22 thg 3, 2026

PHIẾM LUẬN VỀ TÊN NGƯỜI - Kha Tiệm Ly


 1. Với giới bình dân.

Mỗi người ai cũng có cái tên, coi như là một ký hiệu để phân biệt người nầy với người khác.
Với giới bình dân, cái tên chỉ là... cái tên, nên thật đơn giản; nó theo người ấy suốt cả cuộc đời từ khi cha mẹ sinh ra. Khi sinh ra, hồi xưa ông bà thường tin dị đoan nên tạm đặt cho đứa trẻ một cái tên nào đó, tương đối "xấu" hoặc nghe có vẻ tục tĩu để cho người khuất mặt khuất mày đừng "quở"! Cho đến khi đầy tháng, họ mới đặt tên thật để làm giấy khai sinh. Vì vậy, đám đầy tháng còn gọi là "đám đặt tên".
Trước khi đặt tên con, cha mẹ phải tránh sao đừng trùng tên với ông bà cô bác họ hàng cả hai bên nội ngoại. Nếu trùng tên, sẽ bị cho là vô phép, hỗn hào. Ngày nay có phần châm chế hơn, chỉ tránh tên ông bà cố nội ngoại, ông bà nội, ông bà ngoại, chú bác, cô dì; còn anh em họ hàng thì không còn ai "lỗi phải" nữa.
Tên cha mẹ đặt gọi là nhũ danh - tên từ khi còn bú vú mẹ - hay là tên cúng cơm.
Tên cúng cơm, có nhiều cha mẹ chọn khi bà mẹ còn mang bầu, trường hợp nầy thì tên đứa bé thường "đẹp" hay mang ước mơ của vợ chồng như Công, Ngôn, Dung, Hạnh, Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, hay Phát Đạt, Thu Ba, Mộng Xuân...
Có nhiều khi tên không được chọn trước, mà khi nghe tin bà vợ lâm bồn, ông chồng mới "đẻ" ra cái tên tùy hứng, hay để đánh dấu một chuyện buồn vui gì đó trong đời. Bởi vậy đã xảy ra nhiều chuyện buồn cười: Vào mùa mận, thì đặt là Mận, mùa xoài thì đặt là Xoài! Nhìn ra ngoài đường thấy hoa phượng nở thì đặt là Phượng. Có người khôi hài: "May à, nếu nhằm mùa chôm chôm, hay nhìn thấy hoa... cứt heo thì chắc tiêu đời đứa nhỏ!"
Cũng không thiếu trường hợp làm ăn vô một keo nào đó, hay... đánh bài thắng, bại mà tên đứa bé là Hên, hay Xui!
Ngày nay không ít người đặt con theo nhân vật trong tuồng tích, hay những minh tinh màn bạc mà họ yêu thích; đây là hoài bão của họ, mong con mình sau nầy sẽ thông minh đảm lược, hoặc sẽ trở thành ca sĩ, diễn viên nổi tiếng toàn cầu.
Dù thế nào, cái tên vẫn là cái tên, nó không thể là dung mạo hay bản chất của người ấy được: tên Thông Thái có khi người mang nó là kẻ ngu đần; tên Bạch Tuyết nhưng nước da lại đen như lọ!
Theo dị đoan của người nông dân Nam bộ, nếu đặt tên con theo thứ tự một câu có nghĩa nào đó thì anh em sẽ hòa thuận, đoàn kết nhau như Tuấn Tú Thông Minh; Tôn Sư Trọng Đạo; Tâm Can Tì Phế Thận. Điều nầy có khi xảy ra nhiều chuyện buồn cười khi bà mẹ "ngưng ngang" nên câu "có nghĩa nào đó" cũng bị bỏ dở nửa chừng, có khi trở thành nghĩa khác! Thời nay, mỗi gia đình thường chỉ có hai con, nên không ai dám đặt tên con theo lối nầy nữa, chớ hồi xưa, bà mẹ cứ đẻ thoải mái nên con bầy mười đứa là chuyện quá thường! Dù vậy, đẻ hoài riết cả vợ lẫn chống cũng ngán - vừa ngán đẻ, vừa ngán nuôi - nên đến đứa con thứ... tám, họ bèn đặt tên là Út, với niềm ước muốn là không còn "sàn xuất" nữa! Thế nhưng, năm sau lại lòi ra một trự, đó là Út Ráng, rồi Út Hết; có khi còn chưa chịu hết nên mới có Út Thôi, Út Dứt!
Có vài địa phương ở nông thôn nam bộ, cái tên thường bị người khác gọi nghịch nghĩa với cái tên cúng cơm; chẳng hạn Hai Sáng thì gọi là Hai Trưa, Ba Đúng thì gọi là Ba Sai; hay cố tình cho thêm vào một vài từ nào đó cho trùng tên với một nhân vật trong truyện Tàu; như Minh thì thành Khổng Minh; Bị thì thành Lưu Bị, Thanh thì thành Địch Thanh; Quý thì thành Tiết Nhơn Quý! Hỏi nguyên do, thì ra chỉ "gọi cho vui thôi" chớ không phải cữ kiêng gì hết!
Lại nữa, không thiếu địa phương không gọi tên người đó, mà gọi cái thứ rồi kèm theo nghề nghiệp của người ấy. Thí dụ như Tư Thịt (bán thịt heo), Tư Ba Gác, Hai (lò) Kẹo, Sáu Móng Tay…
Gần đây có nhiều bài viết sưu tầm những tên lạ lùng được ghi trên chứng minh nhân dân hẳn hoi như: Đỗ Phiđencacstrô; Cà Văn Dái; Lò Vi Sóng; Hồ Hận Tình Đời; Trịnh Thị Nôel; Đồng Hồ Thụy Sĩ; Phạm Thị Lâu Ra; hoặc có những tên dài sọc cũng không thiếu tính lạ kỳ: Lê Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhàn; Lê Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Linh Phượng; Lê Hoàng Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhân!
Theo tin các báo, ở Tam Kỳ có người họ Mai bị xã phạt hai ngàn rưỡi vì sinh con thứ ba, tức mình ông liền đặt tên con là Mai Phạt Hai Ngàn Rưỡi
Lấy tên của mười hai con giáp: tí, sửu, dần, mẹo,... đặt tên con để "nhớ tuổi của nó" hay "cho khỏi trùng tên ai" cũng là chuyện thường thấy.
2. Với giới vua quan, trí thức.
Với giới vua quan, cái tên thật lắm rắc rối, và còn bị nhiều kiêng cữ khắc khe.
Đầu tiên là tên húy, tức là tên cha mẹ đặt ra, nhưng không phải là tên cúng cơm như ở giới bình dân. Tên húy nầy luôn bị cữ kiêng, gọi là kỵ húy, hay kiêng húy, nhất là với vua chúa, chẳng những tên húy mà tiếng (chữ) đệm/ lót, càng phải được cữ kiêng triệt để, nếu không thì coi như bị phạm trọng tội. Xưa kia, trong cuộc thi cử, thí sinh chẳng những cần phải học thuộc lòng tên vua, tên hoàng hậu, và tên hoàng thân quốc thích; vì đó là một trong những "trường quy" mà thí sinh phải tránh nếu không muốn bị phạt nhục hình và tất nhiên bị đánh rớt!
Cũng vì sự kiêng húy nầy mà hàng trăm từ âm chánh Hán Việt bị đọc trại ra riết thành quen và thành... "đúng"! Và đến giờ nếu ai đọc đúng âm chánh thì sẽ bị coi là sai: Lanh lị/ lanh lợi; nhậm kỳ/ nhiệm kỳ; thì gian/ thời gian... (Âm trước là âm chánh)
Theo Wikipedia: "... Lệnh kiêng húy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được ban hành tháng sáu năm Kiến Trung thứ tám (1232) dưới thời Trần Thái Tông. Vua nhà Trần biện lẽ là ông tổ nhà Trần tên là "Lý" nên ai tên họ là Lý phải cải danh. Lệnh vua đã ban thì thần dân phải thi hành; và đương nhiên con cháu nhà Lý phải từ bỏ gốc gác họ hàng của mình để được tồn tại. Lệnh kiêng húy do vua ban ra để giữ vẻ uy nghi của ngai vàng, kẻ nào phạm húy sẽ bị tru di tam tộc.
