2 thg 2, 2026

Tên gọi: HIỆP CHÚNG QUỐC HOA KỲ

 

Quốc danh Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States, viết tắt là US), hay còn gọi là Mỹ (tiếng Anh: America), tên gọi đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Anh: United States of America, viết tắt là USA).
Chúng: 眾 nhiều, đông. Như: “chúng sinh” 眾生
Mọi người, nhiều vật, nhiều sự vật. ◎Như: “quần chúng” 群眾 mọi người, “quan chúng” 觀眾 khán giả.
(Quần) chúng: 大眾 Đại chúng; 觀眾 Khán giả; 聽眾 Thính giả (Thính chúng).
Quốc 國 hay Bang 邦 : Ngày xưa là đất phong cho chư hầu. Đất lớn gọi là “bang” 邦, đất nhỏ gọi là “quốc” 國.
Bang: Phiếm chỉ quốc gia. ◎Như: “hữu bang” 友邦 nước bạn, “lân bang” 鄰邦 nước láng giềng.
Hợp Chúng Quốc 合眾國 The United States.
Hợp Chúng Quốc có nghĩa là quốc gia do nhiều tiểu bang liên hiệp lại mà thành (The United States). “Chúng” ở đây có nghĩa là “nhiều”, nhưng hay bị gọi thành “hợp chủng quốc” vì nhiều người cho rằng đây là quốc gia do nhiều chủng tộc hợp thành. Tuy nhiên cách gọi này không chính xác, bản thân trong tên tiếng Anh đầy đủ của Hoa Kỳ là “The United States of America” cũng không có từ nào đề cập đến chủng tộc.
Chủng (chúng): 種 Giống, hạt giống. ◎Như: “tuyển chủng” 選種 chọn giống, “chủng tử” 種籽 hạt giống.
Chủng, thứ, loại, hạng: 兵種 Binh chủng
Chủng ngừa, chủng đậu mùa.
Giồng, trồng, gieo. ◎Như: “chúng thụ” 種種 trồng cây.
Chủng tộc, giống người, giống dân.
Như vậy, không hề có yếu tố chủng tộc trong quốc danh cho nên gọi là Hợp Chủng Quốc hay Hiệp Chủng Quốc là sai hoàn toàn về chữ lẫn nghĩa.
Có lẽ do đồng âm Chúng và Chủng trong tiếng Việt nên có nhiều người gọi Hiệp Chủng Quốc mà không hề thắc mắc về ý nghĩa để rồi biến nó thành nghĩa chủng tộc, màu da khi nói về nước Mỹ đa văn hóa đa chủng tộc.
Tên đầy đủ của quốc gia này lần đầu tiên được dùng chính thức trong Tuyên ngôn Độc lập như sau "Tuyên ngôn nhất trí đồng thuận của 13 tiểu bang Hợp chúng quốc Hoa Kỳ" được "Các đại biểu của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ" chấp thuận ngày 4/7/1776. Tên hiện tại được khẳng định một lần nữa vào ngày 15/11/1777 khi Đệ Nhị Quốc hội Lục địa chấp thuận Những Điều khoản Liên hiệp. Điều khoản đầu phát biểu như sau "Kiểu liên bang này sẽ là The United States of America"
Cả hai tên gọi “Mỹ” và “Hoa Kỳ” đều bắt nguồn từ cách phiên dịch hai tên gọi này sang tiếng Trung Quốc. Theo bài giới thiệu Tổng quan về Hoa Kỳ (美国概况 – Mỹ quốc khái huống) đăng trên trang xinhuanet.com (新华网 - Tân Hoa võng của Trung Quốc), hiện nay, tên tiếng Anh đầy đủ của nước Mỹ được dịch sang tiếng Trung Quốc là Mỹ Lợi Kiên hợp chúng quốc (美利堅合眾國), gọi tắt là Mỹ quốc (美國), trong đó “Mỹ Lợi Kiên” (美利堅 - “Měilìjiān”) là phiên âm tiếng Trung của từ tiếng Anh “American” nhưng bỏ chữ “A”.
Trong bản tiếng Trung của “Điều ước Vọng Hạ” được Mỹ và Trung Quốc ký kết năm 1844, nước Mỹ được gọi là “Á Mỹ Lý Giá châu đại hợp chúng quốc” (亞美理駕洲大合眾國). Trong đó, “Hợp Chúng Quốc” có nghĩa là quốc gia do nhiều tiểu bang liên hiệp lại mà thành (The United States). “Chúng” ở đây có nghĩa là “nhiều”, nhưng hay bị gọi thành “hợp chủng quốc” vì nhiều người cho rằng đây là quốc gia do nhiều chủng tộc hợp thành. Tuy nhiên cách gọi này không chính xác, bản thân trong tên tiếng Anh đầy đủ của Hoa Kỳ là “The United States of America” cũng không có từ nào đề cập đến chủng tộc.
Hiệp Chúng Quốc Á Mỹ Lợi Gia, Mỹ Lợi Gia, Mỹ.
Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.
TÊN NƯỚC MỸ TRONG TIẾNG VIỆT
The United States of America là một quốc gia có lịch sử khá trẻ so với nhiều nước từ Âu sang Á, nhưng lại là một trong những nước có bộ Hiến Pháp già nhất thế giới được sử dụng từ thời lập quốc tới ngày nay. Đất nước lý thú này có hai tên gọi thông dụng trong tiếng Việt là "Mỹ" và "Hoa Kỳ"/"Huê Kỳ".
Hoa Kỳ thì dễ hiểu rồi, nghĩa đen là lá cờ có nhiều bông hoa. Theo tài liệu ngoại giao thời nhà Thanh bên Tàu, thì khi tàu thuyền có cờ America cập cảng, dân xứ Quảng Đông nhìn thấy cờ có nhiều sọc đỏ và những hình 5 cánh thì gọi là cờ hoa, trong chữ Nho là "Hoa Kỳ" - 花旗. Trong quan niệm của người dân đông phương thời đó thì ngôi sao là hình tròn, các chòm sao được vẽ là những vòng tròn có các đường nối lại với nhau. Còn biểu tượng hình 5 cánh thì người ta liên tưởng tới bông hoa. Và do đó, đất nước có lá cờ này được gọi giản dị là Hoa Kỳ Quốc. Cách gọi này dường như cũng theo chân người Quảng Đông tới Sài Gòn - Chợ Lớn bên xứ Ta vậy.
(Tham khảo: 从"花旗国"到"美利坚合众国"——清代对美国国名翻译的演变考析; tác giả: 梁建)
Tên gọi Hoa Kỳ nghe hay, thời nay được nhiều nhà trí thức ưa xài hơn, nhưng lại không phải là tên gọi chánh thức thời xưa, "Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ" chưa từng xuất hiện trong các tài liệu ngoại giao nhà Thanh và nhà Nguyễn bên Ta thời bấy giờ. Tuy nhiên, tên gọi Hoa Kỳ lại trở thành quốc danh chánh thức trong ngoại giao do phía The United States of America quyết định khi phiên dịch tên gọi của mình qua tiếng Việt từ thời cận đại đến ngày nay. Mà từ thời xưa năm 1776, dân trên dải đất chữ S ở xứ Đông Dương và dân ở America đã có giao thương buôn bán và biết nhau, rồi tới năm 1889 thì mở văn phòng thương mại, năm 1907 thì mở lãnh sự quán với tư thế là quan hệ ngoại giao với Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Cái sự sáng trưng không bị gió thổi tắt của cây đèn dầu Huê Kỳ đọng lại trong ý thức của dân An Nam vẫn còn rõ tới tận bây giờ.
(https://history .state .gov/countries/vietnam)
Quốc danh của The United States of America được phiên âm chánh thức trong các tài liệu ngoại giao gần giống nhau ở các nước đồng văn: Nhật Bản, Lưu Cầu, Thanh, Đại Nam. Trong đó yếu tố The United States được dịch thành Đại Hiệp Chúng Quốc hoặc Hiệp Chúng Quốc, còn America được phiên âm thành Á Mễ Lợi Gia - 亜米利加 (Nhật Bản, Lưu Cầu); Á Mỹ Lợi Gia - 亚美利加, Á Mỹ Lý Giá - 亞美理駕, và American thành Á Mỹ Lợi Kiên 亞美利堅 hoặc tỉnh lược thành 美利堅 Mỹ Lợi Kiên (Thanh); ở Đại Nam, cụ Thái Văn Kiểm sưu khảo từ Đại Nam Thực Lục rồi công bố năm 1961 tại Sài Gòn, thì America được dân ta gọi là "Mỹ Lợi Kiên", "Ma Ly Căn" và "Nhã Di Lý".
(- 東京都江戸東京博物館1999年発行「日米交流のあけぼの‐黒船きたる‐」
- Thái Văn Kiểm: "The Twain Did Meet, First Contacts between Vietnam and the United States of America". Vietnam Culture Series No 5., 1961)
Cuối cùng, sau mấy trăm năm tỉnh lược, người Việt đại chúng thì kêu là nước Mỹ, số ít thì kêu là Hoa Kỳ, ít ít nữa thì kêu Huê Kỳ. Cái tên gọi Hoa Kỳ dân dã thời xưa thì được dùng chánh thức thời nay. Còn cái tên quan cách Mỹ Lợi Kiên thời xưa thì lại được đại chúng gọt giũa cho thành chữ Mỹ gọn gẽ ngày nay và sử dụng rộng khắp. Âu cũng là cái sự biến đổi của con người và thời cuộc vậy. Mà không biến đổi thì cũng uổng đi, vì chánh quyền ở đất nước ấy cứ bốn năm hoặc tám năm lại đổi một lần, anh tài cho tới gian tà đều có dịp thi gan với non sông, xây đắp hay phá hoại gì cũng đủ.
Ấy vậy mà sau mấy trăm năm, dù kêu là Hoa Kỳ hay Mỹ gì đi nữa, thì đất nước này vẫn có sức hút rất lớn với nhiều người Việt, kể cả những kẻ lúc nào cũng ngoác miệng ra chửi rủa đất nước ấy, nhưng có dịp là kéo cả bầu đoàn chạy qua để mà hưởng lợi từ sự ưu việt của đất nước người ta.
Gần hai trăm năm mươi lần kỷ niệm ngày 4/7 của Mỹ (1776-2026), nước Thanh đã bị diệt, triều Nguyễn đã không còn, Vương quốc Lưu Cầu đã thành tỉnh lẻ, Nhật Bản đã chuyển thành nước cộng hoà, và Mỹ Lợi Kiên Hiệp Chúng Quốc vẫn còn đó. Đây không phải vì một dòng họ nào hay một anh hùng nào giỏi giữ nước, mà vì nước Mỹ là của tất cả mọi người Mỹ, không phải vì mị dân hay bánh vẽ, mà là làm chủ đất nước thực thụ. Tất cả các gia tộc đều góp công cho nước mạnh, tất cả các người yêu nước đều là người hùng. Và sau mấy trăm năm, người Mỹ vẫn có thể ca vang: Long live, long live America!
God bless America!
* Minh Triết Lâm Minh Nghị tổng hợp bổ khuyết và biên tập chuẩn bị kỷ niệm trọng đại Lễ Độc Lập Hoa Kỳ 250 năm 1776-2026.


(H.Phi chuyển )

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét