30 thg 3, 2026

HỌC TẮC (Bài 6)


 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠO TIÊN VƯƠNG

Tác giả: Ogyu Sorai
Biên dịch: Nguyễn Sơn Hùng

Phàm lệ

Tựa của bài, tiểu mục và tóm tắt ý quan trọng do người biên dịch thêm vào để dễ theo dõi và lập mục lục chi tiết hoặc tóm tắt nội dung cả tác phẩm.

Người biên dịch cố gắng chú thích các trích dẫn để quý độc giả hiểu rõ thêm ý muốn truyền đạt và mức độ học rộng của Sorai và biết thêm nội dung sơ lược các sách cổ điển khác.

***

Thế nào là thái độ của người quân tử?

Người quân tử không khinh suất bỏ mặc làm ngơ con người, và đối với ngay cả con vật hoặc đồ vật cũng không khinh suất bỏ mặc làm ngơ. Nhờ đó họ thành tựu được sự vĩ đại của mình. Sự vĩ đại của người quân tử cũng có ở việc họ chú ý đến sự việc ngay từ lúc sự việc bắt đầu manh nha (mọc mầm).

Sự vật, sự việc trên đời phần lớn phát sinh, tiến hành, phát triển do sự kết nối lẫn lộn của nhiều thứ. Từ hỗn tạp biến thành có thứ bậc, văn vẻ (tạp dĩ thành văn) (1); âm dương tương kết không ngừng (âm dương tương nhưng陰陽相仍) để biến chuyển chớ không cố định một chỗ. Nói tỉ dụ giống như sợi dây thừng được hình thành bằng những sợi chỉ xoay quấn với nhau, cương và nhu quấn bọc thành nhiều tầng lớp không bao giờ hết. Giống như thân cây chuối Nhật (bashô芭蕉)có nhiều lớp vỏ bao bọc, hết lớp này đến lớp khác. Do đó, người quân tử không quyết định thái độ từ đầu đối với cả điều phải lẫn điều trái, cả điều thiện lẫn điều bất thiện.(2)

Đạo thánh nhân xem trọng những gì?

Đại khái người lẫn vật không được nuôi dưỡng đúng là xấu, không được đặt vào chỗ thích đáng cũng là xấu (ác). Ngược lại, nuôi dưỡng cho trưởng thành rồi đặt vào chỗ thích đáng tất cả đều là tốt (thiện).

Đem con người ở chung với lang sói, trộn cao lương chung với lúa gạo chắc chắn là không tốt. Tuy nhiên, trời đất không ghét bỏ lang sói, sương và mưa không đối xử sai biệt với cây cao lương. Đạo thánh nhân cũng tương tự như vậy (nghĩa là không đối xử sai biệt giữa người này với người khác, giữa quân tử và tiểu nhân). Trường hợp không thể làm gì được đối với người hoặc vật xấu thì tách đối tượng rời ra hoặc tránh xa đối tượng chứ không đánh đập hoặc giết hại, bởi vì thánh nhân rất chán ghét việc gây hại đức nhân chứ không phải chán ghét đối tượng. Do đó, đạo thánh nhân rất chán ghét việc bất nhân bởi vì việc bất nhân làm cho tấm lòng yêu thích đức nhân không đến được.(3)

Vua Thuấn đã chọn ông Cao Dao ra dùng nhưng đối với 4 ác nhân (4) thì giết chết. Đối với việc làm sau (trong thiên Thuấn Điển của kinh Thưchỉ ghi lại sự kiện của lịch sử chứ)không phải là khen tụng. Ở thời đại của thánh nhân, không có tài năng, con vật hoặc đồ vật nào bị xem là vô dụng để phế bỏ đi.

Có lời truyền “Người dân ở thời đại vua Nghiêu, vua Thuấn tất cả đều những nhân vật đáng được phong làm chư hầu”(5). Ý của lời này không phải là tố chất(bản tính bẩm sinh) của mọi người dân thời đại này đều có thể trở thành công tước hoặc hầu tước, và cũng không phải người nói đồng tình với dân chúng để phải chấp nhận các khuyết điểm của họ. Ý muốn nói của lời này là vào thời vua Nghiêu, vua Thuấn, mọi người dân có thể cống hiến vào việc quản trị quốc gia ứng với tài năng của họ. Có những ghi chép như “Cần xem xét các lời nói gần gũi thấp hèn” (6), “Chọn dùng các ý kiến của người thấp hèn ở vùng núi”(7)v.v…Tuy nhiên, không phải tất cả những người thốt ra những lời có thể dùng đến như nói ở trên đều là người tài đức. Độc cũng có trường hợp chữa được bệnh, có lúc linh苓 trở thành vua của dược liệu(8); đá của núi khác có thể dùng mài giũa ngọc quý(9); người bất nhân cũng có thể để người tốt tham khảo (10) để tránh không làm như vậy. Phương pháp thành tựu sự vĩ đại của thánh nhân có ở những cách dùng người và vật như trên.

Lý do nào đã làm đạo Khổng suy yếu?

Các Nho gia (sau Khổng tử) phân chia thiện ác, tốt xấu quá rõ ràng nên làm cho phạm vi giáo huấn của các tiên vương trở nên hạn hẹp, và lại không ngừng nghiêm chỉnh nghị luận chính tà một cách không nhượng bộ nên phạm vi đối tượng của Khổng tử bị cắt xén bớt đi.Tất cả đều là tội lỗi của các Nho gia (sau Khổng tử).

Phương châm học như thế nào?

Do các lý do trên, từ các học thuyết của 9 phái trong chư tử bách gia (11) cho đến học thuyết thiên lệch của Phật giáo và Lão Trang đều là những phần rời rạc của đạo, không có học thuyết nào mà không xuất phát từ nhân tình (tình cảm muốn giải quyết các khó khăn của con người để có thế sống hạnh phúc hơn). Do đó, chính vì xuất phát từ nhân tình (tình người), nên trong các học thuyết chắc chắn có chí ngôn (điều khuyên chính đáng đáng học tập). Đạo thánh nhân là đạo lấy nhân tình làm trên hết. Nếu không như thế thì làm sao có thể quản trị dân chúng sống an bình. Do đó, nếu xây dựng được và duy trì được cơ sở căn bản quan trọng để an dân thì cái gì cũng là đạo của thánh nhân.

Các môn học chuyên môn của đời Hán đã làm cho học thuyết của mỗi người mỗi khác nhưng tất cả nội dung đều là do các thầy truyền dạy cho các đệ tử. Nguồn gốc của các nội dung này đều do các đệ tử của Khổng tử truyền lại. Dù được truyền lại từ các đệ tử của phu tử nhưng không có nghĩa là không có điều sai lạc (do người học hiểu sai hoặc nhớ sai). Ngoài ra, có điều còn điều mất (do quên hoặc thất truyền). Nếu như gom lại để học chung lại thì không đánh mất đạo.

Khi Khổng Dĩnh Đạt soạn ra sách chú giải của ngũ kinh(12) ông chỉ lấy chú giải của 1 người làm tiêu chuẩn chọn lựa. Đến đời Minh sau đó, khi Ngũ Kinh Đại Toàn(13)thì chú giải của Khổng Dĩnh Đạt lại bị cắt bỏ đi. Bởi 2 lý do chính yếu này, học thuyết của thánh nhân trở nên càng hạn hẹp không thể bằng cổ đại.

Do đó, căn bản của việc học (đạo thánh nhân) là một khi đã xác lập được các điểm căn bản lớn thì nên quý trọng việc học rộng không màng sự phức tạp. Nếu còn điều nghi ngờ không biết đúng hay không thì nên cứ để vậy chờ đến cái mầm thấu đạt phát sinh ra.

Tóm tắt ý quan trọng

– Người quân tử không khinh suất bỏ rơi người khác và mọi sự vật, không không quyết định thái độ từ đầu đối với cả phải lẫn trái, cả thiện lẫn bất thiện, nghĩa là không có thành kiến mà căn cứ vào tình trạng thực tế để phán đoán.

– Đạo Khổng (thánh nhân)lấy việc nuôi dưỡng tiềm năng để phát triển và sử dụng con người theo tài đức, đồ vật theo chức năng hoặc đặc tính, không bỏ rơi hoặc giết hại,

– Nếu xây dựng được hoặc duy trì được cơ sở căn bản quan trọng để an dân thì cái gì cũng là đạo của thánh nhân.

– Căn bản của việc học đạo thánh nhân là một khi đã xác lập được các điểm căn bản lớn thì nên quý trọng việc học rộng; có điều chưa hiểu thì cứ chờ đến lúc tự hiểu ra.

Nhận xét

(1) Sorai cho rằng đạo thánh nhân không xem người và vật gì vô ích. Người dịch rất thú vị khi nhớ lại trong Bài 20 Không Có Vật Gì Vô Dụng  trong tác phẩm Nhân Sinh Tâm Đắc Thiệp của Matsushita Kônosuke, nhân vật được người Nhật Bản xem là thánh của kinh doanh, cũng có quan niệm tương tự!

http://www.erct.com/2-ThoVan/N-Son-Hung/Bai-20-Khong-co-vat-gi.htm

(2) Trong chương Tính Ác sách Tuân Tử giải thích quan niệm thiện của người xưa là “xã hội sống hòa bình” và ác là “xã hội loạn lạc, chiến tranh”. Quan niệm thiện ác này cũng rất suy ngẫm. Tuy nhiên nếu tồng hợp với quan niệm thiện ác trong bài này thì có thể nói như sau: thiện là mọi vật có trật tự, có vị trí thích đáng với bản thân của người và vật; ác là mọi vật không có trật tự, không có vị trí thích đáng.

(3) Người biên dịch thiết nghĩ nên ghi lại đây ý nghĩa của từ quân tử君子theo nội dung giải thích của Sorai như vậy quý độc giả mới nắm được sự quan trọng của nội dung “Người quân tử không khinh suấtbỏ mặc làm ngơ con người, và đối với ngay cả con vật….” trong bài này.

Như quý độc giả đã biết đạo Khổng là đạo của các tiên vương cổ đại lập ra để an dân được ghi chép lại trong các kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc, Dịch và dùng để dạy dân và đào tạo nhân tài. Sau đời Chu,các kinh sách bị thất lạc dần dần đi nên Khổng tử thu thập và ghi chép lại để dạy cho các đệ tử và truyền lại cho đời sau, chứ không phải do bản thân ông sáng tác lập ra. Quân tử là người học đạo tiên vương, tức đạo Khổng để quản trị dân chúng sống an vui, bao gồm từ vua, chư hầu, đại phu và sĩ. Quan niệm của các tiên vương là người quản trị dân phải làm gương mẫu cho dân chúng bắt chước theo nên điều kiện có đầy đủ đạo đức là điều tất yếu. Từ tiểu nhân là để chỉ người dân bình thường, để phân biệt với những người quản trị dân. Đó là ý nghĩa ban đầu của 2 từ quân tử và tiểu nhân.

Tuy nhiên, từ khi Tống Nho xem trọng việc tu thân và xem nhẹ việc an dân nên sau đó người đời cứ cho ra quân tử là người có đạo đức, nhân cách cao thượng; có tiểu nhân là loại người không có đạo đức! Đó là trong những tai hại của Tổng Nho gây ra, ít người phát hiện!

Sorai giải thích chi tiết về từ quân tử và tiểu nhân trong Luận Ngữ Trưng của ông, người biên dịch sẽ giới thiệu trong biên dịch tác phẩm này, quý độc giả nhớ đón xem.

Ghi chú

  • Hệ Từ Truyện hạ viết: “物相雑、故曰文”vật tương tạp, cố viết văn.
  • Chương 10 thiên 4 Lý Nhân sách Luận Ngữ viết:

子曰:君子之於天下也,無適也,無莫也,義之與比。

Tử viết: “Quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mịch dã, nghĩa chi dữ tỷ.”

Dịch (của Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Cách xử sự của người quân tử không nhất định phải như vầy mới được, không nhất định như kia là không được, cứ hợp nghĩa thì làm.”

(Trong Luận Ngữ Trưng, Sorai giải thích chương này rất dài. Xin quý độc giả đón xem sau bài dịch của người dịch.)

  •  Chương 10 thiên 8 Thái Bá sách Luận Ngữ viết:

子曰:好勇疾貧,亂也。人而不仁,疾之已甚,亂也。

Tử viết: “Hiếu dũng tật bần, loạn dã. Nhân nhi bất nhân, tật chi dĩ thậm, loạn dã.

Dịch (của Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Kẻ hiếu dũng mà lại ghét cảnh nghèo khổ thì sẽ làm loạn. Người bất nhân mà bị ghét bỏ thái quá thì sẽ nổi loạn.”

Trong Luận Ngữ Trưng Sorai giải thích chương này như sau:

Hiếu dũng tật bần sẽ làm bản thân trở nên loạn.Nhân nhi bất nhân, tật chi dĩ thậm, loạn dã nghĩa là người mà ghét cực kỳ ghét đức nhân của việc làm người thì xúi giục người khác làm loạn. Mặc dù bản thân không làm loạn nhưng cũng giống như chính bản thân làm loạn. Do đó ở đây nói loạn dã (giống như câu đầu) cho thấy việc nghĩ xa của thánh nhân, cách nhìn thiển cận của hậu Nho làm sao sánh được!”

Nội dung giải thích của Sorai khác với nội dung phiên dịch nói trên, đáng để suy ngẫm thêm.

(4) Bốn ác nhân là Cộng Công gây ra lũ lụt, Hoan Đâu驩兜là Đan Chu丹朱, con trai của vua Nghiêu, Tam Miêu三苗tức Luận Thích Nghị論戚誼, người Tam Miêu,và Cổn鯀.

  • Chương 21 thiên 12 Nhan Uyên sách Luận Ngữ viết:

子夏曰:富哉言乎!舜有天下,選於眾,舉皋陶,不仁者遠矣;湯有天下,選於眾,舉伊尹,不仁者遠矣。

Tử Hạ viết: “Phú tai ngôn hồ! Thuấn hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Cao Dao; bất nhân giả viễn hỹ.Thang hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Y Doãn; bất nhân giả viễn hỹ.”

(5) Trong Vương Bôn Truyện sách Hán Thư viết: 唐虞之時、可比屋而封Đường Ngu chi đại, khả bí ốc nhi phong.

(6) Thiên Trung Dung trong sách Lễ Ký viết “子曰:「舜其大知也與!舜好問以好察邇言。隱惡而揚善。執其兩端,用其中於民。其斯以爲舜乎!」(Tạm dịch: Khổng tử nói: Vua Thuấn thật là đại trí (có trí tuệ)! Ông thích hỏi và xem xét các lời nói gần gũi chung quanh. Dấu điều xấu và nêu cao điều tốt của người khác. Ông nắm rõ 2 mức cực đoan của sự việc và áp dụng nội dung có cân bằng vào dân chúng. Đó là lý do tạo ra sự vĩ đại của ông.)

(7) Có trong bài tựaBản板 trong phần Đại Nhã của kinh Thi viết先民有言,詢于芻蕘。Tiên dân hữu ngôn, tuân vu sô nhiêu (Tạm dịch: người xưa thường nói, nên hỏi ý kiến của người đi lượm cũi. Ý nói, người quản trị dân nên thường hỏi ý kiến của người dân bình thường. )

(8) Theo Nishida Taichirô linh苓còn gọi là 豕零thỉ linhhoặc豬苓trư linh. Trong Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu giải thích: “Trư linh 豬苓 cũng là một loài nấm, mọc ở cây phong, từng hòn đen đen như phân lợn, nên gọi là trư linh, dùng làm thuốc.” Trong chương 21 Từ Vô Quỷ (Tạp thiên) sách Trang Tử viết:藥也其實,堇也,桔梗也,雞𢋊也,豕零也,是時為帝者也,何可勝言! Dịch của Nguyễn Hiến Lê: “Trong các vị thuốc có vị cẩn, có vị cát cánh, có vị kê ưng, có vị trư linh(trong Wikisource viếtthỉ linh). Những vị ấy vốn tầm thường mà có lúc lại là quý”.(Nguyên văn là đế giả, có nghĩa đứng đầu các thứ thuốc khác. Dĩ nhiên là tùy theo trị bệnh gì.)

(9) Trong bài tựa Hạc Ô鶴鳴trong phần Tiểu Nhã của kinh Thi viết:他山之石,可以為錯。

(10) Trong chương 27 sách Lão Tử viết: 故、善人者不善人之師、不善人者善人之資。Cố,thiện nhân giả bất thiện nhân chi sư, bất thiện nhân giả thiên nhân chi tư. Tạm dịch: Do đó, người tốt là thầy của người xấu; người xấu là người để cho người tốt tham khảo (nghĩa là lấy đó mà răn mình).

(11) Chín phái trong chư tử bách gia. Văn Nghệ Chí của Hán Thư phân loại các sách đương thời trong lĩnh vực tư tưởng ra làm 10 học phái: Nho gia, Đạo gia, Âm Dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tùng Hoành gia, Tạp gia, Nông gia, Tiểu Thuyết gia, và ở mục Tổng kết viết: 凡諸子百八十九家,四千三百二十四篇。Phàm chư tử bách bát thập cửu gia, tứ thiên tam bách nhị thập tứ thiên.( Tóm lại gồm có 189 nhà, 4324 thiên). Số học phái có 189 nhà nên lấy số đại khái là 100, gọi bách gia. Theo lời tựa của Xuân Thu Cốc Lương Truyện Chú Sớ, 10 học phái trở thành 9 học phái là do loại bỏ Tiểu Thuyết gia ra.

(12) Tức Ngũ Kinh Chính Nghĩa 五経正義do Khổng Dĩnh Đạt孔穎達(574~648, Nho gia đời Đường) soạn để chú giải ngũ kinh:Thượng Thư, Mao Thi, Lễ Ký, Chu Dịch, Xuân Thu Tả Truyện gồm 180 quyển.

(13) Sorai chỉ viết “Minh tác Đại Toàn”. Nishida Taichirô chú thích là Ngũ Kinh Đại Toàn, và gồm có Tứ Thư Đại Toàn và Tính Lý Đại Toàn được soạn theo lệnh của Thái tông (Thành tổ) nhà Minh, để thống nhất Tống học. Theo Yamakawa Thế Giới Sử Tiểu Từ Điển,Ngũ Kinh Đại Toàn là sách chú giải ngũ kinh, gồm có 154 quyển do Hồ Quảng胡広 biên soạn theo lệnh của Vĩnh Lạc Đế đời Minh, hoàn thành năm 1415 để làm tiêu chuẩn cho khoa cử.

Người dịch tra Wikisource thấy: Tứ Thư Đại Toàn chú giải các sách Đại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Trung Dung, và Tính Lý Đại Toàn gồm 70 quyển.

Nguyễn Sơn Hùng. Soạn xong ngày 13/1/2026Bổ sung nhận xét ngày 25/3/2026


Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng

29 thg 3, 2026

Ở Đây Buồn Hơn Gò Dầu - Thuyên Huy

 


MỜI XEM



Dì Tôi - Người Nữ Tu Bạc Mệnh - Thuyên Huy

Giai thoại Trần Đức Thảo kiện Jean Paul Sartre ở Paris Nam Nguyễn

Đầu năm 1941 Paris-khi đó hoàn toàn bị Đức phát xít chiếm (khác với miền Nam nước Pháp vẫn còn dưới quyền quản lý của chính quyền Pétain) đã ầm ĩ lên một vụ kiện “vô tiền khoáng hậu” và được báo giới chăm sóc, tường thuật kỹ lưỡng và giới trí thức của “kinh đô ánh sáng” theo dõi sát sao. Tên của nó được báo giới là “Vụ kiện mang tính chất Parisien nhất trong lịch sử Paris”, được khoe ngầm là chỉ ở một nơi trí thức được trọng vọng như Paris thì mới có thể có một vụ kiện tương tự, trong hoàn cảnh thế chiến lần thứ 2 đang gay cấn như vậy!


Người bị kiện là Jean-Paul Sartre -một thần tượng của giới trí thức trẻ thủ đô. Anh ta suốt ngày “ngồi đồng“ ở một quán cafe tại quận 6, gần tháp Eiffel, nơi trước đây là tụ điểm của hai nhà thơ nổi tiếng nhất Pháp đương đại-Verlaine và Baudelaire, và bây giờ đến thời Satre “độc diễn”, bọn thanh niên vây quanh “ngôi sao” để hỏi ý kiến về mọi chuyện trên trời dưới biển, chẳng khác gì thỉnh giảng của “sư phụ” hay đúng hơn là guru. Sartre đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm Paris về ngành triết và trở thành người đại biểu nổi bật của chủ nghĩa nhân đạo hiện sinh. Lúc này Sartre đang cặp kè với Simone de Beauvoir-nữ văn sỹ và người đấu tranh cho bình đẳng giới nổi tiếng nhất nước Pháp thời bấy giờ, và thế là bắt đầu một tình bạn, tình yêu của hai người đồng chí hướng-họ đều trở thành những nhà văn và nhà triết học hàng đầu nước Pháp…Chưa bao giờ trở thành vợ chồng (cả hai đều không chấp nhận hôn nhân), nhưng ngày nay hai ngôi mộ của họ nằm cạnh nhau tại nghĩa trang Montparnasse tại Paris. Đã quá nhiều người viết về họ, nhưng ở status này họ chỉ là “bên bị”.


Jean Paul Sartre

Người bị kiện là Jean-Paul Sartre 

một thần tượng của giới trí thức trẻ thủ đô

 

“Bên nguyên” lúc này mới chỉ nổi tiếng tại trường Đại học Sư phạm Paris thôi, vì anh mới học năm thứ ba khoa triết. “Annamite”, tên là Trần Đức Thảo (lúc này Pháp coi thường thuộc địa và ít dùng từ Vienamien) học mấy năm dự bị ở Paris và cũng mới vào trường này thôi, nhưng đã nối tiếng là sinh viên xuất sắc rồi! Đúng truyền thống “triết gia”, Thảo luôn ăn mặc luộm thuộm, bẩn, đầu tóc bù xù, ăn uống thất thường và nói nhiều! Luận án tốt nghiệp (Agrege) Thảo viết mỗi ngày chỉ một trang, thời gian còn lại ông ngồi hoặc nằm ngoài ghế đá trong trường.

 

Hồi đó sinh viên An Nam như Thảo được Bộ Thuộc địa Pháp trả 1000 quan/tháng, cũng đủ ăn mặc và trả tiền phòng. Cũng tạm đủ ăn đủ mặc, Đức chiếm đóng nên đời sống khan hiếm, nhất là thịt, bơ, pho mát, trứng…phải mua chợ đen, và nhất là tem phiếu mua thuốc lá, những sinh viên Việt Nam thường không hút mà mang bán lại để thêm tiền sinh hoạt. Thảo cũng vậy, nhưng đúng như phong thái triết gia, Thảo phải thi thoảng uống rượu, cho nên cũng túng bấn, vì thế tuy đã yêu nhau nhưng ông và bà Nguyễn Thị Nhứt chưa sống chung được với nhau. 


Lý do vụ kiện lịch sử như sau: Thảo coi mình là người hiểu về thuyết hiện sinh còn hơn cả Sartre-lá cờ đầu của chủ nghĩa hiện sinh tại Pháp! Thời đó mặc dù chiến tranh xảy ra nhưng các hoạt động khoa học vẫn rất được coi trọng, vẫn có những buổi diễn thuyết với đề tài hay và hội trường chật cứng người nghe, nhiều khi phải tổ chức cho diễn giả nói ngoài trời! Triết học là môn khoa học xã hội được coi trọng bậc nhất thời đó, “sang trọng” nhất, trong giới triết học cũng như tri thức trẻ Paris “ông vua không ngai” Sartre không thể chịu được “ngôi sao đang lên”-một kẻ kém mình đến hơn chục tuổi, lại là dân Annamite mà lại lộng ngôn như vậy- nên chấp nhận lời thách đấu. Hai người thỏa thuận với nhau là sẽ tranh luận công khai nhiều buổi, tất cả nội dung tranh luận sẽ được đăng chính xác trên tờ báo “Esprit”-một tờ báo “ruột” của Sartre. Sau nhiều bài báo về đề tài đó, Thảo phát hiện ra tờ báo không đăng đúng nguyên văn lời của anh, mà sửa đi theo cách có lợi cho Sartre, thế nên quyết định kiện Sartre ra tòa vì tội “không tuân thủ hợp đồng danh dự”!


Ra tòa Thảo mang cả microsillon-là một loại đĩa than làm từ băng cối ra, để thu phát âm –trình ra để làm bằng chứng cuộc đấu khẩu, trong đó Thảo có nói đến nhiều thuật ngữ cơ bản bằng tiếng Đức! Tòa tất nhiên không thể xử Sartre-một thần tượng của “mẫu quốc” lại thua một người con thuộc địa, nên cuối cùng đã xử hòa! Ông phải chật vật để trả nửa tiền án phí nhưng cả Paris hiểu rằng Thảo mới là người chiến thắng …


Trần Đức Thảo sau đó làm luận án tiến sỹ triết học tại Pháp với đề tài về triết học của Husserl. Ngoài ra ông có một đề tài rất lạ “Tìm hiểu về nguồn gốc các ngôn ngữ và ý thức”. Gia tài triết học của Thảo rất đồ sộ và chắc nhiều năm nữa mới có thể có người đánh giá được hết. Đối với giới triết học Pháp thì Trần Đức Thảo vẫn là một tượng đài để kính trọng “Nếu không có Thảo thì giới triết học Pháp đã không có đề tài gì để tranh luận trong suốt mấy chục năm cuối thế kỷ 20!”- à đánh giá rất cao của họ về các tác phẩm của ông về chủ nghĩa Marx.

Còn tôi thì hoàn toàn công nhận đánh giá của nhà sử học Trần Văn Giàu về ông Thảo, ông là nhà triết học đúng nghĩa duy nhất của Việt Nam ta cho đến ngày nay…



Cuộc tranh luận triết học giữa Trần Đức Thảo và Sartre

trong cuốn Đèn cù của Trần Đỉnh 

Đông La


Trong cuốn Đèn cù,Trần Đĩnh có viết về cuộc tranh luận triết học giữa Trần Đức Thảo và Sartre. Với những người quan tâm đến triết học, đây là một cuộc tranh luận lừng danh, vì có lẽ Trần Đức Thảo là người Việt Nam duy nhất tranh luận với một nhà triết học, nhà văn tầm cỡ Jean-Paul Sartre, người từng được trao giải Nobel Văn học vào năm 1964 nhưng ông từ chối.


Theo GS Nguyễn Đình Chú: “Trần Đức Thảo đã đứng trên lập trường Mác-xít tranh luận với nhà triết học nổi tiếng của Pháp là ông Jean-Paul Sartre và được dư luận cho là thắng cuộc”. Cuộc tranh luận này cùng với nhận xét của GS Trần Văn Giàu về Trần Đức Thảo thường được coi là những cơ sở để giới học thuật cho rằng, ở Việt Nam chỉ có học giả triết học còn để được gọi là “nhà triết học” thì chỉ có duy nhất Trần Đức Thảo. Cũng theo GS Nguyễn Đình Chú: “Giáo sư dạy triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chúng tôi ở năm thứ nhất là Trần Văn Giàu mà thuở ấy, không chỉ với học trò chúng tôi mà còn cả với dư luận xã hội, là một thần tượng không ai bằng. Ấy vậy mà một lần, trong buổi giải lao, giáo sư Trần Văn Giàu đã nói với học trò tại sân trường, các cậu muốn biết thế nào là triết học thì hãy chờ sang năm học với thầy Thảo. Thầy Thảo là người đọc gần hết sách của thư viện Paris”.


Có điều theo Trần Đĩnh, sự thật cuộc tranh luận triết học giữa Trần Đức Thảo và Sartre lại chỉ là chuyện “tưởng tượng”: “Sáng  hôm  ấy,  tôi  hỏi  anh  tranh  luận  với  Sartre  ngày  ở Pháp  làm sao, Thảo nhăn mặt  lại: Tranh  luận nào?... Không có đâu. Tranh luận thế nào được với Sartre? Thấy rõ nét mặt ngượng nghịu của anh lúc bấy giờ. 


Chuyện là như thế này: lúc ấy có một hội thảo trên sách báo của giới triết học, trong đó có Thảo. Theo dự định, Sartre cũng có một tham luận - và tham luận ấy đối lại với cái của Thảo chứ không phải có tổ chức hội thảo mặt đối mặt với nhau, nhưng rồi không hiểu sao Sartre không  tham  luận nữa. Thảo nói chắc ông  ta  thấy nhảy vào cuộc này chẳng đem lại danh giá gì hơn cho ông ta.


Theo TS Triết học  Cù Huy Chử và Cù Huy Song Hà:

“Năm 1950, Trần Đức Thảo đối thoại với Jean-Paul Sartre về chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa Mác. Điểm khác nhau căn bản trong cách đặt vấn đề là: Jean-Paul Sartre chỉ công nhận chủ nghĩa Mác có giá trị về khoa học lịch sử và xã hội, theo ông chủ nghĩa Mác không có giá trị nhận thức triết học. Ngược lại Trần Đức Thảo cho rằng chủ nghĩa Mác có giá trị toàn diện, cả lịch sử, cả xã hội và cả triết học. 

Cuộc đối thoại gặp bế tắc khi đề cập đến Hiện tượng học của Husserl, vì Jean-Paul Sartre chưa thấu hiểu chủ nghĩa Mác và chưa đọc hết các tác phẩm căn bản của Mác, Jean-Paul Sartre cũng chưa đọc hết các tác phẩm của Husserl. Bởi vậy cuộc đối thoại đi vào bế tắc, thất bại, hai bên không ra được tác phẩm chung về cuộc đối thoại ấy. Sau này khi Jean-Paul Sartre qua đời, Trần Đức Thảo có nói với chúng tôi: Phải tầm cỡ như Jean-Paul Sartre mới đặt ra được sự nghi vấn về giá trị triết học của chủ nghĩa Mác, bởi vì trong bối cảnh lúc bấy giờ, tư tưởng Stalin đang đóng vai trò gần như thống trị học thuyết mác-xít, đã hướng chủ nghĩa Mác đi vào chính trị đơn thuần, dung tục hóa, đơn giản hóa chủ nghĩa Mác, làm mất đi giá trị căn bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đó là tính nhân văn, nhân bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, có khả năng khái quát toàn bộ quy luật của sự vận động của thế giới, là sự phát triển của tự nhiên tất yếu dẫn đến sự phát triển có tính loài của con người, sự phát triển của xã hội. Cuộc trao đổi giữa Trần Đức Thảo với Jean-Paul Sartre tuy không có kết quả, nhưng Trần Đức Thảo đã ý thức được của việc nhận thức và phát triển sai lệch triết học Mác thời điểm ấy”.


Như vậy ai đúng, ai sai, sự thật về cuộc tranh luận là như thế nào?

Còn cuộc tranh luận giữa Trần Đức Thảo và Jean-Paul Sartre có lẽ đúng nhất là theo chính Hồi ký của Trần Đức Thảo mà ông đã viết trước khi mất mấy năm:

“Trong giai đoạn cuối cùng của tôi ngày xưa ở bên Pháp, tôi đã xác nhận chủ nghĩa Marx trong bài từ giã chủ nghĩa hiện sinh: “Hiện tượng học của tinh thần và nội dung thực tế của nó”. (Les Temps Modernes tháng 9-1948). Trong ấy tôi biện minh cho sự lựa chọn của tôi bằng cách nêu lên những chân trời rộng rãi mà quan điểm duy vật biện chứng và lịch sử xã hội mở ra cho công việc phân tích ý thức sinh thức.


Đấy là cái mà tôi đã tìm cách giải thích cho Jean-Paul Sartre trong năm buổi trao đổi tiến hành vào mùa đông 1949-1950, theo lời mời của ông ấy. Tuy nhiên buổi nào cũng đi đến kết quả tiêu cực, do sự bất đồng cơ bản ngay từ xuất phát điểm trong thế giới quan của hai bên. Cuối cùng thì chỉ còn có thể ghi nhận rằng không thể nào dung hòa giữa chủ nghĩa hiện sinh với chủ nghĩa Marx”. 


Nguồn: triethoc.edu.vn

22-9-2014

 Xem Thêm : Trần Đức Thảo

                      Jean-Paul Sartre

27 thg 3, 2026

Vườn Thơ Mới Kỳ 187, Bài Xướng :XA CHA -PTL

 

Xa Cha

Năm bảy chín (1979) tiển Cha về quê nội
Con vội vàng vĩnh biệt nước ra đi
Không biết tương lai có được cái gì
Đành thắt ruột xa Cha thêm lần nữa

Nhìn xe đò đến đón Cha nơi cửa
Con ngậm ngùi xin bất hiếu với Cha
Rồi ngày mai con sẽ đến phương xa
Không thân thuộc người quen hay bằng hữu

Nơi đất khách con trông về quê cũ
Đời quan phu lặng lẽ sống nuôi con
Con biệt tăm Cha ngóng đợi mõi mòn
Năm tám bảy (1987), Bồng lai, nơi Cha đến

PTL

Oct. 10, 2025

quan phu   : người góa vợ

Họa 1:

Nhớ quê xưa.

Mỗi dịp tết háo hức về nhà nội
Kiến trúc xưa sàn gỗ mát chân đi
Thuở ấu thơ chưa phải nghĩ lo gì
Leo hái trái hết cây này, cây nữa...

Chơi cút bắt trốn mình sau cánh cửa
Chiều tắm sông, sợ nước níu chân cha
Ngắm lục bình theo sóng mãi trôi xa
Hoa tim tím như mời ai sở hữu.

Năm tháng dần trôi còn đâu cảnh cũ
Tóc bạc màu mong trở lại trẻ con
Bờ sông xưa sóng xô lở hao mòn
Bao ký ức chợt về khi tết đến.
Minh Tâm

Họa 2:

Mất Ba 

Rơi nước mắt đưa ba ra đồng nội
Bảy chín mùng mười ba trút hơi đi
Tai họa từ đâu ập tới làm gì
Ba đã mất không còn mong chi nữa

Quan tài của ba cây gòn trước cửa
Bốn thanh dài đủ đựng hình hài cha
Đau xót tâm cang máu chảy chia xa
Mắt đẩm lệ đám ma vài thân hữu

Đổi đời đói khổ năm giao thời cũ
Anh trai tù cải tạo thiếu bà con
Tiển cha đi theo xóm nhỏ lối mòn
Khăn tang trắng mộ phần nơi ba đếnHương Lệ Oanh VA

Họa 3:

Nỗi lòng

Chủ tịch Đảng hổn danh Ông Cố Nội
Nước non nầy Ông quyết định hướng đi
Đất nước ta Ông chả phải quái gì
Tài sức hẳn khỏi cần bàn tới nữa

Hậu quả đến cảnh tan nhà nát cửa
Con cái cam đành cách biệt mẹ cha
Tìm đất lành dù lạc bước phương xa
Ruộng vườn đất Đảng Ta đà chiếm hữu

Nơi xa xôi chợt nhớ về chốn cũ
Con sông Đồng ôm ấp mái tranh con
Thôn ấp nhỏ giăng mắc dấu chân mòn
Ông Cố Nội tại sao Ông lại đến ?!
THT

Họa 4:

Ký ức

Sau cuộc chiến Mẹ đưa về xứ nội
Bến Ninh Kiều tấp nập lắm người đi
Nhìn mong lung không hiểu bởi lẽ gì
Chỉ cảm nhận bình an không còn nữa

Chập choạng tối, ông tựa mình trước cửa
Nét buồn lo trông ngóng của người cha…
Khánh chồng con đồn trú ở phương xa*
Ảnh không thể nào rời xa chiến hữu…

Lời mẹ nói đầm đìa dòng lệ cũ
Kể từ khi Mẹ biết mất cha con
Mắt mẹ thâm sẫm tím đến héo mòn
Ông vội bảo… Tìm nơi an trú đến… **
Tâm Quã

*Lời của mẹ
**Ông bà nội và Mẹ-Tôi ra biển
Cuộc đời trôi theo một chuyến hãi hành

Họa 5:

Xa Mẹ vĩnh viễn

Đậu phỏng vấn tôi vội về bên nội
Thăm mẹ già lần cuối , bước chân đi
Nhìn tương lai không biết trước điều gì
Nhưng quyết định, cơ may không còn nữa

Nhà tôi đó bóng mẹ già tựa cửa
Ngồi trông con về làm giỗ cúng cha
Gặp mẹ lần cuối vĩnh viễn chia xa
Cô đơn cất bước không ai thân hữu

Ôi ly khách nay ngóng về chốn cũ
Ta ngày đêm sống lặng lẽ vì con
Vui một ngày vẫn nhớ mẹ hao mòn
Mẹ tạ thế chốn Vĩnh hằng tìm đến…
Nguyễn Cang
Mar. 1, 2026

Họa 6:

Ân phụ

Con tiễn bước đau lòng cha về nội
Lệ rơi hoài lòng nghẹn tiễn cha đi
Mai ra đi lòng quặn biết được gì
Đêm vắng bước con tim đau lần nữa

Sân chiều vắng con thơ nhìn ra cửa
Con xa quê lòng nghẹn nhớ về Cha
Mai ly hương đời mỏi bước đường xa
Tình nghĩa cũ con còn đâu bằng hữu

Nơi đất lạ con tìm về quê cũ
Cha âm thầm đời tần tảo nuôi con
Con xa quê lòng khắc khoải đợi mòn
Ngày trở gót con mong cha về đến
ChatGPT AI

Chú thích của PTL về từ cải tạo:
Sau 30-4-1975, chính quyền dùng từ cải tạo 改造 .
Đó là sai lầm. Cải tạo nghĩa là sửa đổi, làm cho thích ứng với hình thể và nhu cầu mới.
Từ này dùng cho vật vô tri vô giác.
Trong Thi Kinh 詩經 có câu:
Truy y chi hảo hề, Tệ dư hựu cải tạo hề
 緇衣之好兮, 敝予又改造兮
Áo đen (xưa dùng chỉ trang phục mộc mạc) đẹp tốt, nếu rách thì chúng tôi làm cái áo khác đổi cho

Muốn dùng cho con người thì phải dùng cải hối 改悔 nghĩa là hối lỗi và sửa đổi
Trong Chiến quốc sách 戰國策 có câu:
Thái tử trì chi, nghi kì hữu cải hối 
子遲之, 疑其有改悔 
 Thái Tử Đan thấy chậm trễ, ngờ Kinh Kha đã hối hận mà đổi ý.

Trước 30-4-1975, miền Nam dùng từ Cải huấn 改 訓
Cải 改: biến đổi
Huấn 訓 : dạy dỗ
Cải huấn nghĩa là quá trình dạy đỗ, rèn luyện và uốn nắn lại hành vi, tư tưởng 
của những người vi phạm pháp luật hoặc trẻ em hư hỏng.

Xem Thêm 
1. Tân nhạc: Xa Cha
Lời bài hát: Trần-Lâm Phát
Ca sĩ: AI Suno
Và Các Bài cổ Nhạc Tại :


:

Vượt suối - Đoàn Xuân Thu

 Ai đó từng nói: “Người Mỹ không sinh ra để khuất phục.” Và trên con đường Oregon, câu nói đó hiện hữu rõ rệt trong đôi mắt của hai đứa trẻ: Clara10 tuổi và em trai Samuel. Bụi mù bay theo từng bước chân, nắng hè thiêu đốt đôi ủng cũ, nhưng họ vẫn tiến về phía trước, sát bên chiếc xe ngựa phủ bạt của gia đình. 

Ngày hôm đó, đoàn xe dừng trước một con suối rộng, nước chảy xiết, tiếng gầm vang dội như thử thách bản lĩnh. Người lớn tranh luận cách vượt qua con suối đang cuồng nộ, nhưng Clara chỉ nhìn em trai. Samuel bấu chặt con ngựa đồ chơi rách nát và thỏ thẻ: “Mình có mất hết không, Clara?” Nỗi lo ấy không chỉ là nỗi sợ của một đứa trẻ, mà là bản năng sinh tồn – một thử thách mà bất cứ ai, khi đối diện với hiểm nguy, đều đã trải qua. 

Khi xe bắt đầu lội qua dòng nước dữ, hỗn loạn xảy ra: bánh xe rên rỉ, bò kéo hoảng loạn, nước cuồn cuộn dâng cao. Samuel trượt chân trên hòn đá trơn, lăn về phía dòng chảy xiết. Không chút do dự, Clara nắm chặt tay em, chân bám vào lòng suối trái tim đập thình thịch. “Nắm chặt!” em hét giữa tiếng nước gầm. Hình ảnh ấy phản ảnh tinh thần dũng cảm vượt tuổi đời của người Mỹ: dám đối mặt nguy hiểm, không bỏ rơi ai, dù là em bé, dù là chính mình. 

Người cha kịp thời chạy đến, kéo hai chị em lên cạnh xe. Samuel khóc nức nở, ôm chặt con ngựa đồ chơi, còn Clara, ướt sũng và run rẩy, nhìn lại dòng nước xoáy. Gia đình mất một số vật dụng, nhưng họ không đánh mất nhau. Câu chuyện tưởng giản dị này chứa đựng tinh thần kiên cường, dũng cảm và tình cảm gia đình, những giá trị làm nên bản sắc Mỹ. 

Buổi tối, bên lửa trại bập bùng, mẹ Clara tết tóc ướt cho con và thì thầm: “Con đã dũng cảm hơn nhiều người đàn ông trưởng thành.” Clara im lặng, nhưng trong lòng em cảm nhận khác hẳn con đường dài: không còn là trò chơi trẻ con nữa, mà là một phần cuộc chiến sống còn, hành trình di dân đã đưa hàng triệu gia đình vượt miền Tây hoang dã. 
Inline image
Lòng dũng cảm của gia đình trên Đường mòn Oregon – nguồn facebook

Câu chuyện Clara và Samuel không chỉ là ký ức cá nhân mà còn là biểu tượng tinh thần Mỹ: dám đối mặt thử thách, không khuất phục trước nguy hiểm, và luôn đặt người khác trên mình. Người Mỹ, từ thời khai phá miền Tây, được rèn luyện qua sông dữ, sa mạc khô cằn, đỉnh núi cheo leo. Tinh thần ấy không chỉ là can đảm thể chất mà còn là kiên nhẫn, quyết tâm và thái độ lạc quan bất chấp khó khăn. 

Tinh thần ấy còn thể hiện qua sự gắn kết gia đình, qua cách người Mỹ dạy con cái quan tâm và bảo vệ lẫn nhau. Clara, một cô bé 10 tuổi, đã thể hiện phẩm chất mà người Mỹ thường tự hào: tự lập nhưng không đơn độc, dũng cảm nhưng không ích kỷ. Đây là giá trị giúp họ vượt qua thử thách trong lịch sử, từ khai phá miền Tây đến xây dựng xã hội nước Mỹ hiện đại ngày nay. 

Câu chuyện còn gợi nhắc sức mạnh tinh thần: thất bại hay mất mát vật chất không đáng sợ bằng mất đi tình thân và sự đoàn kết. Ngay cả khi gia đình mất vật dụng, họ vẫn còn nhau – tình thân, dũng cảm và khả năng tiếp tục hành trình. Người Mỹ coi trọng kiên nhẫn trong thử thách, và kiên nhẫn gắn liền với lòng dũng cảm, sự quyết tâm không bỏ cuộc. 

Nhìn Clara và Samuel, ta thấy bóng dáng cả một dân tộc: trẻ con học giá trị dũng cảm, người lớn học sự khiêm nhường trước thiên nhiên, và tất cả nhận ra sức mạnh lớn nhất không nằm ở cơ bắp mà ở tinh thần. Hình ảnh Clara đứng giữa dòng nước, nắm chặt tay em, trở thành biểu tượng tinh thần: dũng cảm, tình thương, kiên nhẫn và niềm tin vào chính mình. 

Qua câu chuyện nhỏ bé này, chúng ta hiểu rõ hơn về tính cách người Mỹ: kiên cường, dũng cảm, lạc quan, gắn bó gia đình – tất cả tạo nên một dân tộc vừa mạnh mẽ vừa nhân hậu. Clara, Samuel và gia đình chỉ là một trong hàng triệu câu chuyện tương tự trên con đường khai phá miền Tây, nhưng phản chiếu trung thực phẩm chất của một dân tộc: kiên cường, dũng cảm và tràn đầy hy vọng. 

Kết lại, câu chuyện Oregon Trail không chỉ là ký ức của trẻ em di dân mà là biểu tượng sống động của người Mỹ: biết đứng lên trước thử thách, biết giữ nhau trong nghịch cảnh, và biết biến can đảm thành sức mạnh tinh thần. Họ không chỉ đi qua sông suối, sa mạc, núi non, mà còn vượt qua chính nỗi sợ trong tâm hồn, để lại cho thế hệ sau hình ảnh một dân tộc không bao giờ bỏ cuộc, luôn dám ước mơ và hành động. Clara và Samuel, dù chỉ là trẻ em trên con đường dài hun hút, đã cho thấy phẩm chất của người Mỹ không đo bằng tuổi, mà bằng trái tim, lòng dũng cảm và tinh thần Mỹ kiên cường. 

ĐXT

Hoa Huỳnh chuyển

26 thg 3, 2026

HẠT MƯA ,MỘT CHIỀU NÀO TRÊN BẾN CÔ LIÊU ,- Phạm Bắc ( SPSG K. 13 )

 HẠT MƯA

Có một bài hát bắt đầu bằng những câu : "Mưa, mưa vẫn rơi như muôn đời, là những giọt nước cứ rơi rơi..."
Từ muôn đời, mưa chỉ là những giọt nước từ trên trời rơi xuống, nhưng sao nó gieo vào lòng người thật nhiều cảm xúc. Những hạt mưa tắm mát một thời trẻ thơ cùng với những tiếng cười đùa la hét vô tư. Những hạt mưa rải trên cánh đồng lúa một thời tuổi nhỏ đi câu cá, bắt cua, bắt ốc. Những hạt mưa làm bong bóng nổi trên mặt đường như bao suy nghĩ vu vơ chợt phồng chợt vỡ trong tâm hồn tuổi mới lớn. Những hạt mưa bay ngoài cửa sổ lớp học cùng với những cảm xúc nhẹ nhàng thoáng qua của thời áo trắng. Những hạt mưa buổi chiều tan học, nhẹ rơi trên bờ vai áo dài làm ướt con tim khi "em tan trường về, đường mưa nho nhỏ". Những hạt mưa trên sân trường đầy xác hoa phượng đỏ, hoà lẫn với những giọt nước mắt chia tay trong mùa hạ cuối cùng của thuở học trò.
Rồi những năm tháng nơi vùng cao, có những hạt mưa trên mái tranh, mưa trên nương rẫy, mưa trên núi đồi mịt mờ, mưa trên những khu rừng già hoang vu, mưa trên dòng sông lặng lẽ, mưa trong lòng người lúc đêm khuya và mưa trên những cuộc tình mong manh nhưng đầy luyến tiếc.... Bây giờ, những hạt mưa ngày đó vẫn đang rơi rơi, rơi rơi...
MỘT CHIỀU NÀO TRÊN BẾN CÔ LIÊU
Cầu Võ Xu bắc qua dòng sông La Ngà, nối liền thị trấn Võ Xu và xã Mê Pu huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Năm 1975, khi mình đến đây thì chiếc cầu sắt màu đỏ bắc qua sông đã bị sập, chỉ còn một phần nhô lên khỏi mặt nước, muốn qua sông phải đi đò. Ngày ấy, có một buổi chiều nắng nhẹ, mình khoác ba lô đứng chờ đò bên bến sông này. Khung cảnh thật đẹp, trời mây bao la, núi rừng trùng điệp xa xa, nước sông trôi lờ lững êm đềm, nắng chiều mênh mang khiến lòng lữ khách bâng khuâng xao xuyến.... Chợt nhớ đến những câu hát :
Một chiều nào trên bến cô liêu
Xóm bên sông tiêu điều
Buồn hắt hiu mây chiều...(trích từ Bài hát "ĐÒ CHIỀU"

BỌ CẠP VÀ CON ẾCH


BỌ CẠP VÀ CON ẾCH

Một con bọ cạp xin ếch cõng qua sông.

Ếch cảnh giác:
“Nếu anh chích tôi thì sao?”
Bọ cạp cười:
“Nếu tôi làm vậy thì cả hai cùng chết. Tôi đâu ngu.”
Nghe hợp lý.
Ếch đồng ý.
Ra giữa dòng…
bọ cạp chích.

Cả hai bắt đầu chìm.
Ếch đau đớn hỏi:
“Vì sao anh làm vậy?”
Bọ cạp nói một câu lạnh lẽo:
“Vì đó là bản chất của tôi.”
Nhiều người đọc câu chuyện này và nghĩ bài học là:
Đừng tin kẻ xấu.
Không.
Bài học thật sự còn tàn nhẫn hơn.
Đừng dùng logic để đánh giá bản chất con người.
Có những người làm điều sai
không phải vì họ được lợi.
Mà vì họ không thể khác.

Họ sẽ:

phản bội người giúp mình

phá hỏng thứ tốt đẹp

chích… ngay cả khi chính họ cũng chìm theo.

Không phải vì n.g.u.

Vì đó là bản chất.

Và sai lầm lớn nhất của con ếch
không phải là cõng bọ cạp.

Sai lầm của nó là tin rằng bản chất có thể thương lượng.

Trong cuộc đời này, hãy nhớ một điều rất lạnh:

Lý trí có thể thuyết phục bạn.
Nhưng bản chất mới là thứ quyết định hành vi.

Nếu bạn đặt lòng tin vào nhầm bản chất…

thì đến giữa dòng rồi
bạn mới biết mình đang cõng ai trên lưng.