Sang triều Hậu Lê, ngày 20 tháng 4 âm lịch năm 1428, sau khi lên ngôi được 5 ngày, Lê Thái Tổ đã ban bố ngay lệnh kiêng húy rộng rãi nhất lịch sử: Kiêng đến nhiều loại húy: quốc húy (gồm chính húy và thường húy), tên húy, gia tộc kính húy và dân gian húy.
Và từ đó đến mãi thời nhà Nguyễn, lệnh kiêng húy tiếp tục duy trì, nhiều thời được áp dụng một cách khắt khe. Do kiêng húy mà những danh nhân đất Việt đã một thời biến âm thành tên khác như Ngô Thì Nhậm (thành Ngô Thời Nhiệm), Phan Châu Trinh (thành Phan Chu Trinh), Châu Thượng Văn (thành Chu Thượng Văn)...
Húy kỵ dưới triều đại phong kiến Việt Nam, đặc biệt Quốc húy dưới thời các vua Nguyễn, khá phức tạp. Húy kỵ đã được nâng lên thành Quốc luật, làm thay đổi một phần ngôn ngữ.
Kỵ húy đối với sĩ tử khi đi thi thì có hai hạng: khinh húy và trọng húy. Khinh húy là phải kiêng tên cha mẹ cô chú của nhà vua. Trọng húy là kiêng tên của vua. Ai phạm khinh húy trong bài thi thì bị đóng gông phơi nắng ba ngày, rồi suốt đời bị cấm đi thi. Phạm trọng húy thì không những thí sinh bị tù mà những thầy dạy học cũng bị phạt vì lỗi đã không chu toàn trách nhiệm giáo dục. Ai đang làm quan mà viết sớ phạm trọng húy cũng bị phạt như giáng cấp. Triều Gia Long luật pháp bắt đánh 80 trượng.
Việc kỵ húy ảnh hưởng không những ở lời nói cửa miệng khi nói trại âm, mà ngay chữ viết, nhất là những công văn chữ Nho phải thay đổi, khi thêm bớt nét, khi thì dùng chữ cận âm hay đồng nghĩa để tránh phạm húy. Cũng căn cứ vào những sửa đổi trong văn tự này mà các học giả sau này có thể thẩm định niên đại của một bản văn dựa theo những cách viết kỵ húy...."
Kế đó là tên tự. Tên tự là ... "tên chữ", là tên do cha mẹ hay tự mình đặt cho mình khi tròn 20 tuổi, gọi là đã "thành nhân"! Đã nói là "chữ" thì không phải muốn đặt sao thì đặt, mà là nó phải có liên quan đến tên húy. " Vấn danh tri kỳ tự, vấn tự tri kỳ danh", nghĩa là hỏi tên chánh biết tên tự, hỏi tên tự biết tên chánh. Nói thì nói vậy, nhưng từ tên tự mà biết được tên húy, hay từ tên húy mà biết được tên tự của người nào đó thì không phải dễ dàng gì, nên " Vấn danh tri kỳ tự, vấn tự tri kỳ danh" nó chỉ nói lên mối tương quan giữa "húy" và "tự" mà thôi.
Người ta có thể đặt tên tự bằng nhiều cách như dùng một hay nhiều từ của tên tự cùng nghĩa, hay nghịch nghĩa với tên húy; dùng điển tích nào đó liên quan với tên húy... : học giả Bùi Kỷ có tên tự là Ưu Thiên là vì theo và Tả Truyện, có người ở nước Kỷ suốt ngày lo trời sập [ưu: lo; Thiên: trời / ưu thiên = lo trời (sập)]; tác giả Hạnh Thục Ca là Nguyễn Nhược Thị, có tên thật là Nguyễn Ngọc Bích, lấy tên tự là Lang Hoàn. Bích và Lang đều có nghĩa là " (viên) ngọc".
Dù bằng cách nào, tên tự cũng nói lên một phần "trình độ văn hóa" của người đó; vì vậy người đặt tên tự cho mình không thể tùy tiện; cũng vì vậy mà tên tự chỉ có trong tầng lớp trí thức, hàng bình dân thất học không có tên tự. Theo quan niệm xưa, nếu gọi tên húy của một người là vô lễ (là phạm tội, nếu đối với quốc thích hoàng thân như đã nói ở trên), cho nên người ta dùng tên tự để gọi người đó để tỏ lòng tôn kính. Như gọi là Cao Chu Thần thay vì Cao Bá Quát. Nguyễn Tố Như thay vì Nguyễn Du,
Giới trí thức ngày xưa, ngoài danh xưng (tên húy), tên tự, họ còn có tên hiệu.
Tên hiệu hay biệt hiệu là tên do người đó tự đặt ra hoặc do vua ban cho; vì vậy tên hiệu cũng là cách để đánh dấu nơi sinh quán, nơi làm việc, nhưng thường là để biểu lộ ý tưởng, đức tính, chí khí, hay sở thích của mình. Nguyễn Khắc Hiếu lấy hiệu là Tản Đà, vì quê hương cùa ông có "Ba Vì (TẢN Viên) ở trước mặt" và "Hắc Giang (ĐÀ Giang) bên cạnh nhà". Nguyễn Phi Khanh (thế kỷ14) có tên hiệu là Nhị Khê vì ông cư ngụ tại làng Nhị Khê, phủ Thường Tín, Hà Đông. Lý Thường Kiệt được vua Lý Nhân Tông ban cho hiệu Thiên Tử Nghĩa Đệ .
Vua chúa còn có tên thụy. Tên thụy (thuỵ hiệu) hay hiệu bụt hoặc tên hèm là tên do người đời sau (thường là vua kế vị) dựa theo phẩm hạnh, công đức mà đặt cho vị vua, hoàng hậu tiên triều… Tên nầy được khấn vái khi cúng cơm, nên còn gọi là "tên cúng cơm" (khác với giới bình dân, "tên cúng cơm" là tên do cha mẹ đặt ra từ lúc chào đời). Tên thụy có thể từ một vài từ hay rất nhiều từ, Trần Thái Tông được tôn thụy hiệu là "Thống Thiên Ngự Cực Long Công Hậu Đức Hiền Công Hựu Thuận Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Hiếu hoàng đế", có lẽ là thụy hiệu nhiều từ nhứt.
Mỗi vị vua sau khi lên ngôi thường có một hay nhiều niên hiệu riêng. Vị hoàng đế có nhiều niên hiệu nhất là Lý Nhân Tông, với 8 niên hiệu. Niên hiệu có thời gian lâu nhất là Cảnh Hưng (1740-1786) của vua Lê Hiển Tông: 47 năm. Nhà Nguyễn, một triều đại tương đối dài, nhưng mỗi vị vua đều chỉ dùng một niên hiệu duy nhất trong suốt thời gian trị vì của mình.
Tên của vua quá rắc rối, xin miễn bàn tiếp, vì đó là... vua! Còn ở giới bình dân, dù chân lấm tay bùn, dù nhà tranh mái lá thì bậc cha mẹ cũng không nên đặt cho con mình cái tên quá kỳ khôi hay tục tĩu như đã nói ở trên: dù rằng, đó chỉ là ký hiệu để phân biệt kẻ nầy người khác; nhưng cái tên không chỉ đơn giản là để gọi, mà rất ảnh hưởng đến việc học hành và tương lai của đứa trẻ sau nầy.
Thử nhìn lại xem, có ai mang tên quá kỳ khôi hay tục tĩu mà đỗ cao khoa, được làm "ông nầy bà nọ"? Không phải họ thiếu thông minh, không tiếp thu được việc học hành, mà chính vì họ phải bỏ học có khi ngay từ lớp vỡ lòng chỉ vì không chịu nỗi những lời chế giễu của bạn bè cùng lớp, cùng trường!
Cái tên còn cho biết phần nào trình độ hiểu biết (văn hóa) của người đặt ra nó, bởi không ai có ăn học mà đặt tên con kỳ cục, tục tĩu như những tên đã nêu trên; nó cũng như một tác phẩm của nghệ nhân: tác phẩm tồi thì nghệ nhân không thể là người tài hoa được.
KHA TIỆM LY
(Thành viên Wikipedia)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét