5 thg 3, 2026

Chữ nghiã làng văn - Tác giả và Tác phẩm - Kỳ 1/3/2026 - NGÔ Không Phí Ngọc Hùng

                                    Chữ nghĩa làng văn 


“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.


***


Chữ là nghĩa với địa danh


Sông Gianh ở Quảng Bình là ranh giới Đàng Trong, Đàng Ngòai. Tên địa phương gọi là…sông Ranh.


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Một thời để yêu và một đời để trả nợ


Nếu sinh vào tháng nào thì tính cách ứng với loại cây nào?


Theo như có những người sinh vào những tháng khác nhau, cũng sẽ có khí chất, khuôn mẫu khác nhau. Bạn sinh vào tháng mấy, bởi sách Lễ Ký có câu: "Tháng đầu Xuân, đức lớn tại Mộc". Cây cối mọc vào các mùa khác nhau, mỗi mùa đều có tính chất riêng.

Tháng 12, Cây long não

Long não trong rừng sâu, mọc 7 năm mới biết.
Dưỡng dục ba mươi năm, mới thành tài rường cột.
("Ngụ ý thi ngũ thủ" - Bạch Cư Dị).


Gỗ long não rắn chắc, mùi thơm, dùng để xây nhà làm xà nhà, không để sâu mọt có cơ hội ăn mòn. Bạn sinh ra vào tháng 12, là người có tài rường cột. Có thể chịu được sức ép, không sợ phiền phức, hướng về ánh mặt trời, ra sức sinh trưởng.12 - Tháng mười hai - cây long não


(Lý Văn Hàm)


Câu đối


Ra xứ Nghệ, đến quán Hành, uống rượu gừng, chuyện cà riềng cà tỏi.
Đến Đồng Nai, nhớ Kỳ Lừa, ăn thịt chó, ngồi tán vượn, tán hươu

Câu đối


Nguyễn Tử Mẫn, được gọi là Nguyễn Hiệp Hòa (1820-1901) có câu đối đi vào văn học:

Sáng sáng ăn sáng rồi, cầm quyển mới, kỳ cui ký cúi viết vài trương, đoạn thu gương mắt, xếp khăn tay, giắt bút vào tam sơn, ngả lưng ngáy khò khò chờ tối xuống.


Ngày ngày ngủ ngày dậy, vớ câu cũ, phếu pháo phều phào mấy khẩu, đứng dậy ngắm chậu hoa, nhìn cây thế, rê chân đi bách bộ, vỗ tay cười khanh khách đón trăng lên.


Giồng 


Giồng là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới ở Giồng Trôm vùng Ba Tri, Bến Tre :  “Gió đưa gió đẩy, / về rẫy ăn còng, / về bưng ăn cá, / về giồng ăn dưa…”.


Lại nhắc đến một câu hát khác : “Ai dzìa Giồng Dứa qua truông Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em…” Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Luơng ở bên phải quốc lộ 4 là Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này có nhiều cây dứa. 


(Dứa đây không phải là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn). 


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam – Hồ Đình Vũ)


Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương


Hang cắc cớ

Trời đất sinh ra đá một chòm,
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom.
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Con đường vô ngạn tối om om.
Khen ai đẽo đá, tài xuyên tạc,
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm.hoxuanhuong04


Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả


“Dằng: dằng xé; dằng níu”.

(Ts Hà Quang Năng/ Ths Hà Thị Quế Hương)


Viết đúng là “giằng xé”; “giằng níu”.


(Hòang Tuấn Công)


Ca dao


Văn hay chẳng luận đọc dài, vừa mở đầu bài đã biết văn hay


Petrus Ký với địa danh Sài Gòn


Thuyết dưới đây được Petrus Trương Vĩnh Ký đưa ra dựa theo sự "nghe nói" như sau: 
"Sài là mượn tiếng viết theo chữ Hán có nghĩa là củi gỗ; Gòn là tiếng Nam chỉ bông gòn. Người ta nói rằng tên đó phát sinh bởi sự kiện nhiều cây bông gòn do người Cao Miên đã trồng chung quanh đồn đất xưa của họ, mà dấu vết nay vẫn còn ở chùa Cây Mai và các vùng lân cận".Truong Vinh Ky - VT 1


Không biết tại sao mà sau này Louis Malleret và Vương Hồng Sển lại quả quyết thuyết này là "của" Trương Vĩnh Ký, mặc dù ngay sau đoạn này, Trương Vĩmh Ký lại viết tiếp:

"…Theo ý tôi, hình như tên đó là của người Cao Miên đặt cho xứ này, rồi sau đem làm tên gọi thành phố. Tôi chưa tìm ra được nguồn gốc đích thực của tên đó…". Tương tự, có nhiều thuyết phụ theo nói rằng Sàigòn từ "Cây Gòn" (Kai Gon) hay "Rừng Gòn"


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam - Hồ Đình Vũ)


Cha tôi - nhà văn Lan Khai - 1


Thời gian đầu, những tập sách ông viết ở quê hương miền núi Tuyên Quang đem gửi về Hà Nội, các nhà xuất bản có tiếng đều nhận in. Những cuốn sách cha tôi viết ra trong thời gian này, tôi nhớ hình như có các cuốn: Chàng đi theo nước, Vuông vải trắng, Hồng thầu, Cái ám ảnh, Mọi rợ, Mưu thằng Đợi, Lũ quỷ ám, Thằng Gầy... đã được đăng trên các báo Đông Phương, Ngọ báo, Văn học Tạp chí cùng Tiểu thuyết thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san thuộc nhà in của ông Vũ Đình Long. 


Cha tôi có nhiều bạn hữu là người dân tộc thiểu số khác nhau như: Mông, Tày, Dao, Nùng, Cao Lan... Những người áo chàm chân đất ấy đến gia đình tôi trong tình thân thiết. Ông còn tự mình đưa những người bạn không biết tiếng Kinh ấy đi thăm thắng cảnh, phố phường đây đó. Không biết từ ma lực nào mà cha tôi lặn lội khắp các bản làng, buôn soóc của đồng bào các dân tộc thiểu số từ thung lũng đến đỉnh núi mờ sương, vừa dạy chữ cho họ, vừa học tiếng nói của họ vừa khảo cứu phong tục. Cho nên mọi tục lệ hôn nhân, ma chay, cưới xin, thờ cúng, làm nhà... cha tôi biết cặn kẽ từng vùng. Các tục như tục cướp vợ, bắt rể, đưa dâu, chuộc vợ... ông đều chứng kiến. Cha tôi thường dạy chúng tôi và các học trò của ông rằng: “Không có “giống người này giống người nọ” chỉ có loài người cùng một bọc mà thôi!”. 


So với những cây bút cùng thời, cha tôi là người tiên phong thế hiện tư tưởng chả thế mà khi Lầm Than ra đời, lập tức có ngay một bài báo khá dài trên văn đàn Việt Nam với nhan đề: Lầm than, một tác phẩm đầu tiên của nền văn học tả thực xã hội ở nước ta do một nhà báo, thời đó chấp bút viết ra, đăng tải trên báo Dân Tiến số 1, năm 1938. 


Dấn thân vào sự nghiệp văn chương trong hoàn cảnh đất nước là thuộc địa, không khéo có thể bị tù đày. Thế là, cha tôi đưa ra một quyết định táo bạo trong cuộc đời của mình: Bốc cả bầu đoàn thê tử tám miệng ăn với hai bàn tay trắng về nơi phồn hoa đô hội, nơi lắm kẻ đua chen. Quyết định quả là liều lĩnh của một Nhà văn Mán. Thời ấy, giới văn nghiệp thường vui đùa gọi cha tôi như vậy. Trong giới văn bút thời tiền chiến, họ thường cởi mở, chân tình quý văn tài, trọng đức độ, nhân cách cũng như lối sống của nhau, một cách tình nghĩa, trong mối tình bạn hữu. 


(Lan Phuơng)


Chữ nghĩa của một thời chinh chiến 

ở quán cà phê


Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ” 

về thuốc lá xuất xứ từ quán cà phê, như:

Bastos : Bộ anh sợ tôi ói sao


Cha tôi - nhà văn Lan Khai - 2


Cái thời điểm mà cha tôi bốc cả gia đình, vợ con về Hà Thành ấy, hình như là vào năm 1932 - 1933 gì đó, tôi không nhớ chính xác ngày tháng, nhưng nhớ rõ bước chân đầu tiên của mấy đứa trẻ đường rừng được cha mẹ dắt dìu về nơi trọ. Thoạt đầu, mới chân ướt, chân ráo từ núi rừng thâm u tỉnh Tuyên Quang về nơi đô hội, gia đình tôi không khỏi ngỡ ngàng, lạ lẫm, phải chật vật, vất vả, lang thang mãi, nay thuê chỗ này mươi bữa, mai trọ chỗ kia vài ngày, đến là khốn khổ. Đó là cuộc hành trình của tám miệng ăn, không tiền bạc tài sản. Cả gia đình ấy đều trông vào cây bút của văn sĩ Lan Khai. Đồ dùng cũ nát, ăn uống thì bữa đói bữa no, gặp chăng hay chớ, miễn được qua ngày. Còn ngủ thì vạ vật, người nằm, người dựa tường qua đêm mong sao trời chóng sáng, chủ yếu là cho lũ trẻ chúng tôi ngủ mà thôi. Những nơi cho gia đình tôi tá túc ngày ấy đều là những bạn tốt của cha tôi, họ cũng chẳng khá giả gì. Trong cơn bĩ cực đành phải cưu mang, giúp đỡ nhau là may lắm rồi. Chúng tôi còn đòi hỏi gì hơn!

Khoảng gần một tháng sau, nhờ vào uy tín của cái tên trong giới văn chương và độc giả, nên một số anh em tốt bụng đã nhiệt tình giúp đỡ, giới thiệu cho một chỗ ở có thể cố định lâu dài. Đó là căn gác của một ngôi nhà nhỏ ở đầu góc phố Hăng - ri - đoóc - lê ăng. Căn gác nhỏ này diện tích khoảng 20m2. Nó quá cũ và trật chội. Cả một gia đình tám con người, đồ đạc, chổi cùn rế rách lôi thôi... nhưng trong hoàn cảnh bấy giờ phải chấp nhận, miễn là có chỗ ở ổn định để cha tôi có thời gian tâm trí mà sáng tác. Hơn nữa, còn biết làm sao khi mà mình còn nghèo túng. 


Một thời gian sau, bạn bè cha tôi lại giới thiệu một căn nhà gần ngay mặt đường, rộng rãi hơn căn nhà nhỏ chúng tôi đang ở. Nhà tuy một tầng nhưng có hai buồng được kiến trúc theo lối chạy dọc chiều sâu, rất thuận tiện cho sinh hoạt của nhà nghèo đông con. Phía đằng sau còn có một mảnh sân nhỏ, lát gạch vuông Bát Tràng và cả công trình phụ riêng, gồm nhà tắm và nhà vệ sinh. Căn nhà mới thuê này nằm ngay trong phố nhỏ Châu Long, gần nhà in Idéo cũ, có một đường trục ngang chạy sang khu Ngũ Xá. Tôi nhớ lúc đó nó là như vậy, còn bây giờ phố xá thay đổi tôi không biết thế nào. 


(Lan Phuơng)


Thành ngữ từ bàn nhậu sau 75


Sau 75, miền Nam có những câu “thành ngữ” 

về thuốc lá xuất xứ từ bàn nhậu, như
Heineken : Hôn em ít nên em khều, em nhéo..


Huy - 1


Cùng lúc, cuộc đời Huy luôn chứa đựng nhiều mãnh khác nhau. Có những mãnh rõ ràng không ăn khớp. Thế nhưng, trong từng mãnh, Huy sống thật lòng, chơn chất, đôi lúc lặng lẽ nhưng luôn trắng đen rõ rệt. Cái trắng đen rõ rệt đó thường gây tranh cãi, bực dọc với cả những người thân, rất thân. Nhưng, khó ai ghét Huy được. Những ai gần gũi Huy đều biết Huy không hề hưởng ân sủng của may mắn nhưng lại được tình thân đặc biệt của nhiều bè bạn, đồng đội cũ. Rất nhiều trong số này khác tánh Huy, hay ít ra cũng từng “gây gỗ” với Huy. (Hòang Khởi Phong?)


Cái tình thân đặc biệt đó có được do chính con người Huy. Lầm lì. Thỉnh thoảng chửi thề. Thỉnh thoảng nở một nụ cười châm biếm. Thỉnh thoảng nói một câu rất ngắn nhưng đủ để “chọc tiết” người nghe. Tuy nhiên, người gần gũi Huy dù có thể buồn lòng đôi chút vẫn cảm thấy thoải mái, cảm thấy tin cậy. Bạn bè ở xa về chơi, khó có ai không muốn không gặp Huy. Dù ít ai nghe Huy nói về vợ con nhưng những bạn bè rất thân đều biết Huy thương yêu vợ con vô cùng. Dù Huy không sống với cha mẹ từ bé nhưng Huy yêu cha mẹ cũng vô cùng. Đặc biệt là với cha. Tình cảm đó sâu đậm, mãnh liệt. Thế nhưng, những vết hằn của thân phận vẫn rõ nét trong tâm tư, khiến nhữn biểu lộ tình cãm thường lững lờ. Với bạn bè cũng thế, với người thương yêu cũng thế. Có thể có người cho là hời hợt. Thật ra, không phải. Tôi muốn ghi lại đây chút tâm tình của Huy, trích từ tác phẩm Cây Tùng Trước Bão của Hoàng Khởi Phong. Chỉ một chút nói về cha, nhưng qua đó, ta có thể hiểu con người toàn diện của Huy như thế nào.


(Trương Vũ)


Tiểu sử CaoXuanHuy_thumb

Sinh tháng 9.1947 tạii Bắc Ninh. 

Mất ngày 12.11.2010 tại California.


Tác phẩm

Tháng ba gẫy súng, Vài mẩu chuyện 

và một số truyện ngắn


Chữ nghĩa của một thời chinh chiến 

ở quán cà phê


Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ” 

về thuốc lá xuất xứ từ quán cà phê, như:

Bastos  : Biết anh sướng tôi ôm sát


Huy – 2


Tôi muốn ghi lại đây chút tâm tình của Huy, trích từ tác phẩm Cây Tùng Trước Bão của Hoàng Khởi Phong. Chỉ một chút nói về cha, nhưng qua đó, ta có thể hiểu con người toàn diện của Huy như thế nào.

“… Ngày xa đất Bắc tôi mới có sáu bẩy tuổi gì đó, chưa gặp mặt cha. Cha con xa nhau gần ba mươi năm mới gặp lại lần đầu. Tôi từ nhà giam ở Bình Điền mò ra, năm năm trong câm nín, năm năm trong u hoài. Gần ba mươi năm… cha và con, cha và con. Tôi gặp lại bố tôi ở Huế, hai cha con đi ăn chè tại một quán chè bên bờ sông Hương. Con sông này mấy năm nay hình như con nước trôi cũng… chậm chạp, lững lờ hơn trước.



T.T.Kh. và chuyện tình thơ “Hai sắc hoa ti gôn”


Hai sắc hoa ti gôn, bài thơ có số phận kì lạ và bí ẩn như chính tác giả của nó. Thật vậy, đã hơn 70 năm – đã gần qua một đời người với biết bao thăng trầm dâu bể mà chuyện tình thơ Hai sắc hoa ti gôncủa T.T.Kh vẫn tươi nguyên màu bí ẩn; bài thơ vẫn tồn tại một câu hỏi chưa lời đáp: T.T.Kh là ai?

  

Kể từ đó đã có biết bao nhiều bài viết về T.T.Kh. và Hai sắc hoa ti gôn; người ta xem xét từng góc cạnh, xét nét từng phong cách của bài thơ... Họ cho là cách viết này là phù hợp với học vấn của một học sinh trường Tây, cách viết kia mang khẩu vị của trường phái thơ “hành” v.v... Có người đã bỏ nhiều công sức để gặp gỡ kẻ mà họ ngờ là nhân vật trong thơ. Nhiều cuộc tranh cãi, bao nhiêu thắc mắc, bao nhiêu cuốn sách được xuất bản; rồi thư đi-tin lại, rồi giận hờn, trách móc… thậm chí người ta còn muốn vận đến luật pháp để luận tội người viết này người viết kia đã xâm phạm đến đời tư… 

Từ những mịt mù ấy, người hay chữ nghĩa thì gọi nó là một Nghi án Văn học. Nghi án về một bài thơ có một số phận thật kì lạ.


(Nguyễn Cẩm Xuyên)


Giai thoại về Tô Hoài 


Thời loạn vẫn đa tình


Viết về sự đi của bạn bè, Tô Hoài ít chú ý tới kết quả, ông để ý đến mục đích và cách đi của họ. Chuyện đi tản cư và đi làm báo được ông dẫn ra nhiều. Thâm Tâm đưa vợ con đi tản cư, Nam Cao về quê thu xếp rồi đi làm báo. Hoạ sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Mai Văn Hiến…sửa soạn cho chuyến thiên di gần kề. 


Đang chuyện nọ, Tô Hoài vắt sang chuyện kia. Nào làng xóm ráo riết đề phòng việt gian. Nào Hà Nội rối ren từ miếng cơm đến thời sự. Từ việc Nhật Pháp choảng nhau to, Tô Hoài thu về chuyện các tổ chức công khai và bí mật liên miên tranh luận lí thuyết. Tô Hoài kể lan man, nhằng nhịt. Vèo một cái được một mớ sự kiện. Chắc ông cho rằng, tự những sự kiện chính trị, cá nhân kia sẽ gợi ra cái không khí chiến tranh loạn lạc thời bấy giờ.


Tôi từng nghe nói, thi sĩ thuộc nòi tình. Xem ra văn nhân cũng chẳng phải ngoại lệ. Ông Sao Mai đi tới đâu mà chẳng có gì hai nó. Tô Hoài thi thoảng lấy cớ đi mua phong thuốc lào cho Đinh Hùng, Nguyễn Bính để được nhìn mặt và chạm vào tay cô bán hàng một cái. Tô Hoài bảo: Anh Thơ lúc trẻ lợi hở giống miếng thịt trâu, tính thì đồng bóng. Sang Liên Xô với Nguyễn Văn Bổng, Thanh Tịnh, lại hỏi thăm Gorki vì tưởng ông ấy còn sống. Anh Thơ mà đẹp thì chết với tôi. Nguyễn Đăng Mạnh hỏi: Gái Hmông thế nào? Tô Hoài bảo: Gái H’mông nguy hiểm lắm, nó ngủ với cán bộ, hôm sau đi khoe cả làng cả bản. Nguyễn Đăng Mạnh tiếp: anh đã biết mùi đầm chưa? Tô Hoài tâm sự: tôi có lần sang Rumani, có một cô phục vụ đòi hỏi ghê quá. Mình phải xin giấy chứng nhận mới thoát được. Nguyễn Đăng Mạnh gợi chuyện: Nguyễn Khải cho tôi biết, anh có chuyện với L.M, đúng không? Tô Hoài hồn nhiên trả lời: Chuyện ấy sao Nguyễn Khải biết nhỉ? Tay chồng L.M có lần mắng vợ: “Đi mà ở với thằng Tô Hoài”.


(Hà Thanh Vân)


Phố phuờng Hà Nội


Lều lán và người nghèo rúc ráy cả ở duới bãi. Sáng sớm, người ra ỉa bãi bờ sông tha thẩn, con chó lũn cũn theo. Các nhà gánh nước ăn về đánh phèn đôi thùng cũng từ duới sông lên, bước lẫn giữa mọi thứ củi mục, phân người rác rưởi. Buổi chiều, gió lạnh ngoài kia quạt lên hun hút. 

Vùng công chức ở và vùng bãi ngày càng chen chúc, bởi các thành phố mỗi lúc một nhiều người hơn. Dần dần, hầu hết các làng gần xung quanh đều làm các nghề phục dịch. Người ta bảo chỉ có chợ Canh mới ngon thịt. Những hàng thịt chó chợ Đồng Xuân, hàng Đồng đều người trong Canh, làng Mơ có nghề nấu rượu, gọi là mơ rượu, lại còn Mơ Cơm, các hàng cơm đầu ghế trên phố hầu hết người Hoàng Mai. Ước lễ giò chả, mở hàng cơm tám. Người Thanh Trì bán đậu phụ, đậu nướng om nghệ và bánh cuốn. Bánh cuốn THanh Trì lá bánh mỏng soi lên được, bóc từng cánh, ăn với giò lụa chấm nước mắm cà cuống


Làng ở các cửa sông và lạch nước rãnh, nước thải ở Đại Từ, ở quanh Khâm Thiên, ngã Tư Sở, cống Đõ làng, Hồ cắm rau muống bè. Nhà sành ăn chỉ chuộng rau muống sông Tô Lịch. Luộc mềm, xanh nước, ra ống, ra lá. Làng Thụy bán quà sáng, quà trưa, bún ốc, bún chả, xôi vò, chè đường...Kẻ Nhót chuyên buôn thuốc lào bán lẻ các chợ, thành tên thuốc lào Nhót. Đàn ông làng Thanh Nhàn xách hòm đi cắt tóc rong các phố. Người Cổ Nhuế Hoàng làm hàng thầu may cắt quần áo nhà binh

(Tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường – Tô Hòai)


Phở


Có lẽ tiên sinh hoa Tản Đà là lớp văn nghệ sĩ Việt đầu tiên thưởng thức và “nghiền phở”ngay từ khi nó mới ra đời. 

Trong bài “Đánh bạc” (1905 - 1907) ông đã viết: “Có lẽ đánh bạc không mong được mà chỉ thức đêm ăn nhục phơ”. Ông đã gọi “nhục phấn” là “nhục phơ”... trong tác phẩm của mình và rồi dân chúng đổi đi một cách vô thức thành phở lúc nào không hay. (khiên cưỡng - không…logic)


Tuổi khai sinh của phở chẳng được “sử liệu”nào ghi nhận cũng là lẽ hiển nhiên, vậy nên nhà báo Frank Renaud từng bỏ nhiều công sức tìm tòi tư liệu về cội nguồn phở tại Viễn đông Bác Cổ Pháp, nhưng mọi cố gắng đều vô vọng. Song nếu cứ nói theo kiểu dân gian khác gì “ăn ốc nói mò” chẳng có cơ sở xác thực nào thuyết phục quần chúng.

 

May thay! chính thi sĩ Tản Đà từng là nhân chứng sống xác nhận phở đã hiện diện ở Hà Nội khoảng 1907. Nhà văn lão làng Nguyễn Công Hoan, cây đại thụ trong làng văn Việt lại khẳng định và cho biết khá chính xác cái tuổi 100 của món ăn độc đáo thuộc hạng “quốc hồn - quốc túy” này. 

Ông ghi nhận: “1913... trọ số 8 hàng Hài... thỉnh thoảng, tối được ăn phở (hàng phở rong). Mỗi bát 2 xu (có bát 3 xu,5 xu)” 

(Nhớ và ghi về Hà Nội). Mặc nhiên, chính Nguyễn Công Hoan đã là người xác định tuổi cho phở trong cuốn biên tự chuyện về đời mình “Nhớ và ghi về Hà Nội”. 


(Nhiều tác giả)


Chữ nghĩa làng văn


Trần Dần ở phố Sinh Từ, Hà Nội, viết về…phố:

“….Phố u ơ, phố trăng non, phố dậy thì, phố đào, phố mận, phố hai cô, phố chụm đầu, phố bơ vơ, phố thề, phố chờ, phố lỗi hẹn, phố phụ tình, phố xanh, phố đỏ, phố lam, phố bão, phố chiều chìm, phố đục, phố trong, phố đâm ngang, phố đâm dọc, phố ngách xiên, phố mạng nhện, phố gió, phố vắng.


Phố Bà đanh, phố lấm, phố lạnh, phố úa, phố bồ côi, phố goá, phố đói, phố rét, phố xào xạc, phố đèn vàng, phố đèn nâu, phố đèn sương, phố đèn rung, phố đèn Sành, phố Máy cưa, phố vàng lờ, phố Khách, phố cụt bị thương, phố mù khác khoải, phố đổ chàm, phố khổ, phố bụi, phố giày đinh, phố đìu hiu, phố mắt, phố xích, phố thề, phố bãi chợ, phố hoác, phố hơ, phố rỗng, phố nứt, phố khô dầu, phố long sơn, phố cháy, phố đổ, phố đè, phố què, phố máu, phố chết, phố xác, phố vôi bột, phố tha ma...”


Sài Gòn chốn cũ đường xưa 


Buồn vui, sướng khổ với Chợ Cũ - 1

Nhưng Chợ Cũ vẫn sống dù không phải bằng vẻ rạng rỡ của cột gạch, lợp ngói thuở nào. Đó là những cây dù, sạp hàng trông như cái chòi dựng trên vỉa hè đường Tôn Thất Đạm sau này. Và danh tiếng chợ của đồ ăn ngon, cá tôm rươi rói thì vẫn còn. 
Một sáng cuối năm, bà Lương Ý (hơn 80 tuổi) cặm cụi tại gian hàng nhỏ ở Chợ Cũ. Sạp hàng này đã nuôi lớn nhiều thế hệ trong gia đình bà. Bà Lương Ý là một trong số những người gốc Hoa gắn bó đời mình với khu chợ vỉa hè lâu đời này. 
“Tôi sinh ra bên Trung Quốc nhưng gia đình di cư sang đây từ ngày rất nhỏ. Còn nhớ hồi bé, tôi đã chạy quanh chợ bán hành, ngò”, bà Lương Ý nhớ lại. 

Giờ bà vẫn bán hành ngò, dừa nạo cùng vài món đồ nhỏ nhỏ. Tay bà đã run, mắt kém hơn, gói đồ cho khách đã ra chiều lóng ngóng nhưng vẫn bám lấy sạp mà bán buôn qua ngày. Ngày và đêm của bà đều diễn ra ở Chợ Cũ. Đêm bà trải chiếu ngủ trước cửa ngân hàng. “Nhưng giờ người ta cũng sắp đuổi rồi”, bà bảo. 
Hỏi bà nếu Chợ Cũ đóng cửa, bà sẽ đi đâu, bà nói mình già rồi, có thể sẽ về quê ở dưới Bình Dương để con cháu nuôi. “Nhưng sẽ nhớ Chợ Cũ lắm”, bà cười nhưng giọng cứ nghẹn lại. 


(Hà Hương – Bùi Thư) 


Rùa trong thơ ca dân gian

 

Trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, thành tố “rùa” xuất hiện với hàm ý chỉ sự chậm chạp. “Chậm như rùa”, “làm như rùa bò”, “húp cháo rùa” … là những minh chứng cho nhận định vừa nêu.Nhận thức được những tác hại khôn lường của vấn đề vừa nêu, cũng từ hình ảnh con rùa, người ta nhắc nhau rằng:

Hãy cho bền chí câu cua

Dù ai câu chạch, câu rùa mặc ai

 

Mượn hình ảnh con rùa để ví với thân phận của những kẻ thấp cổ bé miệng hay kẻ lỡ làng tình duyên ngang trái, chẳng ai đoái hoài, có kêu trời, trời cũng không thấu, tình cảnh ấy thật thảm thương:

Thân ai khổ như thân rùa

Xuống sông đội đá, lên chùa đội bia

Thân ai khổ như anh kia

Ngày đi cuốc bãi, tối về nằm suông

 

Ở góc độ khác, xin dẫn một câu đố dùng yếu tố tục để giảng thanh. Miêu tả sinh thực khí và hành động ái ân nam – nữ để gợi đến hình tượng … con rùa:

Lù lù như mu l chị

Lị xị như đầu c tôi

Ngày ngày đi khắp mọi nơi

Đến đêm lại chui vào mu l chị

 

Hoặc như sau:

Trăng lên đến đỉnh mu rùa

Cho anh một cái đến mùa anh trả khoai

 

(Trần Minh Thương)


Sài Gòn chốn cũ đường xưa 


Buồn vui, sướng khổ với Chợ Cũ - 2

Phía đông Saigon có một cái kênh gọi là rạch Thị Nghè hay là rạch Bà Nghè. Bà tên là Nguyễn Thị Canh, con gái thống suất Nguyễn Cửu Văn, đẹp duyên với một ông nghè. Để cho chồng bà tiện đường qua rạch hàng ngày vào làm trong thành, bà cho dựng một chiếc cầu mà dân cư có thể dùng được. Để tỏ lòng nhớ ơn một bậc nữ lưu, họ đã gọi cầu ấy là cầu Bà Nghè. 


Trên rạch Bến Nghé hồi xưa có nhiều chiếc cầu ván dựng tạm cho người qua lại. Chiếc cầu nổi tiếng hơn cả là cầu Ông Lãnh, được xây nhờ công ông Lãnh binh, thời tả quân Lê Văn Duyệt. 

Còn những chiếc cầu khác là Cầu Muối, Cầu Khóm (thơm), Cầu Kho và Cầu Học (giếng học). 


(Hà Hương – Bùi Thư) 


Rắn trong văn hoá ẩm thực


Rượu rắn hổ


Dễ làm nhất là khi làm thịt rắn hổ, người có kinh nghiệm sẽ dùng dao cắt cổ rắn lấy máu pha vào rượu để uống cùng với thịt rắn sau khi chúng được chế biến xong.


Hai là, rắn hổ còn sống bắt về thả vào keo, đổ rượu trắng nặng độ vào, cho ngập mình rắn. Rắn sẽ nhả nọc ra rồi chết. Rượu này để khoảng 3 tháng đem ra uống dù có mùi tanh, nhưng theo các các lão nông tri điền thì đây là phương thuốc trị thận hư, khí nhược. 

Cũng bằng cách ngâm rắn, nhưng có thêm rắn ráo, rắn cạp nong (mái gầm có khoang vàng và đen) ngâm chung được gọi là tam xà tửu, thêm rắn lục và cạp nia (cũng là mái gầm nhưng có khoang đen và trắng) vào gọi là ngũ xà tửu. Có điều là các loại rắn này thường được làm sạch, nướng vàng rồi mới cho vào ngâm chớ không để nguyên thuỷ ngâm sống như cách ngâm rắn hổ đất đã nêu trên. Tam xà, ngũ xà đều là rượu thuốc dùng để trị bệnh suy nhược cơ thể, ít người dùng rượu này uống đến say.


(Trần Minh Thương)


Đất Sài Gòn


Từ 1784, theo hải hành đồ của các thương thuyền người phương Tây, với chữ La tinh đã ghi tên vùng Chợ Lớn (cũ) là Saigon.

Theo Trịnh Hoài Đức, dựa trên bản đồ do ông Trần Văn Học vẽ ngày mùng 4 tháng chạp năm Gia Long thứ 14 (1815). Bản đồ ghi vùng nhà thương Chơ Rẫy hiện tại ba chữ: Sài Gòn xứ. 


Chỗ này chính là Chợ Lớn (cũ).

Sau này Sài Gòn xứ rời lên khu cao hơn ở phía Đồn Đất (nay là nhà thương Grall) vào năm 1836.


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam - Hồ Đình Vũ)


Sài Gòn 


Giả thuyết khác từ thế kỷ 17 như theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ "Lũy Sài Gòn" (theo Hán Nho viết là "Sài Côn"). 


Đây là lần đầu tiên chữ "Sài Gòn" xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán: "Côn" được dùng thế cho "Gòn". Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Sài Gòn, không phải đợi đến năm 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị quân Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cống.

Không phải đợi đến thế kỷ 20, các nhà bác vật truy nguyên ra là: 

Sài Gòn thuở ban đầu là đất của người Khờ-me, là một làng đánh cá, có tên đầu tiên là Prey Nokor mà Prey là thánh thần (dieu, god) và Nokor là thành phố hay đô thị (la ville; town, city), mang ý nghĩa là "thành phố thánh thần".


Năm 1862, Việt Nam là thuộc địa của Pháp, người Pháp đặt tên chính thức là Saigon. Từ đó Saigon được Việt hóa là Sài Gòn.


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam - Hồ Đình Vũ)


Cua Canada - Dungeness - 1


Bạn già búi bấn xong điện thoại với đồng hương Gò Công về con ba khía. Người tầm khảo trộm nghĩ đã trâu dong bò dắt bạn ta từ Hải Dương có con cà rà, xin lỗi nói lộn con cà ra họ hàng hang hốc với con rạm. Tiếp đến ghé Bãi Cháy, Móng Cái, vịnh Hạ Long với con cù kỳ. Vào tới miền Nam, người Biên Hòa với suối Lồ Ồ, núi Bửu Long, Châu Thới có cua dẹp. Lạc chốn chân ai xuống Trà Vinh với con chù ụ.


Đến tao đoạn này nghĩ vụng phiếm gồm bộ thủy và bộ phạt, thủy là nổi trôi, phạt là vô định, mà thủy là…nước. Với mưa vẫn hay mưa cho đời biển động, hay là hãy đưa bạn già ra....biển Thái Bình dương, để thăm ông tằng bà tổ con cua còn sót lại từ thời tiền sử. Một công đôi việc cũng để bạn ta trở về thời cổ đại 60.000 năm trước với chuyện con người ta lội biển Thái Bình dương từ đông Phi châu theo ven biển nước ta tới tận Nga, qua Mỹ, xuống Seattle có con cua nhện chả hiểu có đúng chăng?


Đến trần ai khoai củ này, chợt nhớ ra cáy, còng bò từ Bắc… 

Chồng còng lại lấy vợ còng
Nằm chiếu thì rộng, nằm nong (1) thì vừa

(1) Nong:  cái nia


(xem tiếp kỳ tới - Cua Canada - Dungeness - 2)


Vạn


Vạn : phường hội ở vùng biển và sông nước

Vạn chài : hội người làm nghề chài lưới

Vạn đò : hội người làm nghề đưa đò


(Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)


Chữ nghĩa làng văn


Những tình cờ định mệnh


Từ hội họa, bất ngờ, tôi (Khánh Trường) rơi vào lĩnh vực văn chương, báo chí. Đó là thời gian đầu đặt chân đến Mỹ. Đang loay hoay chưa biết làm gì, tôi được một người bạn giới thiệu với Du Tử Lê. Lúc ấy anh đang làm chủ bút tuần báo Tay Phải. Anh hỏi tôi "đã định làm gì chưa", tôi bảo chưa, anh liền đề nghị: "Thế thì về làm báo với mình, cho vui." "Tôi biết gì mà làm?" "Lay-out, tay ngang còn làm được, huống gì anh là họa sĩ".


Đúng như Du Tử Lê nói, chỉ cần một tí khéo tay, thêm một tí kiến thức về mỹ thuật, ai cũng có thể trở thành chuyên viên lay-out. Tôi lại có thêm lợi điểm: dư khả năng lấp đầy những khoảng trống còn thừa trong các cột báo bằng những minh hoạ. Thi sĩ họ Lê có vẻ hài lòng vì đã nhặt được một gã phụ tá... sáng trí, đa năng (!!!)


Anh bèn đẩy sự hài lòng cao hơn tí nữa: một hôm, báo thiếu bài, anh nói với tôi: "KT viết hộ cái gì nhé". Viết? Đề nghị thật bất ngờ.


Thế là tôi thành nhà văn từ đấy.


(Khánh Trường)


Món bún chả 


Thứ bún để ăn bún chả, sợi mành và cuộn từng lá mỏng, khác với các thứ bún thường. Chả phải thịt ba chỉ, mà phải dùng cặp tre tươi nướng mới ngon. 

Quái, sao cái nước chấm của các hàng bún chả hàng ngon thế! Có lẽ là họ dùng nước mắm hạng vừa, nghĩa là không quá chua, cho nên thành ngon chăng? Nước chấm ấy mà điểm thêm mấy giọt chanh vào thì tuyệt: có thể thấm nhuần cả bún, cả rau, cả chả mà không mặn, không gắt như nước chấm của nhà.

Nhưng bún chả Hà Nội đặc biệt có lẽ vì cái rau húng Láng. Vì chỉ có rau húng ở Láng là có mùi vị húng, đem trồng chỗ đất khác, sớm chậm cũng đổi ra mùi bạc hà Viết đến đây tôi lại nhớ đến bác Tú Mỡ thường mời bạn hữu ăn và thường khoe mình là ẩn dật ngay trong rừng hung. Thế cho nên bún chả thì phải là bún chả Hà Nội mới đủ vị cho người thưởng thức và phải là bún chả xưa vẫn ngồi trước đến Bạch Mã, Hàng Buồn, mới là bán hàng ngon. (Tất nhiên có nhiều các hàng khác ở phố cũng ngon chẳng kém, nhưng tiếng tăm chưa nổi đó thôi).


( Nội 36 phố phường – Thạch Lam)


Hữu Loan và Hà Thượng Nhân


Có lần chúng tôi tổ chức cho mấy bạn trẻ đi thăm mấy địa điểm khảo cổ về văn minh “Óc Eo Phù Nam” tại quận lỵ Ðức Hòa hồi đó đã được sát nhập vào tỉnh Long An, thì Hữu Loan cũng tham gia và anh rất phấn khởi được biết nơi đây hồi trên 1,500 năm trước đã là thủ phủ của vương quốc Phù Nam. Chuyến đi này được thực hiện là do sự sắp xếp của anh Võ Sĩ Khải là một chuyên gia khảo cổ, trước kia là một môn sinh của vị giáo sư nổi danh Nghiêm Thẩm.


Phái đoàn đi tham quan gồm nhiều bác sĩ, nha sĩ, y tá trẻ vốn tham gia công tác thiện nguyện để chăm sóc y tế cho bà con người thiểu số tại miệt Túc Trưng, Ðịnh Quán. Có cả cựu Dân Biểu Phan Xuân Huy cùng mấy tu sĩ Phật Giáo, Công Giáo và một số nhà giáo cũng đi theo nữa. Là một chuyên gia lâu năm trong ngành khảo cổ, anh Khải đã giải thích tường tận cho chúng tôi về những khám phá những cổ vật tại một số địa điểm được đào bới, mà xưa kia là các đền thờ của người thuộc vương quốc Phù Nam theo đạo Bà La Môn, rồi bị người Khmer từ phía Cambodia đến chiếm đóng và xua đuổi họ tản mát đi lên phía rừng núi hay ra biển khơi mất dạng luôn.


Nhà thơ Hữu Loan rất tò mò ngắm nghía các cổ vật còn được lưu trữ tại Bảo Tàng Viện tạm thời ở thị xã Long An, mà trên đường về lại Saigon, chúng tôi lại được anh Võ Sĩ Khải hướng dẫn đến thăm viếng để hiểu biết chi tiết hơn về cái nền văn minh Óc Eo Phù Nam đã bị sụp đổ từ trên 14-15 thế kỷ trước.


Anh Khải cho biết, theo ý kiến của Linh Mục Trần Tam Tỉnh vốn là một giáo sư về Khảo Cổ Học lâu năm ở Canada, thì nên xây dựng Viện Bảo Tàng chính thức ngay tại Ðức Hòa là nơi được xác nhận trước kia là thủ phủ của vương quốc Phù Nam, vì xung quanh đó tập trung rất nhiều di tích đền đài, dinh thự của nhà vua. Và đặc biệt là còn tìm thấy được tấm lắc bằng vàng có chạm trổ “Lệnh Rút quân” của nhà vua ban ra, lúc quân Khmer kéo tới rất đông để chiếm đóng lãnh thổ của vương quốc vào thế kỷ thứ 6 sau Công Nguyên. Cổ vật này là một bằng chứng xác thực nhất về sự tồn tại của vương quốc Phù Nam, mặc dầu nó đã bị xóa sổ từ gần 1,500 năm nay rồi. Anh Loan cứ tấm tắc khen ngợi công trình nghiên cứu khoa học của anh Khải và các chuyên viên khảo cổ trong khu vực miền Nam ở đây.


(Ðoàn Thanh Liêm)


Ca dao tục ngữ


Chồng chị là ai
Chị nào có biết
Đợi đến ngày mai
Dòm sang kẻ liếp.


Phỏng vấn nhà văn Song An Hoàng Ngọc Phách


- Vì vậy mà ở sự nghiệp của mỗi nhà văn, ta phân biệt hai phần, một phần khô khan tìm thấy trong những bài nghị luận về những vấn đề văn học, triết học, luân lý, tức như tập “Thời thế với văn chương” - một phần trữ tình tìm thấy trong những tiểu thuyết, du ký, thơ phú v.v... - tức như quyển “Tố Tâm” của tiên sinh.

Tiên sinh là đại biểu không những cho những văn gia, thi gia, mà cả cho cái thế hệ thanh niên hồi bấy giờ!

 - Sự nhận xét ấy có lẽ đúng.


- Tiên sinh cho biết về tiểu thuyết Tố Tâm.

 - Tiểu thuyết “Tố Tâm”, tôi viết trong trường Cao đẳng. Hồi ấy, tôi có mục đích viết một quyển tiểu thuyết khác hẳn những tiểu thuyết đã có, cả về hình thức và tinh thần. Về hình thức, chúng tôi xếp đặt theo những tiểu thuyết mới của Pháp, lối kể chuyện, tả cảnh, theo văn chương Pháp. Về tinh thần, chúng tôi đem vào những tư tưởng mới, tâm lý nhân vật được phân tích theo những nhà tâm lý tiểu thuyết có tiếng đương thời.


(Lê Thanh)


Lẩu hay lẫu


Theo nhà làm từ điển Lê Văn Đức (một cụ già Nam kỳ)

thì không có chữ lẫu (dấu ngã). Mà chỉ có lẩu (dấu hỏi)


(Bảo Lâm)


An yên bên tiếng chuông chùa


Hậu sự cho chồng xong, bà Liệp giao nhà cửa và phần mộ cho hai người cháu gái trông nom rồi vào chùa ở Long Xuyên tu tập với pháp danh Thích Nữ Huệ Đức. Thích Nữ Huệ Đức là đệ tử của Sư ông Thích Nhựt Phú, trụ trì chùa Phước Ân (Lấp Vò, Đồng Tháp) vậy nên khi bà qua đời, thể theo di nguyện, hai cháu của bà đã xin với sư ông cho phép được an táng trong khuôn viên chùa Phước Ân. Để vợ chồng hiệp đôi, cháu của bà Liệp lại mang tro cốt của cụ Nguyễn Hiến Lê từ quê nhà Long Xuyên sang Đồng Tháp đặt ngay phía trên phần mộ bà Liệp (do mộ xây dạng bảo tháp, có nhiều ngăn). Đó là giữa năm 1999.


Chúng tôi đã theo lời kể của những người ái mộ cụ Nguyễn Hiến Lê, từ Lai Vung vào đến chùa Phước Ân theo quốc lộ 80, tới ngã tư Cai Bường, có cầu Cai Bường, qua cầu rẽ trái chừng hơn 1 cây số sẽ có cầu ngang sông, qua cầu rẽ phải lên chừng 500 thước là tới chùa. Phước Ân là ngôi chùa rộng rãi, đậm chất làng quê, yên ả, thanh bình. Hàng cau già trước cổng, rồi hàng sa la dẫn vào thơm ngát hương hoa. 


(Duy Khôi)


Những ca từ “khó hiểu” trong 8 ca khúc của Trịng Công Sơn


5. Mưa Hồng

Em đi về cầu mưa ướt áo/ Đường phượng bay mù không lối vào”. Hai câu hát nổi tiếng này thật ra không có chứa đựng câu chữ nào là đánh đố hay khó hiểu. Nhưng nếu giải thích rõ ràng câu hát này ra thì sẽ có nhiều điều thú vị đằng sau đó. 

Bài hát này được TCS viết tặng cô Dao Ánh, với bối cảnh ở Huế. Mưa ở Huế thì buồn lắm, có nhiều bài hát đã nói lên nỗi buồn của cơn mưa xứ Huế rồi. Những ai sống ở đất cố đô đều biết con “đường phượng bay” nổi tiếng trong Thành Nội với hai bên trồng toàn cây phượng vĩ. Còn câu hát: “Em đi về cầu mưa ướt áo”, nếu ghi rõ nghĩa hơn thì sẽ là: em đi về, cầu cho mưa ướt áo em. Một người con gái đi ngoài mưa mù mịt, mưa rơi ướt sũng áo mỏng, lớp áo dán sát vào cơ thể. 


Không cần nói thì ai cũng biết hình ảnh đó gợi cảm biết nhường nào. Vấn đề ở đây là “ai cầu cho mưa ướt áo em?”. Hẳn nhiều người sẽ cho rằng chắc chắn đó là “anh”, để anh còn có dịp nhìn nữa chứ. Tuy nhiên, cũng trong một buổi tiệc có mặt bà Đặng Tuyết Mai và TCS (đã nhắc đến bên trên), thì bà Mai đã đưa ra ý kiến của bà như sau: “Riêng tôi (bà Tuyết Mai phu nhân của Ng Cao Kỳ) thì cho rằng chính cô gái mới là người cầu mong cho mình bị mưa ướt, bởi lẽ người xứ Huế rất coi trọng gia phong lễ nghĩa, nhất là trong cách ăn mặc - lúc nào cũng phải thật kín đáo, không bao giờ dám để lộ thân thể dù chỉ là một chút xíu. 


Cô gái trong bài hát tự biết mình có hình dáng đẹp, muốn khoe nhưng không biết làm cách nào nên chỉ dám cầu mưa cho mình bị ướt áo để khoe vẻ đẹp cơ thể một cách tự nhiên mà vẫn giữ được sự ngượng ngùng, e ấp… Khi nghe tôi giải thích như thế, nhạc sĩ TCS đã đứng dậy, với tay qua bàn tiệc bắt tay tôi kèm theo một nụ cười mãn nguyện”.


(Nguyễn Mậu Nhân – Sai Gon xua)


Bát phở không người lái

(Kỷ niệm về thời bao cấp)


Bạn hỏi tôi: Viết truyện ngắn khó ở chỗ nào? Khó ở chỗ kết. Kết như thế nào? Sau đây là câu chuyện của tôi:

Chủ nghĩa xã hội kinh điển có một "tuyệt phẩm" là thời bao cấp. Thời ấy có món phở mậu dịch gọi là phở "không người lái". Cái này mới thực sự kinh điển. Ấy là bát phở chỉ có bánh phở, nước dùng và mấy cọng hành ngò, tuyệt không một miếng thịt. Vậy nhưng nó vẫn là một món qùa sang trọng và quí hiếm đối với những cái bụng học trò chúng tôi.

Mỗi lần trốn học rủ nhau xuống phố huyện, cái cửa hàng mậu dịch với món phở không người lái trứ danh ấy vẫn luôn là một trong những mục tiêu tối quan trọng, gây háo hức nhất cho chuyến đi.


(Phạm Lưu Vũ)


Góp nhặt cát đá


Mộng 


Mình ta đi một mình ta
Bao nhiêu giấc mộng gần xa xa gần.


Vĩnh biệt Đào Mộng Nam


Năm 1966 cùng với thân hữu, anh chủ trương Nxb Nguồn Sáng, phát huy quốc học và chủ trương dung hoá Đông Tây. Nxb Nguồn Sáng, ngoài việc xuất bản bộ Chữ Nho tự học của Đào Mộng Nam, còn cho ra đời những bộ sách giá trị như Nho văn giáo khoa toàn thư của bác sĩ kiêm Đông y sĩ Nguyễn Văn Ba, tủ sách Việt Nho của Lương Kim Định, những sách dịch như Ấu học quỳnh lâm, các tiểu thuyết của Dostoievski như Anh em nhà Karamazov, Lũ người quỷ ám, Đầu xanh tuổi trẻ, tiểu thuyết của Han Su-yin (Hàn Tố Âm), của Heinrich Bưll, thơ của Tagore, Kahlil Gibran… và tủ sách thiếu nhi gồm các danh tác thế giới và Việt Nam, trong đó đặc sắc là bộ Phiêu lưu trên lưng ngỗng của Selma Lagerloff do Lý Quốc Sinh dịch…

Ra nước ngoài từ 1975, Đào Mộng Nam định cư ở Hoa Kì, trôi nổi từ miền Đông sang miền Tây, sau cùng cố định ở Westminster, California…Cộng tác với các tạp chí ở hải ngoại như Hợp lưu, Văn học, Văn, Tạp chí Thơ, Khởi hành… ở Hoa Kì, và Trăm con ở Canada, Đào Mộng Nam hăng hái cổ xuý cho sự kết hợp phương pháp rung nhịp của hơi thở thiền định với tiết điệu của thơ, nhất là thể loại lục bát truyền thống của dân tộc qua ca dao,Truyện Kiều, Lục Vân Tiên..v.v.. Đào Mộng Nam cũng dịch và xuất bản tập Nhã ca (tương truyền của vua Salomon trong Kinh thánh Do Thái và Cựu ước của Kitô giáo) in kèm với tranh của họa sĩ trừu tượng ngây thơ của Nga là Marc Chagall.


Ước vọng cuối cùng của Đào Mộng Nam là dịch toàn bộ thơ Cao Bá Quát, khoảng 2.000 bài. Anh mới thực hiện được vài trăm bài thì từ giã chúng ta. Hi vọng thế nào rồi cũng có người nối chí anh để hoàn tất công cuộc đó vì Cao chu thần là đỉnh cao của cả ngàn năm văn học kinh điển Việt Nam…". Có lẽ, thực ra Đào Mộng Nam đã dịch gần hết thơ của Cao Bá Quát, theo nguồn khác.


(Phan Tấn Hải)


Tác giả: Phan Tấn Hải bút hiệu: Nguyên Giác. 

Sinh năm 1952 tại Sài Gòn. 

Hiện đang cư ngụ tại California, Hoa Kỳ.


Tác phẩm: Vài Chú Giải Về Thiền Đốn Ngộ, 

Thiền Tập, Ba Thiền Sư, Chú Giải Về Phowa, 

Lời Dạy Tâm Yếu Về Đại Thủ Ấn



***


Phụ đính 


Chữ nghĩa làng văn


Ngọc Thứ Lang với Bố Già - 1


Tôi đọc Bố Già của Ngọc Thứ Lang và cuốn sách đã lôi cuốn tôi mạnh mẽ. Thời gian đó tôi đang thực hiện cho Văn một loạt bài phỏng vấn các nhà văn dưới mục Nhà văn ở phút nói thật


Sau khi gặp Ngọc Thứ Lang và đọc bản dịch cuốn Bố Già, tôi nói với chủ nhiệm Nguyễn Đình Vượng là tôi muốn phỏng vấn Ngọc Thứ Lang. Thế nhưng, thời gian đó có quá nhiều việc phải làm nên tôi quên bẳng chuyện đi tìm Ngọc Thứ Lang để hỏi tại sao anh chọn dịch The Godfather của Mario Puzo và do đâu anh nắm bắt được cái ngôn ngữ kỳ lạ của thế giới mafia ở Mỹ như thế.


(Nguyễn Xuân Hòang)


Chữ nghĩa làng văn


Ngọc Thứ Lang với Bố Già - 2


Năm 1999, đầu tháng Bảy, bước chân vào toà soạn tôi đọc thấy trên bàn tờ Mercury News bản tin tác giả The Godfather đã qua đời, ai đó đã dùng bút đỏ khoanh lại. Tôi nhớ lại hình ảnh người đàn ông gầy gò, chiếc sơ mi màu cháo lòng, hai tay áo dài thòng che lấp hai bàn tay, một buổi sáng nào đã bước vào toà soạn tạp chí Văn trên đường Phạm Ngũ Lão. 


Bây giờ anh ấy ở đâu, người dịch giả tài năng ấy? Nhà văn Hoàng Hải Thủy cho biết Ngọc Thứ Lang đã mất năm 1979 trước ngày ra đi của Mario Puzo 20 năm. Sau 1979, hai nhà xuất bản ở Việt Nam giành nhau in lại bản dịch Bố Già của anh. 

"Mario Puzo, tác giả The Godfather, tiểu thuyết best-seller từng bán 21 triệu quyển, qua đời ở nhà tại Bay Shore, New York, ngày một tháng bảy 1999, thọ 78 tuổi, có năm con, chín cháu. 


Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già, qua đời ở trại Lao Cải Phú Khánh năm 1979, chưa đầy 50 tuổi, không vợ, không con".


(Nguyễn Xuân Hòang)


Ngọc Thứ Lang tên thật là Nguyễn Ngọc Tú sinh tại miền Bắc. Ông từng du phục ở Paris đến 1954 mới về nước. Ông nằm luôn trong một nhà bán thuốc phiện ở hiẻm Monceaux, Tân Định, sau 1956 là đường Huỳnh Tịnh Của nối dài. Ông ăn, ngủ, hút trong căn nhà ấy và trở thành một người với hai bàn tay trắng với bệnh nghiện hút khi rời căn nhà đầy khói thuốc ấy.


Năm 1965, ông viết cho Tuần san Thứ Tư của Nguyễn Đức Nhuận và cho các tờ báo khác với bút danh là Ngọc Thứ Lang20140828_112449_0718081122_BoGiaTr%C3%AD%20d%C5%A9ng%20xu%E1%BA%A5t%20b%E1%BA%A3n%201974


Vào năm ấy, ông dịch tác phẩm "The Godfather" đặt tên cho bản dịch là "Bố già". Bản dịch được đón nhận khắp Sài Gòn năm 1968, 1972.


XEM THÊM :KHOA HỌC ĐANG NGẬP TRONG RÁC DO AI TẠO RA