30 thg 4, 2014

Những kỷ năng sinh tồn cha me cần phải dạy cho trẻ

. Cha mẹ cần phải dạy con những kĩ năng sinh tồn như: ứng phó khi bị lạc, ở nhà một mình hoặc gặp thiên tai, hỏa hoạn.
1. Làm gì khi bị lạc?
- Dặn trẻ dừng ngay tại điểm mình bị lạc.
Lúc mình được 4 tuổi, bố hay dẫn mình đi ăn quà vặt, đi chơi vào mỗi sáng chủ nhật. Có lần, mình bị lạc ngay ở đoạn trước cổng chợ.
Người qua lại đông kinh khủng, mình hoàn toàn mất phương hướng vì mình bé tẹo, lọt thỏm giữa rừng người, nhưng mình nhớ lời ông dặn là khi bị lạc thì luôn đứng yên ở chỗ bị lạc, không được tự ý đi lang thang. Mình đang mếu máo thì ông quay ngược lại và tìm thấy mình. Điều này, mình đã nhắc lại với các con.
- Nếu tìm sự giúp đỡ thì đối tượng có thể tin tưởng là những người mặc đồng phục như cảnh sát, nhân viên an ninh, nhân viên của địa điểm mình đang bị lạc (như siêu thị, khu vui chơi... ).
Một lần, nhà mình chờ chuyển tiếp ở một sân bay, thời quan quá lâu nên việc để mắt liên tục đến chúng trở nên rất mệt mỏi, loáng một cái con biến mất khỏi tầm mắt. Hắn đã biết túm lấy một cô mặc đồng phục, nhân viên trong sân bay để được họ lên loa thông báo cho bố mẹ tới nhận.
- Mẹo vặt giúp con gây tiếng ồn khi bị lạc (trường hợp trẻ không có điện thoại).
Khi cho con đi chơi ở những khu vui chơi quá rộng, người đông, khó tìm được nhau, giống như Disney Land chẳng hạn, bố mẹ nên bỏ vào túi con một chiếc còi đồ chơi để chúng có thể thổi khi lạc bố mẹ hoặc rơi vào tình huống bị làm cho sợ hãi.
2. Dạy chúng cách xem bản đồ.
3. Dạy chúng bơi.
4. Dạy chúng cách sơ cứu như rửa vết thương, khử trùng vết thương, dán băng y tế đơn giản...
5. Ở nhà một mình.
Nguyên tắc là không được mở cửa cho bất cứ ai trừ bố mẹ nhưng nếu thấy có người có vẻ cố tình rình rập ở cửa để vào nhà thì trẻ nên bật TV thật lớn, gây tiếng ồn trong nhà để kẻ lạ mặt nghĩ trong nhà có người lớn.

6. Khi bố mẹ gặp sự cố như bất tỉnh, tai nạn.

Ở tủ lạnh, mình luôn treo một list số điện thoại quan trọng như xe cấp cứu, cứu hỏa, cảnh sát... Dạy trẻ cách gọi điện tới số gọi cấp cứu khi cần, nếu dùng điện thoại di động thì để loa để vừa nói được, vừa có thể giúp đỡ bố/mẹ, người đang ở trong trạng thái bị thương chẳng hạn.

7. Xác định thực phẩm nào ăn được trong trường hợp cần sống sót.

Không phải đi đâu xa, thiết thực nhất là ngay tại trong nhà, nhiều trẻ ở thành phố hoàn toàn lúng túng khi bị đói lúc chỉ có một mình.

Trước đây có trường hợp một bé tuổi mẫu giáo đã sống sót khi bị bỏ quên trong nhà nhiều ngày nhờ biết tự mở tủ lạnh, lôi tất cả những thứ có thể ăn được như trứng sống ra ăn.

Trẻ em ở phố hầu hết ít để ý tới điều này. Thậm chí, tụi trẻ như con mình, sinh ra ở Thụy Sĩ, từ bé tới giờ chỉ uống nước chai Evian, còn không có thói quen uống nước ở vòi hay đun nước máy sôi lên để uống.

Vì thế, rất thường xuyên mình phải nhắc chúng đừng quên là nếu có lúc nào nhà hết nước chai. Các con phải biết là nước vòi dùng được hoặc tìm kiếm ở những nguồn khác trong trường hợp đặc biệt, như mở ấm nước điện vẫn đang còn nước, dùng đá trong tủ lạnh làm tan chảy, để ý các loại đồ ăn khô có thể ăn được có trong các hộc tủ, đồ ăn sống trong tủ lạnh...

Dạy chúng xác định thực phẩm trông như thế nào là đã hỏng, mốc, không còn có thể ăn được (trong sinh hoạt hàng ngày).

Nếu ai sống ở môi trường có đất đai, gần thiên nhiên thì dạy con cách nhận diện, xác định nguồn thực phẩm từ cây quả, thảo dược.

8. Dạy chúng về các thao tác thoát hiểm như khi có hỏa hoạn, có động đất, trong trường hợp nguy cập nhất, phải lánh nạn thì cố gắng nhặt theo thứ cần kíp nhất, như điện thoại, chai nước (đồ ăn, đèn pin, nếu có thể), vật dụng nào gây tiếng ồn như còi (đồ chơi bình thường bố mẹ vẫn rất ghét ý lại rất có ích trong nhiều trường hợp đấy nhé).
9. Dạy chúng cách đi đường một mình an toàn.
Tụi trẻ nhà mình bắt đầu tự đi học bằng các phương tiện công cộng hoặc tự đi lại trong thành phố bằng taxi từ lớp 3.
Vì thế, dặn chúng nhận diện phương tiện như biển số xe, tên công ty xe, những tòa nhà hay biển hiệu quan trong trên con đường lạ chúng đi qua là rất cần thiết, ngoài ra, chúng cần mang theo điện thoại và đảm bảo là không được chơi games đến vạch pin cuối cùng.
Khi về Việt Nam, mình dặn chúng ở trường hợp bị lạc mà không có điện thoại trên người, không vội vàng túm lấy người lạ để xin giúp đỡ, nên bình tĩnh quan sát và đi vào một nhà hàng, cửa hiệu nào nhìn đàng hoàng, có vẻ tin cậy được nhất, ngồi đó và gọi nhờ điện thoại ở lễ tân cho người nhà.
Đối với trẻ nhỏ tuổi như chúng, dạy tự vệ không quan trọng bằng việc phòng tránh mối nguy hiểm, vì chúng quá nhỏ, nếu gặp kẻ gian là người lớn thì chúng khó mà chống cự được, vì vậy cần :
- Dặn con cố gắng tránh đi vào toilet ở nơi công cộng một mình, nếu có bạn đi cùng thì cũng không la cà lâu ở bên trong. Nếu có anh, chị, em thì luôn đi với nhau, trông chừng nhau ở những nơi thế này.
- Dạy trẻ không nhận bất cứ món đồ ăn nào từ người lạ, không nói chuyện. 
Ở trường, ngoài giáo viên ra, con không được tiếp nhận và tin vào bất cứ một thông tin gì khác lạ so với thường ngày mà không tự miệng bố mẹ dặn dò.
- Trường hợp bỗng bị kẻ nào lôi đi mà không thể bỏ chạy được vì bị túm giữ thì kháng cự bằng cách đu chặt lấy chân kẻ gian, cố gắng nằm xoài ra đất, dùng sức nặng của cơ thể mình víu xuống và kêu gào hết sức có thể, để cản trở việc kẻ gian di chuyển (như lôi vào xe).
10. Nếu có điều kiện thì tiếp đến, mới dạy chúng những kỹ năng khác, ít khẩn cấp hơn như nhóm lửa, cách làm chín thực phẩm một cách đơn giản.
Con cần biết mở nắp hộp đồ ăn (ở nước ngoài), cách dùng tấm khăn, vải để lọc nước bẩn và đun chín ở trường hợp bị khát ở nơi không có nước sạch, cách dựng lều hoặc che phủ kín toàn thân để ngủ mà không bị muỗi...
Bố mẹ cũng có rất nhiều điều phải học để bảo vệ con mình trước khi dạy con mình những kỹ năng sống sót cần thiết đấy.
Một ví dụ nhỏ thế này. Mình nhớ đã từng xem phóng sự về một vụ trẻ con bị bắt cóc ở một khu vui chơi. Kẻ bắt cóc đã nhanh tay thay đồ cho đứa trẻ.
Nhân viên an ninh của khu vui chơi đã được huấn luyện cho những công việc này nên họ đã chặn tất cả các cửa và dặn cha mẹ đứa trẻ là phải chú ý tới đôi giầy của mỗi đứa trẻ để nhận diện con chứ đừng nhìn lướt qua quần áo, vì kẻ bắt cóc thường chỉ kịp thay quần áo chứ ít chú ý tới giầy dép. Thật là một kinh nghiệm hữu ích./.


29 thg 4, 2014

1 bài viết về thầy Nguyễn Quý Bổng của thầy Nguyễn Tử Quí

Bài viết về Giáo Sư Nguyễn Quý Bổng của Thầy Nguyễn Tử Quý - Đăng trên Báo Người Việt Online - California

Nhân dịp các thày cô giáo kỷ niệm và thực hiện Kỷ Yếu 50 Năm Sư Phạm Sài Gòn, tôi muốn viết ít hàng về một người thày tôi rất quý mến và ngưỡng mộ. Thày đã đóng góp nhiều cải tiến quan trọng cho ngành sư phạm bậc tiểu học VNCH từ 1954 đến 1975.



Một trong những người thày mà tôi rất quý mến, đã dạy tôi và các bạn đồng môn của tôi trong Trường Quốc Gia Sư Phạm ( từ 1961 đổi thành Trường Sư Phạm Sài Gòn và hoạt động cho đến Tháng Tư 1975 ) trong thời gian 1956-1959 là thày Nguyễn Quý Bổng. Thày Bổng tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội năm 1953 và được bổ nhiệm vào dạy học tại Trường Sư Phạm Nam Việt tại Sài Gòn năm 1953 rồi tại Trường Quốc Gia Sư Phạm từ 1955.

Vào d
ạy học tại Sài Gòn, thày Bổng đồng thời ghi danh theo học Trường Đại Học Văn Khoa thuộc Viện Đại Học Sài Gòn và đậu Bằng Cử Nhân Văn Khoa năm 1955.

Năm 1959 thày sang Hoa Kỳ h
ọc chương trình cao học chuyên về ngành sư phạm tại một đại học danh tiếng về ngành đào tạo giáo chức là Peabody College. Năm 1960 thày Bổng hoàn tất văn bằng Cao Học về Giáo Dục (Master in Education) tại đây và về nước phục vụ tại Trường Sư Phạm Sài Gòn với chức vụ Giám Học. Năm 1965 thày Bổng được cấp học bổng đi du học tại Hoa Kỳ để học chương trình tiến sĩ (Ph.D. – Doctor in Philosophy) cũng tại Peabody College và năm 1967 thì đậu Bằng Tiến Sĩ Giáo Dục tại đại học này.

T
ừ 1969 Giáo sư Bổng được bổ nhiệm làm Giám Đốc Trung Tâm Tu Nghiệp Giáo Chức Tiểu học . Ít năm sau Giáo sư Bổng được Bộ Quốc Gia Giáo Dục bổ nhiệm giữ chức vụ Giám Đốc Nha Sư Phạm trông coi ngành sư phạm cho toàn quốc. 1974 Giáo sư Bổng được bổ nhiệm phục vụ cho Ủy Ban Sông Mê Kong. Thuộc United Nations tại Bangkok, Thái Lan.

Sau năm 1975 Th
ầy Bổng dạy học tại Đại Học Quebec , Canada. Trong thời gian từ đây đến 2005 Thầy Bổng lập một mạng lưới thân tình gồm học trò và đồng nghiệp sư phạm tại hải ngoại để duy trì tình đoàn kết trong ngành sư phạm, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, và cùng nhau gom góp tài chánh để giúp đỡ vật chất và tinh thần cho các đồng nghiệp và học trò gặp khó khăn tại VN.

Khi Tr
ường Quốc Gia Sư Phạm mở vào năm 1955 , thày Bổng được bổ nhiệm về dạy tại trường này. Trường Quốc Gia Sư Phạm có 2 chương trình đào tạo giáo chức cho bậc tiểu học: Chương trình huấn luyện 3 năm và chương trình huấn luyện một năm nhằm đào tạo cấp tốc giáo viên tiểu học vì nhu cầu cấp bách..

Ch
ương trình ba năm huấn luyện các giáo sinh là những học sinh đã đậu tối thiểu bằng Trung Học Phổ Thông về các môn tương tự như lớp đệ tam và đệ nhị trung học phổ thông, tuy chương chương trình học toán, khoa học nhẹ hơn nhiều; nhưng lại học thêm các môn như Tâm Lý Giáo Dục Nhi Đồng, môn Lương Tâm Chức Nghệp, môn Thể Dục với bài tập cho cả lớp trong sân trường 3 lần mỗi tuần. Năm thứ hai, các giáo sinh học thêm môn Phương Pháp Dạy Trẻ và mỗi tuần có vài giờ quan sát các thày cô dây mẫu trong Trường Sư Phạm Thực Hành kế bên. Năm thứ ba các giáo sinh học thêm các môn như Các Vấn Đề Giáo Dục, Quản Trị Học Đường, và Thực Tập Dạy Học trong Trường Sư Phạm Thực Hành dưới sự hướng dẫn của giáo sư trách nhiệm và được các bạn cùng lớp quan sát để học hỏi và nhận xét.



Ch
ương trình đào tạo cấp tốc nhận các giáo sinh có bằng Trung Học Phổ Thông và huấn luyện chuyên về tâm lý trẻ em, sư phạm lý thuyết, và sư phạm thực hành, lương tâm chức nghiệp .

Trong tr
ường Quốc Gia Sư Phạm, thày Bổng dạy giáo sinh 3 năm các môn Quốc Văn.
Năm 1959 thày B
ổng được cấp học bổng của Cơ Quan Viện Trợ Mỹ để du học về ngành sư phạm tại Peaboly College, một trong những trường đại học chuyên ngành sư phạm và giáo dục danh tiêng tại Hoa Kỳ. Sau hai năm học, thày tốt nghiệp Cao Học về Giáo Dục (Master of Arts in Education). Khi trở vế quê hương, thày Bổng được bổ nhiệm làm giám học Trường Quốc Gia Sư Phạm sau đổi thành Trường Sư Phạm Sài Gòn cùng lúc với sự thiết lập các trường sư phạm mới như Trường Sư Phạm Qui Nhơn, Trường Sư Phạm Vĩnh Long, Trường Sư Phạm Ban Mê Thuột. Với nhiệm vụ giám học, giáo sư Bổng đề nghị và thực hiện những cải tiến về chương trình nâng cao trình độ giáo sinh: lấy tú tài 1 rồi tú tài 2 làm điều kiện thi tuyển vào trường sư phạm học trong 2 năm thêm các môn học: giáo dục cộng đồng, văn chương thiếu nhi, các học cụ thính thị.

Nh
ững cải tiến khác về sư phạm và giáo dục thày Bổng đề nghị và thực hiện thuộc lãnh vực tuyển mộ các giáo sư sư phạm trong số các đồng nghiệp tiểu học tốt nghiệp đại học, và các đồng nghiệp tu nghiệp ngoại quốc về.

T
ừ năm 1965 giáo sư Bổng được Bộ Quốc Gia Giáo Dục bổ nhiệm ( hoặc kiêm nhiệm) chức vụ Giám Đốc Trung Tâm Tu Nghiệp Giáo Chức Toàn Quốc, một nhiệm vụ quan trọng trong nổ lực cải tiến ngành giáo dục tiểu học và sư phạm VNCH. Trong thời gian từ 1965 đến 1966 , trong nhiệm vụ này thày Bổng đã thực hiện :
Đ
ược 12 khóa tu nghiệp
M
ỗi khóa tu nghiệp dài từ 1 đến 4 tuần
T
ổ Chức tại khuôn viên nội trú trường Sư Phạm Sài Gòn
Cho các ty tr
ưởng, thanh tra, hiệu trưởng tiểu học
S
ố tham dự viên mỗi khóa tu nghiệp là 50
H
ọ được tu nghiệp về những môn: Quản trị học đường, tham khảo tài liệu giáo khoa.

M
ột trong những dụng cụ mới để biết kết quả của khóa tu nghiệp là bảng lượng giá (evaluation sheet) các tham dự viên trả lời ngay trước khi kết thúc khóa học.

V
ới thành tích tốt đẹp thể hiện trong những năm từ 1961 đến 1965, thày Bổng được cấp học bổng du học tại Hoa Kỳ để lấy bằng tiến sĩ về giáo dục (Ph.D. in Education) cũng tại Peabody College vào năm 1966. Sau 3 năm học, nghiên cứu, và hoàn thành luận án, thày Bổng lãnh bằng tiến sĩ giáo dục và hồi hương. Luận án tiến sĩ của thày có chủ đề là Primary Teacher Training for The Republic of Vietnam.

V
ề VN, giáo sư Nguyễn Quý Bổng được thăng chức làm Giám Đốc Nha Sư Phạm trong Bộ Quốc Gia Giáo Dục VNCH và cũng được mời giảng dạy tại các Trường Đại Học Vạn Hạnh, Trường Đại Học Đà Lạt, trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Saigon.
và d
ạy các môn học mới như Giáo Dục Nhập Môn, Tư Tưởng Giáo Dục.


Năm 1974 giáo s
ư Bổng được bổ nhiệm một nhiệm vụ có tính cách vùng và quốc tế : làm việc cho cơ quan Ủy Ban Sông Mekong tại Bangkok, Thái Lan. Ủy Ban Sông Mê Kong gồm những quốc gia VNCH, Thái Lan, Lào, và Cam Bốt. Ủy Ban này trực thuộc United Nations và được cơ quan Liên Hiệp Quốc này tài trợ. Ủy Ban này đươc thành lập nhằm đạt những mục đích là khai thác năng lượng sông Mekong và cải tiến đời sống dân chúng trong vùng

Nhi
ệm vụ của giáo sư Bổng (Staff Development Officer) là điều hành chương trình học bổng huấn luyện chuyên viên cho kế hoạch phát triển sông Mekong. Tiếc là thời gian phục vụ của thày Bổng tại đây ngắn quá, chỉ có 1 năm.

C
ơn dâu bể Tháng Tư, 1975 khiến thày Bổng lưu lạc tại Canada.
T
ại Canada thày Bổng quay trở lại với nghiệp dạy học, do Trường Đại Học Québec (Université du Québec à Hull) tuyển dụng . Thày Bổng dạy học cho đến năm 1995 thì nghỉ hưu.




Trong th
ời gian sống xa quê hương, thày Bổng luôn nghĩ đến các đồng nghiệp, nhất là những giáo chức trong ngành sư phạm. Thày Bổng muốn liên lạc để nâng đỡ họ và giúp đỡ những bạn đồng nghiệp và những học trò đồng nghiệp tại VN. Thời gian này chưa có internet và email. Điện thoại nhiều năm không thể liên lạc với VN; khi liên lạc được thì giá rất đắt. Thày Bổng bỏ rất nhiều giờ viết thư cho rất nhiều đồng nghiệp tại VN và rải rác khắp thế giới. Trong khi dạy học toàn thì cho đại học, thày bỏ rất nhiều giờ và nhiều công liên lạc với bạn, và học trò đồng nghiệp. Nhiều trường hơp thiếu thốn quá hoặc gặp bệnh nặng, thày Bổng cũng chia sẻ đồng lương của mình mà giúp đỡ họ. Chỉ có lòng yêu thương đồng nghiệp cao độ mới thúc đẩy thày làm như vậy. Chính từ những hoạt động yêu thương và nâng đỡ này mà Thày Nguyễn Quý Bổng đã hình thành và lập nên Gia Đình Sư Phạm Sài Gòn Hải Ngoại (Gia Đình Sư Phạm). Việc tương trợ giúp đỡ đồng nghiệp của Gíáo Sư Nguyễn Quý Bổng bắt đầu từ năm 1978 và được 30 đồng nghiệp tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm kết hợp để “chúng tôi góp sức với nhau gửi quà về VN giúp những bạn hữu đông con, đau yếu, hay “đi học tập” chưa về, hoặc những anh em may dạt đến các trại tị-nạn Đông Nam Á.” như thày đã viết trong thư đề ngày 14 Tháng 4 năm 1981, “Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 Tháng 3 năm Tân Dậu” mời gọi bạn và học trò đồng nghiệp Sư Phạm Sài Gòn chung nhau góp bàn tay nhân ái.

R
ồi từ đó cho đến năm 1999, suốt 20 năm, năm nào thày Bổng cũng liên lạc đồng nghiệp sư phạm bằng thư từ và thân chinh gặp gỡ trong dịp nghỉ hè hoặc nghỉ lễ và một lá thư đầu năm thông tin chung với những tin tức thân thương của Gia Đình Sư Phạm, các đóng góp tài chánh, những sự giúp đỡ. . . và gửi theo danh sách đầu tiên là 55 người vào năm 1981. Thày Bổng bỏ rất nhiều giờ thư từ liên lạc . . .mặc dầu có những năm thày cô phải giúp thành phần trong gia đình, trong họ hàng, bắt đầu đời sống mới của người di tản trong nhà của mình. Tấm lòng yêu thương bền bỉ và rất kiên nhẫn của thày Bổng trong suốt 20 năm sau biến cố dâu bể thật là bao la và sẽ sống mãi trong lòng chúng tôi.

B
ước sang thiên niên kỷ mới, từ năm 2000, tuổi đã cao và sức khỏe không còn như trước, thày Bổng nhờ đồng nghiệp học trò Bùi Văn Giần tiếp nối công việc của Gia Đình Sư Phạm. Thày Bùi Văn Giần tốt nghiệp Trường Quốc Gia Sư Phạm khóa 3 năm vào năm 1959, dạy trung học nhiều năm, rồi dạy tại Trường Sư Phạm Sài Gòn, sau làm việc trong Nha Du Học, Bộ Giáo Dục, và vào năm 1999 định cư tại vùng Little Sài Gòn, Nam California. Tuy nhiên thày Giần không may bị tai nạn cuối năm đó, xương sống trật một vài đốt và phải nằm liệt giường cho đến khi tạ thế đầu năm 2011. Lúc đó thày Giần cùng với thày Nguyễn Tử Quý và thày Dương Ngọc Sum bàn nhau và năm 2000 cử thày Dương Ngọc Sum làm trưởng, Nguyễn Tử Quý làm phó, và mời một số đồng nghiệp học trò như các Cô giáo Lê Minh Phú, Nguyễn Thị Am, Triệu Thị Thuận, Trương Kim Lan, Trần Mai Minh, Phan Bích Thủy, Đỗ Huê Mỹ .... là những đồng nghiệp tốt nghiệp Trường Sư Phạm Sài Gòn làm thành nhóm điều hành Gia Đình Sư Phạm Sài Gòn Hải Ngoại. Cho đến năm 2011 danh sách Gia Đình Sư Phạm Sài Gòn được 212 người , vẫn tiếp tục các hoạt động như của thày Bổng và mỗi năm, họp mặt tại Little Sài Gòn, Nam California vào cuối Tháng 7.