên, bao năm tình lận đận


T.N:Trường hợp nào thơ Nguyễn Tất Nhiên gặp Phạm Duy ?

N.T.N: Tình cờ, khá tình cờ. Hãy xem là “duyên văn nghệ” giữa một già một trẻ.


T.N: Nguyễn Tất Nhiên có in một tập thơ ?

N.T.N: Vâng, tập Thiên Tai, năm 1970, ngồi lớp 12B. Tôi nhớ rằng mình đã bỏ học gần trọn năm với tập thơ này, chỉ vì Duyên. Tập thơ vừa in xong thì bão lụt miền Trung ầm ầm, quả là Thiên Tai ! Nhân đây, tôi muốn nhắc đến hai người ơn. Anh Đinh Cường đã đem tên Đinh Cường của mình ký hẳn hoi lên bìa “chùa” vẽ cho thằng con nít tôi, hồi đó. Cha Lê Hoàng Yến, giám đốc trường trung học Khiết Tâm – Biên Hòa -  đã tận tình giúp đỡ, thương mến tôi, trong khi, chính những thầy tôi lại lơ là, khi dể.


T.N: Tại sao tập thơ tình lại có nhan Thiên Tai ?

N.T.N: Người tình là Thiên Tai. Ngày xưa tôi nghĩ vậy !


(tuần báo Tuổi Ngọc phỏng vấn)


         Sực tắc

         

Sực tắc mày rao đã điếc tai

Tiền thì không có biết vay ai

Hay mày bán chịu tao vài bát

Có tiền tao trả một thành hai

(Tản Đà)


Phỏng vấn nhà văn Song An Hoàng Ngọc Phách

(Trích từ cuốn sách Cuộc phỏng vấn các nhà văn của Lê Thanh

do nhà Đời Mới xuất bản tại Hà Nội năm 1943)


Câu chuyện của chúng tôi chưa hết.

Trong mẩu giấy ghi những câu hỏi của tôi còn đến hai, ba điều... tiên sinh còn đang giả lời cho chúng tôi tại sao sau tiểu thuyết Tố Tâm, tiên sinh không viết nữa...


- Câu ngài hỏi đã có nhiều người hỏi tôi rồi. Có bạn cho rằng tôi đã được hoan nghênh ở quyển Tố Tâm, sợ viết quyển khác không được bằng quyển ấy chăng. Sự thực không phải thế. Sau khi ở trường ra, đi làm ít thì giờ quá. Khi mình đi học, cứ tưởng sau này ra đi làm sẽ có nhiều thì giờ. Khi đi làm thì nào chức vụ, việc gia đình... túi bụi, không mấy lúc có thì giờ để nghĩ đến một việc công phu hàng tháng. Thứ nhất là chúng tôi ở tỉnh nhỏ, có nhiều cái bất lợi cho sự làm văn. Muốn khảo gì, sách thiếu; xung quanh mình, bạn bè không có chí hướng như mình, không có người khuyến khích. Ngoài ra lại còn việc xã hội, mình đã có chút địa vị, không mấy việc mình có thể bỏ qua... Vả chăng sức yếu, làm việc thường đã thấy mệt, nên cũng nản viết văn. Những bài tôi viết sau này là ở các bạn bắt buộc, nhất là bạn Hoàng Tích Chu với tờ Đông Tây ngày trước.


Tiên sinh còn đang nói thì một chứng cớ đột nhiên đến cho tiên sinh: một nhân viên của “hội Truyền bá học quốc ngữ” ở Hà Nội sang đề nghị với tiên sinh lập một chi hội ở Bắc Ninh. Nghĩ rằng tôi ở lại có thể biết thêm được ít điều nhưng chưa chắc đã ích gì cho mọi người, mà trái lại, làm bận tiên sinh trong công việc lập chi nhánh “hội Truyền bá học quốc ngữ”, một công việc xã hội mà ảnh hưởng tốt cho văn chương Việt Nam, ngày nay chưa ai có thể lượng được. Tôi xin phép ra về.


(Lê Thanh)


Năm 1943, nhà phê bình Lê Thanh (1913-1944) có phỏng vấn 8 nhà văn, nhà nghiên cứu vào thời điểm đó, là Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Đôn Phục, Ngô Văn Triện, Hoàng Ngọc Phách, Vũ Đình Long, Tú Mỡ và Đào Duy Anh. Sau ông in thành cuốn sách có tựa đề “Cuộc phỏng vấn các nhà văn” do Nhà xuất bản Đời Mới, Hà Nội, ấn hành năm 1943.


Đây là cuốn sách không chỉ thể hiện phong cách phỏng vấn hiện đại, chiều sâu của Lê Thanh mà là nguồn tư liệu quý cung cấp những thông tin rất chuẩn xác về cuộc đời, sự nghiệp cũng như nhận định của các nhà văn được phỏng vấn về thế cuộc và văn chương, lịch sử lúc bấy giờ.


Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ


Kiếp nghèo một nắng hai sương

Lối về xóm nhỏ cuối đường cầu tre

Rung rinh hẹn thề đêm trăng

Nắng chiều khói toả lều tranh


(Sưu tầm từ VMQH)


Phở Dậu


Ông Kỳ là thực khách đình đám của phở Dậu nhưng còn có những thực khách khác, cũng đình đám vậy. Như ông Trần Minh Công. Ông này là bạn học với tôi tại Chu văn An. Ông đi du học bên Úc rồi về gia nhập ngành cảnh sát. Ông đóng tới lon đại tá và giữ chức Viện trưởng Học viện Cảnh sát Quốc gia. Theo một ông dân cư xá Công Lý từ năm 1955 đến 1988, nơi có phở Dậu, thì “tôi thấy có ông Trần Minh Công tới ăn có ba bốn xe cảnh sát hộ tống”. Mỗi lần tôi qua Cali, ới nhóm bạn học cũ, ông Công luôn có mặt đầu tiên. Trước khi viết bài này, tôi có hỏi một số bạn quen trong đó có ông Trần Minh Công về chuyện phở Dậu, nhưng không thấy ông ấy trả lời chi. Một ông bạn khác cũng ở Cali là ông Phạm Phú Minh, nghe tôi nói tới phở Dậu, đã mail: “A, phở Dậu! Nơi chốn cũ, khung trời cũ, khẩu vị cũ!”. 


Nhà báo Nguyễn Đạt của báo Người Việt Cali ghi lại: “Ngày đó, bà Dậu luôn vui vẻ và ân cần với những thực khách quen thuộc, đặc biệt thực khách vốn là văn nhân nghệ sĩ. Biết cha đẻ tiểu thuyết “Loan Mắt Nhung” – nhà văn Nguyễn Thụy Long – mỗi khi ăn phở ưa trộn thêm chén cơm nguội khi tô phở đã vơi, bà Dậu tự động mang chén cơm nguội, kèm thêm chén nước lèo cho nhà văn ăn khỏe này. Hay diễn viên điện ảnh Huy Cường, chàng biệt kích bụi bặm trong phim “Xin Nhận Nơi Này Là Quê Hương,” ưa gọi thêm một chén tái tiết, nên bà Dậu luôn làm một chén tái tiết đặc sắc mà không tính thêm tiền”.


(Song Thao)


Sài Gòn: Hành trình ẩm thực 

 

I – Chương… khai vị


Với bất cứ mục đích nào khi trở lại Sài Gòn, ta cũng phải… ăn, phải uống. Văn chương phóng sự gọi là đớp hít.  Còn văn vẻ hơn, bây giờ người ta gọi là đến với nền văn hoá ẩm thực. 


(nghêu hấp)


Nhưng muốn thưởng thức đầy đủ những món khoái khẩu của một thời nào đó trước khi sống đời tỵ nạn, chắc chắn không đâu bằng Sài Gòn, mặc dù cũng những món đó có phần khác biệt so với sự tưởng tượng, do những “biến tấu” trong vấn đề pha chế. Không ít người đã tỏ ra thất vọng khi tìm lại đúng tiệm xưa, quán cũ nhưng cách biến chế đã thay đổi theo thời gian nên không còn tìm lại được hương vị ngày nào. 


Trước khi cùng người viết  thực hiện một chuyến “hành trình ẩm thực” dài 2 tháng ở Sài Gòn, không gì bằng điểm qua một số vấn đề được gọi là vài món ăn chơi sau đây. Đó là những thắc mắc người viết đã nhận được từ nhiều độc giả sau khi đã thực hiện những cuộc “hành trình ẩm thực” vào năm ngoái, cũng như vào đầu năm 2004 vừa qua…


(bút ký Trường Kỳ 1)


Góp nhặt cát đá bên đàng


Câu dân gian truyền khẩu:

Bao giờ thằng ngốc làm vua, cha con nhà Nguyễn bỏ chùa ra đi.


Chiết tự chữ ngốc và chữ nhân là chữ bảo: Ám chỉ…Bảo Đại.


(Nguyễn Hữu Nhật – Tiếng Việt hay quá)


Bát phở không người lái

(Kỷ niệm về thời bao cấp)


Song niềm hạnh phúc vô bờ của tôi không dừng ở đó. Hôm ấy chính chị là người đứng quầy, chế từng bát phở rồi đẩy qua một cái khay nhôm. Chúng tôi xếp hàng đứng bên ngoài quầy, thò tay qua cái lỗ tò vò, trao cho chị miếng tích kê nhỏ làm bằng tôn mua ở trước cửa mậu dịch rồi nhận lấy bát phở bưng ra bàn ngồi ăn. 


Khi đến lượt tôi, chị tỏ ra ưu ái hơn đối với những người khác là tự tay đẩy một bát phở đến cho tôi. Cảm động quá, thậm chí tôi còn cảm thấy hình như chị nháy mắt với tôi một cái rồi mới nhẹ nhàng quay mặt đi chỗ khác.

Bát phở không người lái hôm đó cũng vẫn ngon lành như mọi khi. Tôi đã cố tình ăn thật chậm, cốt kéo dài cái sự sung sướng không mấy khi có được như thế này. Khi ăn đến miếng cuối cùng, tôi bỗng bàng hoàng phát hiện có một miếng thịt được dấu dưới đáy bát phở. Đích thị đây là ân huệ mà chị người làng quý hóa đã dành cho tôi.


(Phạm Lưu Vũ)


Chữ nghĩa làng văn


Tố Như


Sáng hôm đó tôi đến gõ cửa sớm nhà Giáo sư Võ Thu Tịnh ở Paris. Tác giả nhiều sách giáo khoa miền Nam. “Bác Tịnh ơi, tra giùm với cháu chữ Tố Như “. Giáo sư Võ Thu Tịnh ngẩn người: Tố Như là tên tự Nguyễn Du tra làm gì ? 

Nhưng rồi bác Tịnh cũng tra tự điển Thiều Chửu và các tự điển khác: Tố là tơ trắng, là người phẩm hạnh cao quý, Như là như thế, như vậy. Vậy thì câu: Bách tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như, chỉ có nghĩa: Ba trăm năm lẽ nữa, thiên hạ ai người khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.


Thì ra năm 1804 Nguyễn Du làm tri phủ Thường Tín, vợ mất, tìm về Cổ Nguyệt Đường, mong gặp Hồ Xuân Hương để nối lại duyên xưa, thì Hồ Xuân Hương đang làm lẽ Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà. Nên Nguyễn Du đứng bên song cửa Cổ Nguyệt Đường viết bài Độc Tiểu Thanh Ký gửi Hồ Xuân Hương. 


Vì vậy Tố Như không phải tên tự Nguyễn Du.


Tiệm nước


Món ăn chánh của tiệm nước ngoài bánh bao, xíu mại, dầu cháo quẩy, mì và hủ tiếu. Xíu mại hình tròn nhân thịt xay sốt với cà hấp hoặc chiên. Bánh bao vỏ bằng bột mì và có nhân thịt và một phần tư cái hột vịt với miếng lạp xưởng bỏ tỏng xương hấp hoai cho nó nóng. Trên đầu cái bánh bao có chấm đỏ như cái ‘nhũ hoa’ trắng phích có điểm hồng rất hấp dẫn, nhìn là muốn cắn. Té ra trong đầu óc chú Ba luôn bị ám ảnh về tình dục. Hèn chi dân Tàu lên tới 1.42 tỉ người đông nhứt thế giới. Nên ở đâu có khói bốc lên trời là ở đó có người Tàu! Thiên hạ nói đâu có sai!


Ông Vương Hồng Sển, người Tiều Sóc Trăng, trong “Sài Gòn năm xưa” gọi hủ tiếu là “củi tíu”.  Củi tíu là bánh bột cọng nhỏ. Ngày xưa, củi tíu nấu theo kiểu người Tiều có tôm tươi lột vỏ, chả cá, gan heo, bao tử luộc ram lại gọi là phá lấu, chút thịt gà, thì gọi củi tíu cá gà, hoặc vài miếng thịt heo thì gọi củi tíu thịt.


Hủ tiếu tô lớn thì gọi tố phảnh, tô nhỏ ít bánh thì gọi tái phảnh, tức nửa tô.


(Đoàn Xuân Thu)


***


Phụ đính 


Tu sĩ Từ Mẫn và nhà xuất bản Lá Bối


Tưởng cũng nên nhắc lại ông Võ Thắng Tiết chính là tu sĩ Từ Mẫn, giám đốc nhà xuất bản Lá Bối trước kia. Sau năm 75 dù không muốn ông cũng phải trở về đời sống bình thường. Năm 1980 ông vượt biên cùng chuyến tàu với gia đình nhà văn Nhật Tiến. Khi đến Mỹ ông chọn nghề làm cua ở Alaska ba, bốn năm, rồi tích lũy vốn liếng trở về Cali dựng nhà xuất bản Văn Nghệ. 


Phải nói ông Võ Thắng Tiết là một trong những người có công đầu. Bởi lẽ nếu không có bệ phóng của nhà xuất bản Văn Nghệ, thì có thể giờ đây rất nhiều tác gả ở hải ngoại vẫn còn chìm trong bóng tối. Gần hai chục năm sau khi hoàn cảnh buộc phải ngưng hoạt động, nhà xuất bản Văn Nghệ còn tồn lại một kho sách, với mấy trăm đầu sách văn chương và biên khảo. 


(Hòang Khởi Phong) 


Vẽ tranh khỏa thân


Tôi nhớ hồi xưa, ông họa sĩ Nguyễn Gia Trí khi muốn vẽ tranh phụ nữ khỏa thân, đã không ngại thuê ngay mấy cô ca-ve có thân hình đẹp làm mẫu. 


Và sau này, khi ông Nguyễn bị lưu vong qua Trung Quốc với Nhất Linh những năm 30, 40, tại đây, đã gây ra một dư luận xôn xao, vì đã nhờ nhà văn Nguyễn Thị Vinh ngồi làm mẫu khỏa thân nửa người. Đây chẳng qua là một lần vẽ thương mại, bán cho một người ngoại quốc muốn mua tranh phụ nữ khỏa thân, để kiếm tiền nuôi mọi người thôi. 


(Duy Lam: "Thân hình khỏa nữ với tôi…" – Lê La)


MỜI XEM :


CHỬ NGHĨA LÀNG VĂN Kỳ 1/5/2026 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng





 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét