Nguyễn Sơn Hùng
***
Lời thưa trước
Trong quá trình tìm hiểu ý nghĩa của 1 câu trích dẫn từ thiên 18 Học Ký sách Lễ Ký để biên tập phần Ghi Chú của Biện Đạo (Bài 15), người viết rất ngạc nhiên về nội dung của thiên này: có những nội dung rất đáng để chúng ta suy ngẫm và phát huy thêm về việc học. Điều mà người viết lấy làm lạ và đáng tiếc là sách Lễ Ký rất ít được người Việt Nam chúng ta quan tâm! Có lẽ 2 lý do chính là, 1) Vì cho rằng sách này chỉ viết về nghi thức rườm rà phiền toái về hình thức; 2) Vì ngôn từ trong sách rất khó hiểu!
Sách biên dịch tiếng Việt hình như chỉ có tác phẩm biên dịch của ông Nguyễn Tôn Nhan được nhà xuất bản Văn Học xuất bản vào năm 1999. Tuy nhiên sau khi tìm hiểu sơ lược tác phẩm biên dịch này, người viết mới biết sách chỉ dịch có một phần của nguyên tác, tỷ lệ cụ thể được biên dịch sẽ giới thiệu trong dịp khác. Nhờ đọc tác phẩm của Matsushita Kônosuke (1) (2) và Biện Đạo của Ogyuu Sorai người viết mới biết được tầm quan trọng của lễ và từ đó có ý định tìm hiểu thêm nội dung của sách Lễ Ký.
Qua quá trình tìm hiểu sơ bộ sách Lễ Ký, người viết phát hiện ngoài phần lớn nói về các lễ nghi, đặc biệt về tang chế, còn có những nội dung rất quan trọng về ý nghĩa của lễ, và đó cũng là những lý do mà các thánh vương cổ đại đặt ra lễ nhạc để xây dựng và quản lý xã hội con người sống an vui và trường tồn. Một thí dụ cụ thể, thiên 18 Học Ký này cho chúng ta biết tại sao các thánh vương cổ đại xem trọng việc học và giáo dục. Mặc dù do tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và xã hội có những nội dung không còn thích hợp nhưng những cơ sở căn bản mà thiên này nói về việc học và giáo dục vẫn còn đáng được tham khảo và duy trì để khai triển thêm.
Phải nói ngôn từ trong thiên này nói riêng và cả toàn tác phẩm Lễ Ký nói chung rất khó hiểu, nhiều học giả có những giải thích khác nhau. (Do đó, có nhiều điểm nội dung dịch giải của ông Nguyễn Tôn Nhan không giống với phần đông các dịch giả Nhật Bản). Mặc dù vậy người viết vẫn nghĩ rằng cốt lõi của toàn thiên đáng để tham khảo, suy ngẫm thêm để áp dụng hoặc khai triển thêm. Người viết tin rằng biết được cách hiểu của nhiều người không phải vô ích.
Trong bài này, phần tóm tắt nội dung của toàn thiên, người viết căn cứ vào bản biên dịch và chú giải của giáo thụ Takeuchi Terao, những chỗ vẫn không hiểu hoặc không đồng ý thì tham khảo thêm sách Lễ Ký Quốc Tự Giải của Katsura Gojuurô (1868~1938, hiệu Koson (Hồ Thôn)). Căn cứ vào nội dung tóm tắt này, người viết sẽ tiếp tục tìm hiểu ý nghĩa của nội dung nguyên tác chi tiết.
Tóm tắt
Nội dung thiên 18 Học Ký nói về (1) Hiệu quả của giáo dục và học vấn, (2) Mục đích giáo dục cấp đại học ở cổ đại, (3) Phương châm giáo dục nên theo và khuyết điểm cần tránh, (3) Các điều trọng yếu mà thầy dạy và người học cần nên ghi nhớ.
Toàn thiên gồm có 11 tiết. Bản biên dịch của Nguyễn Tôn Nhan biên dịch các tiết 1~ 6 và phần đầu tiết 7 (phần cuối của tiết 4 cũng không được dịch).
Đại ý
Đại ý của các tiết có thể tóm tắt như Bảng 1.
Bảng 1 Đại ý của 11 tiết trong thiên 18 Học Ký sách Lễ Ký
Tiết | Đại ý |
1 | Hiệu quả của giáo dục và học vấn Để biến đổi dân chúng sống theo phong tục tốt đẹp nhất định phải nhờ vào giáo dục và học vấn. |
2 | Có học mới biết sống tốt và phục vụ tốt xã hội. - Giống như ngọc không được mài dũa thì không thành ngọc quý thật sự, con người không được giáo dục và học hành đúng thì không thành con người đúng và xã hội không được an vui. Do đó các vị thánh vương cổ đại đều lấy việc giáo dục dân làm ưu tiên. - Có học mới biết kiến thức bản thân không đủ, có dạy người mới biết việc dạy người rất khó. Có biết không đủ và khó mới biết phản tĩnh và gắng sức tự học tập thêm. - Dạy người học cũng giúp ích việc học của bản thân người dạy. |
3 | Mục đích bậc đại học cổ đại là để đào tạo tài năng phục vụ việc biến đổi xã hội sống theo phong tục tốt đẹp. - Trường học cổ đại gồm có các cấp bậc: Thục (mỗi 25 hộ), Tường (mỗi 500 hộ), Tự (mỗi 12,500 hộ), Học (cả nước, cấp đại học). - Cấp đại học gồm 10 năm. Mỗi năm đều có nhập học. Sau khi vào học, mỗi 2 năm thi 1 lần. Học đến 8 năm gọi là tiểu thành. Học đến 10 năm gọi là đại thành, tốt nghiệp bậc đại học, được xem là đủ khả năng phục vụ việc biến đổi dân chúng sống theo phong tục tốt đẹp. |
4 | Phương châm giáo dục chủ yếu ở cấp bậc đại học: tạo cho học sinh có tinh thần biết tự ý thức học tập theo năng khiếu và sở thích của mình. Các nghi lễ thực hiện khi nhập học và phương châm giáo dục ở bậc đại học có 7 mục đích sau: 1) Lễ bái các tiên sư: nhằm dạy học sinh tinh thần tôn trọng việc học tập; 2) Luyện tập học sinh ca hát 3 thiên Tiểu Nhã của kinh Thi: để học sinh ý thức vào học bậc đại học là bắt đầu của việc ra làm quan phục vụ xã hội; 3) Khi bắt đầu vào đại học, nhà trường đánh trống tập hợp học sinh ở lớp học, học sinh mở cặp lấy sách ra: cho học sinh hiểu rằng việc học tập cần phải nghe theo chỉ thị của nhà trường; 4) Ở lớp học trưng bày 2 loại roi để cảnh giác việc lười biếng; 5) Trong lễ tế Đế mùa hạ, vua không viềng thăm trường: mục đích để học sinh thông thả học tập, không phải khẩn trương gấp rút việc học; 6) Trong sinh hoạt ở trường các giáo sư luôn quan sát sinh hoạt của học sinh nhưng không can thiệp từ ly, cốt để học sinh tự ý thức chuyên cần học tập chứ không phải ép buộc, cưỡng chế; 7) Trong lúc giảng dạy, giáo sư không chất vấn các học sinh còn nhỏ tuổi, chỉ giảng giải cho nghe: cho học sinh hiểu rằng việc học tập không cần phải khẩn trương, gấp rút. - Sách xưa nói: người học ra làm quan phải ưu tiên học việc phục vụ (thí dụ thủ tục hành chánh…), người học để có kiến thức (thí dụ để làm giáo sư, văn sĩ, thi sĩ…) ưu tiên chí hướng, sở thích của mình. |
5 | Vừa học vừa thực hành mới hiểu rõ nội dung học, có thấy thích thú và ích lợi của việc học mới tích cực học tập và tìm hiểu sâu rộng hơn. - Các môn học được giảng dạy theo mùa: mùa xuân học kinh Thi, mùa hè học kinh Nhạc, mùa thu học kinh Lễ, mùa đông học kinh Thư (thiên 8 Văn Vương Thế Tử). Khi nghỉ ngơi có bài tập. Trong sinh hoạt hàng ngày lúc nào cũng cần phải có ý thức học tập, nghĩa là nghe giảng là học lý thuyết, sinh hoạt với thầy bạn, người khác là thực hành nội dung đã học được. - Thí dụ như : 1) Học đàn (Nhạc) phải để ý đến âm sắc; 2) Học thơ ca (Thi) phải để ý đến tỉ dụ; 3) Học Lễ phải để ý đến trong lúc cư xử với thầy và bạn, lau chùi, sắp xếp đồ đạt…Có thấy việc học hữu ích hoặc thích thú trong sinh hoạt hàng ngày mới vui vẻ gắng sức học tập. |
6 | 4 phương châm tạo hiệu quả giáo dục ở bậc đại học cổ đại: dự (phòng tránh lỗi lầm trước khi xảy ra), thời (đúng lúc, đúng trình độ hấp thụ), tôn (không quá khả năng hấp thụ của học sinh), ma (học bạn, học nhóm). - Trên là phương châm đúng của giáo dục nhưng giáo dục của hiện nay có những sai lầm sau: 1) Giáo sư chỉ đọc giảng các sách giáo khoa có sẵn, và cật vấn học sinh về ý nghĩa của từ ngữ, câu văn, nội dung giảng dạy tản mạn; gấp rút dạy và nới rộng phạm vi học tập không để học sinh thong thả nghiên cứu sâu vấn đề làm cho học sinh không có tâm tình yêu thích việc học; dạy mà không phát huy được năng khiếu của trò, đưa đến kết quả: cách dạy và cách học đều sai lầm. 2) Học sinh không thích học, lại không yêu kính thầy dạy, khổ sở với học tập mà không thấy được lợi ích của việc học nên sau khi tốt nghiệp xong thì bỏ việc học qua một bên. Giáo dục không có hiệu quả chẳng phải do các nguyên nhân trên sao? - Phương châm giáo dục cổ đại ở cấp bậc đại học là 1) Phòng tránh các sai lầm của học sinh trước khi sai lầm xảy ra, gọi là DỰ (phòng lỗi trước khi xảy ra); 2) Dạy môn học vào lúc thời tiết thích hợp, đúng trình độ hấp thụ của học sinh gọi là THỜI (đúng lúc, đúng trình độ hấp thụ); 3) Dạy đến trình độ không vượt quá khả năng hấp thụ của học sinh gọi là TÔN (không quá khả năng hấp thụ); 4) Hướng dẫn các học sinh cùng bàn thảo, khuyên bảo, chỉ dẫn trao dồi việc học với nhau để tiến bộ, gọi MA (học bạn, học nhóm). Bốn phương châm này tạo ra hiệu quả giáo dục. |
7 | 6 nguyên nhân lớn gây trở ngại hiệu quả giáo dục. Giáo dục khéo là làm cho học sinh: yên tâm học tập, phát triển năng khiếu theo sở thích. - Trên là phương châm giáo dục tốt, sau đây là phương châm giáo dục xấu: 1) Sai lầm của học sinh xảy ra mới trách rầy, cấm đoán làm cho học sinh chống đối, việc kiềm chế học sinh trở nên khó khăn. 2) Dạy nội dung không đúng lúc, không hợp trình độ hấp thụ của học sinh, việc học tập trở nên khó khăn, cực nhọc cả thầy lẫn trò mà khó có hiệu quả. 3) Dạy hổn tạp nhiều thứ một cách vô lý làm việc học tập trở nên rối loạn, mất thứ tự hợp lý. 4) Làm cho học sinh cô độc, không hướng dẫn giao tiếp bạn học theo hướng tốt, học sinh trở nên hẹp hòi, cố chấp. 5) Để cho học sinh giao tiếp với các bạn học ham chơi quá độ, học sinh trở nên không nghe theo lời khuyên dạy của thầy, của bậc đàn anh. 6) Để học sinh chơi bời quá độ thành thói quen bỏ đi việc học tập. - Người quân tử sau khi đã thấu hiểu phương châm tốt và xấu của giáo dục nói trên khi ở vị trí chỉ đạo việc giáo dục học sinh nên áp dụng phương châm giáo dục khéo léo như sau:1) Dẫn dắt mà không ép buộc cưỡng chế nên tinh thần của học sinh bình yên, 2) Khai thác năng khiếu mà không cấp bách bắt buộc phải mau thông đạt để học sinh tự tư duy theo sở thích và sở trường. |
8 | 4 khuynh hướng dễ sai lầm của phía học: do quá rộng hoặc do quá hẹp. Đặc điểm người dạy giỏi: lời nói ngắn gọn nhưng dễ được tiếp nhận, ít dùng tỉ dụ nhưng vẫn rõ ràng dễ hiểu. Dạy người dạy giỏi là căn bản để thành người lãnh đạo. Do đó, người quân tử cần phải thận trọng chọn thầy. - Dưới đây là 4 sai lầm của phía người học, người dạy cần phải lưu ý để cứu giúp họ: 1) Mỗi khi học về sự việc gì nếu nới rộng ra quá nhiều sự việc liên quan thì kiến thức trở nên tản mạn. 2) Nếu hạn định phạm vi quá hẹp thì kiến thức trở nên nghèo nàn hẹp hòi. 3) Nếu để bị lôi cuốn theo biến đổi trước mặt của sự việc thì không có được 1 kiến thức hoàn hảo nào. 4) Ngược lại nếu hạn chế trong phạm vi nhỏ hẹp thì kiến thức dễ trở nên hẹp hòi, thiên lệch. - 4 loại sai lầm trên phát sinh từ các tâm lý khác nhau của con người nhưng người dạy có thể quan sát tâm tình của người học mà biết được để cứu giúp họ. Giáo dục là dẫn dắt học sinh phát triển sở trường và chế giảm sở đoản của học sinh. - Người hát hay, tự nhiên người khác bắt chước hát theo; kết quả ca khúc được truyền lan rộng trong xã hội. Tương tự, người thầy dạy giỏi, học trò dễ tiếp nhận tốt; ý hướng, tư tưởng của thầy được phổ biến lan rộng trong xã hội. Xem xét cách dạy của các người thầy dạy giỏi thì thấy rằng lời họ ngắn gọn nhưng người nghe hiểu được điều họ muốn truyền đạt, nếu có ẩn khúc thì cũng ở mức độ thỏa đáng, không dùng nhiều tỉ dụ nhưng nội dung giải thích vẫn minh bạch rõ ràng. Đó là cách tốt dạy người, nội dung dễ được tiếp nhận và truyền đạt cho đời. - Người quân tử cần phải biết trình độ dễ khó, cạn sâu của việc học và tính chất của học sinh để hướng dẫn học tập thích hợp, có như vậy mới thật sự là người thầy dạy giỏi và có thể dạy được nhiều học sinh có hiệu quả tốt. Những người thầy như vậy có tài năng làm chức quan cao và có khả năng lãnh đạo. Có thể nói giáo sư là căn bản để thành người lãnh đạo. Do đó, người quân tử phải thận trọng trong việc chọn thầy để học tập. |
9 | Cách dạy, cách hỏi và cách trả lời câu hỏi mà thầy dạy học và người học cần nên ghi nhớ. - Giữ được tôn nghiêm của thầy dạy thì việc học tập mới được xã hội và người học tôn trọng. Do đó, có 2 trường hợp mà ngay cả vua cũng không được xem bề tôi là bề tôi: 1) Khi bề tôi đảm nhiệm việc cúng tế các tiên vương. 2) Khi cử hành nghi lễ ở trường cấp bậc đại học. - Trường hợp học trò tốt, thầy dạy không tốn nhiều công sức mà hiệu quả dạy cao và người học lại biết ơn thầy. Trường hợp học trò xấu, mất nhiều công sức để dạy mà hiệu quả thấp và trò lại oán hận thầy! - Người biết cách hỏi hoặc cách học giống như người biết cách đốn cây cứng, trước hết đốn phần ít cứng của cây, chừa lại phần lõi cứng. Trước hết giải quyết hoặc học các phần dễ hiểu, dần dần lâu ngày phần khó hiểu tự nhiên trở thành bắt đầu có thể hiểu được. Người không biết cách hỏi, cách học thì có kết quả ngược lại. - Cách trả lời các câu hỏi cho học sinh của người thầy tốt giống như tiếng chuông kêu: đánh bằng vật nhỏ thì chuông kêu nhỏ, đánh bằng vật lớn thì chuông kêu lớn. Người đánh chuông điền đạm bình tĩnh biết đánh vừa đủ sức thì tiếng chuông kêu nghe hay nhất. Người không biết cách trả lời tốt thì không được như trên. |
10 | Việc học tập cần có thời gian, kiên nhẫn và người dẫn dắt tốt. - Nếu chỉ thuộc lòng nhiều kiến thức không đủ để làm thầy tốt dạy người học. Người thầy tốt cần phải nghe kỹ nội dung học trò nói ra và dẫn dắt thích đáng. Nếu học lực của trò không đủ để đặt câu hỏi thích hợp thì thầy phải tự nói ra cho trò hiểu, nếu trò vẫn không hiểu thì lúc đó mới dừng lại. - Con của người thợ rèn giỏi thì biết cách may vá đồ bằng da, con của người thợ làm cung giỏi thì biết cách đan giỏ, muốn đổi hướng xe ngựa thì trước hết đổi hướng của ngựa thì xe sẽ được kéo theo sau. (Ý nói xem việc làm của người lớn chung quanh lâu ngày sẽ sinh ra thói quen hoặc hứng thú làm theo). Người quân tử biết quan sát và thấu hiểu ý nghĩa của 3 thí dụ nói trên thì có thể nhiệt tâm vào việc học. |
11 | Nắm cở sở, căn bản của sự vật là trọng yếu, việc học cũng vậy. - Các học giả cổ đại thường so sánh sự vật và phân xếp loại để hệ thống hóa kiến thức. 1) Trống không phải là dụng cụ dùng quy định âm giai (ngũ thanh) nhưng không có trống thì ngũ thanh không đúng nhịp. 2) Nước (trong suốt) không thuộc trong 5 màu (ngũ sắc) nhưng lấy nước làm nền thì 5 màu rõ nét hơn. 3) Học vấn không phải là điều kiện bắt buộc cho 5 chức quan cổ đại nhưng không có học vấn thì khó quản lý xã hội tốt. 4) Thầy dạy không phải là người trong thân tộc (ngũ phục) nhưng không tiếp nhận nội dung khuyên dạy của thầy thì không biết cách hòa thuận với thân tộc. Quan sát xem xét 4 thí dụ trên có thể thấy ra công dụng của loại gọi là “hữu dụng của vô dụng”. - Người quân tử nói: 1) Tài đức của người đại đức không có giới hạn như tài năng của người thường, việc gì họ cũng có thể quản lý tốt được (bất quan). 2) Kỹ thuật tài năng của người có được đại đạo không giới hạn vào nghề chuyên môn nào, họ có thể làm tốt được mọi việc (bất khí). 3) Người có đại tín không giữ lời hứa như người thường nhưng họ có điều phải tin vào họ, không tin họ không được. 4) Đối với một khoảng thời dài nếu có hiện tượng thay đổi nhiều lần trong khoảng thời gian dài đó thì chúng ta không cảm thấy thời gian dài. Nếu thấu hiểu ý nghĩa của 4 thí dụ trên thì có lẽ người quân tử giác ngộ được rằng cần phải nắm vững căn bản của việc học. - Các vị vua của 3 thời đại Hạ, Ân, Chu khi tế lễ nước đều tế lễ sông ngòi trước, sau đó mới tế lễ biển cả. Điều này cho thấy họ tôn trọng nguồn gốc, căn bản hơn. |
Ghi chú
Nguyễn Sơn Hùng biên dịch (2021): Lễ và Tu Thân.
Nguyên tác:“Lễ và tu thân” trong sách “Triết học của Matsushita Kônosuke” (tiếng Nhật), cơ quan phát hành: Viện nghiên cứu PHP, năm 2002, trang 167~173. Bài thứ 30 được đăng vào tháng 9 năm 1950 trong nguyệt san của Viện nghiên cứu PHP trong 40 bài “Lời ngỏ của PHP”, sau được tổng hợp thành sách với tựa “Lời ngỏ của PHP” xuất bản năm 1953, cải biên năm 1975, vào năm 2002 được biên soạn lại và xuất bản với tựa mới là “Triết học của Matsushita Kônosuke”. Sau đó sách này được tái bản vào năm 2009. Phiên bản dùng để dịch là phiên bản năm 2002.
http://www.erct.com/2-ThoVan/N-Son-Hung/Le-va-tu-than.htm
(2) Nguyễn Sơn Hùng biên dịch (2021): “Ý Nghĩa Cội Nguồn của Lễ là gì?”. Nguyên tác: “Ý Nghĩa Cội Nguồn của Lễ là gì?” trong “Triết học của Matsushita Kônosuke” (tiếng Nhật), trang 136~147, cơ quan phát hành: Viện nghiên cứu PHP, năm 2002,
http://www.erct.com/2-ThoVan/N-Son-Hung/Y-nghia-coi-nguon.htm
Nguyễn Sơn Hùng
Biên soạn ngày 4~5/11/2026
Tài liệu tham khảo
Takeuchi Terao (1979, 1996): Lễ Ký – Tân Thích Hán Văn Đại Hệ quyển 27, 28, 29, Meijishoin.
Katsura Gojuurô (1927): Lễ Ký Quốc Tự Giải quyển hạ, Waseda Daigaku Shuppanbu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét