Sống
thú vị gặpnhiều
trăng gió Thú đau thương phân phó cho đời Mực sôngnước
biển đầy vơi Tình yêu tồn tại với đời không phai Đêm đông lạnh sương bay
dày đặc Viễn khách buồn tê cắt tâm hồn Ngồi buồn nhớ chuyện hàn ôn Gợi tâm tơ tưởng nén dồn đã lâu Cái giá rét khơi màu nỗi
nhớ Nhớ quê nhà nhớthuở thôn xưa Thương quê, thương mấy cho vừa Xa xôi viễn xứ dong đưa giọt sầu Trầm Hữu Tình
Bài Xướng:
Đêm đông
Thân lữ khách trãi bao
sóng gió
Biết tìm đâu hay phó mặc đời
Những điều phiền lụy chơi vơi
Làm cho cuộc sống đổi dời khó phai
Nơi hiện hữu tuyết bay dầy đặc
Gió rít lên như cắt cả hồn
Biết ai kể nỗi hàn ôn
Cho vơi tâm sự dập dồn bấy lâu
Đêm đông tuyết trắng màu nhung nhớ
Chạnh lòng hồi tưởng thuở xa xưa
Bao nhiêu mộng ước chưa vừa
Thôi đành khép lại đong đưa giọt sầu
Vanvn- Nobel không trao giải cho lĩnh vực thể thao, nhưng 2
nhà khoa học nhận giải thưởng danh giá này của Viện Hàn lâm Khoa học
Hoàng gia Thụy Điển đã từng có một sự nghiệp bóng đá vang dội thời thanh
niên, trong đó có văn hào Pháp Albert Camus, người mà bằng các sáng tác
văn học đã “đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâm loài
người ở thời đại này”.
Niels Bohr – Giải Nobel Vật lý (1922)
Niels Bohr đoạt giải Nobel Vật lý năm 1922 nhờ nghiên cứu cấu trúc
của nguyên tử và bức xạ. Tuy vậy, thời trai trẻ đam mê của ông là cản
phá các trái bóng vào khung thành.
Nhà vật lý đạt giải Nobel Niels Bohr có đam mê với trái bóng thời trẻ.
Cha của Niels Bohr, Christian Bohr, là giáo sư sinh lý học tại Đại
học Copenhagen. Christian Bohr nổi tiếng với công trình nghiên cứu về
khía cạnh vật lý và hóa học trong quá trình hô hấp. Mẹ Ellen Adler Bohr
xuất thân từ một gia đình Do Thái giàu có, có ảnh hưởng trong lĩnh vực
ngân hàng và chính trị ở Đan Mạch.
Khi còn trẻ, anh em nhà Bohr rất yêu bóng đá. Niels Bohr là một cầu
thủ bóng đá xuất sắc và chơi ở vị trí thủ môn của đội bóng Akademisk
Boldklub- một trong những đội nổi bật nhất ở Đan Mạch vào đầu thế kỷ 20.
Hai anh em trai nhà Bohr đều có đam mê bóng đã và rất thành công trong sự nghiệp riêng của mình.
Tuy nhiên, thay vì bóng đá, sau này Bohr đã chọn tập trung vào sự nghiệp học tập.
Ngay từ khi còn nhỏ, Niels đã bộc lộ năng khiếu cơ khí và niềm yêu thích sửa chữa các đồ vật xung quanh nhà.
Tài năng vật lý của chàng trai nổi bật ở trường. Niels thường tìm
kiếm thêm thông tin để bổ sung cho chương trình giảng dạy trên lớp và có
“thú vui” tìm ra sai sót trong sách giáo khoa.
Năm 1903, ông bắt đầu nghiên cứu tại Đại học Copenhagen và không lâu
sau đó, vật lý lý thuyết, đặc biệt là cấu trúc của nguyên tử, thu hút sự
chú ý đặc biệt của ông.
Niels đã phát hiện ra rằng quả bóng đá và electron tuân theo các định
luật vật lý rất khác nhau, và kích thước đó chắc chắn có ý nghĩa quan
trọng quyết định sự khác biệt đó.
Năm 1920, Bohr thành lập Viện Vật lý Lý thuyết Copenhagen (nay đổi
tên thành Viện Niels Bohr). Viện nghiên cứu của Bohr tụ họp rất nhiều
nhà vật lý tài năng lúc bấy giờ.
Viện Niels Bohr đã dần trở thành trung tâm nghiên cứu vật lý toàn cầu
trong những năm 1920-1930, và là “thánh địa” của giới nghiên cứu vật lý
toàn cầu.
Năm 1922, Niels Bohr là nhà vật lý học người Đan Mạch đầu tiên đạt
Giải Nobel Vật lý vì những đóng góp nền tảng của ông về lý thuyết cấu
trúc nguyên tử và cơ học lượng tử sơ khai.
Albert Camus – Giải thưởng Nobel về Văn học (1957)
Albert Camus (ở giữa) chơi ở vị trí thủ môn thuở nhỏ.
Albert Camus có một tuổi thơ cơ cực tại Algérie, khi nước này vẫn còn
là thuộc địa của Pháp. Cha của Camus là một công nhân làm rượu nghèo và
qua đời khi cậu bé mới được 1 tuổi.
Mặc dù rất thương con, nhưng vì mắc bệnh điếc nên hai mẹ con Camus
hiếm khi trò chuyện với nhau. Camus, vì vậy, đã lớn lên trong sự cô đơn.
Xuất thân như vậy nên ngay từ khi còn trẻ, chàng trai Camus sớm cảm
thấy những điều phi lý của đời người. Ông thấy con người vừa yếu đuối
vừa cô độc, sinh tồn trong sự phi lý vì cái chết có thể sập đến bất cứ
lúc nào.
Camus tìm đến bóng đá để tạm “xa lánh” hiện thực cuộc sống.
Albert Camus nổi tiếng với chủ nghĩa phi lý và hiện sinh trong văn học.
Cậu đã chơi ở vị trí thủ môn trong câu lạc bộ Racing Universitaire
d’Alger vào năm 16 tuổi. Tuy vậy, Camus phải kết thúc sự nghiệp thể thao
của mình vì mắc bệnh lao một năm sau đó.
Bệnh tật, nghèo đói cùng với những trải nghiệm sống còn trước tử thần
đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực và là yếu tố tác động mạnh mẽ đến
thế giới quan trong tác phẩm của Camus.
Ông theo học ngành Triết học tại ĐH Algiers. Camus được biết đến vì những đóng góp cho chủ nghĩa phi lý trên lĩnh vực triết học.
Chủ nghĩa phi lý Camus nhấn mạnh đến khoảng trống không thể khỏa
lấp giữa mong muốn và thực tại. Con người luôn bị mắc kẹt trong một mớ
bòng bong của những mong muốn không thể trở thành hiện thực và cũng mắc
kẹt trong một thực tại đầy nghiệt ngã, sẵn sàng dập tắt mọi hy vọng bé
nhỏ của con người.
Một số người coi tác phẩm của Camus phản ánh ông là một người theo chủ nghĩa hiện sinh.
Theo Albert Camus, thế giới hay con người không phải phi lý tự
nó. Sự phi lý chỉ xuất hiện thông qua sự kết hợp của cả hai, khi mà sự
không tương thích giữa con người và thế giới mà họ sống tạo nên sự phi
lý của đời sống. Đây là một trong hai góc nhìn về sự phi lý trong văn
học hiện sinh.
Năm 1957, Albert Camus được trao tặng Giải Nobel Văn học vì các sáng
tác văn học của ông đã “đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương
tâm loài người ở thời đại này”.
Vanvn- Nghề văn là nghề chuyên nghiệp về sự ngẫm nghĩ. Nhà
văn có trách nhiệm và có ham thú đúc kết nhân tình thế thái đặng tìm ra
cho bản thân mình và bạn đọc của mình những giá trị.
Trước chiến tranh gia đình tôi sống ở một biệt thự Tây đầu phố Hàng
Đẫy. Biệt thự, song chen chúc tới gần hai chục hộ. Ba tôi dạy đại học,
mẹ tôi dạy phổ thông, với ba anh em chúng tôi, năm người mà “tiêu chuẩn”
chỉ căn phòng ba chục thước vuông. Tầng trệt, không nằm sàn được, phải
kê giường chiếm mất phần diện tích đáng kể. Giữa phòng kê bàn ăn kiêm
bàn tiếp khách đồng thời cũng là bàn học của anh em tôi. Một bàn nữa ở
góc trong là bàn làm việc ban ngày của mẹ tôi, bàn viết của ba tôi về
đêm. Đấy là những cái bàn cái ghế thời bao cấp nhất loạt như nhau, xấu
xí, bất tiện, cứng quèo mà ọp ẹp. Nhưng bên cạnh bàn làm việc của ba tôi
nổi bật cái tủ sách. Mọi thứ đồ đạc trong phòng chỉ tủ sách ấy đáng gọi
là “đồ nội thất”.
Nhà văn Bảo Ninh. Ảnh: Gwangju.
Đã khá xưa rồi nhưng mà kiểu tủ Tây. Phần trên, sau cánh cửa kính,
phần lớn là sách tiếng nước ngoài của ba mẹ tôi. Văn học hiện đại bằng
tiếng Việt chỉ một ngăn, nửa là văn học dịch, nửa là tác phẩm của các
nhà văn Việt Nam nổi tiếng: Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan,
Nam Cao… nhưng không “tiền chiến”. Thơ Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận
nhưng không “Thơ Mới”. Phần dưới của tủ là cửa gỗ, luôn khoá chặt. Chẳng
gì được ba mẹ tôi quý báu cho bằng những cuốn sách ẩn trong đó, nhưng
có lẽ cũng không gì khiến song thân tôi phải e ngại chúng tôi chạm mắt
chạm tay vào đến vậy.
Cho đến mãi năm 1966, khi Mỹ bắt đầu ném bom Hà Nội, tủ sách gia đình
phải dỡ ra cho vào rương để chuyển lên nơi sơ tán, tôi mới được nhìn
những cuốn sách đó. Cũng vẫn là Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên…
nhưng là Bỉ vỏ, Vang bóng một thời, Điêu tàn… Rồi nữa: Vũ Trọng Phụng,
Vũ Bằng, Thạch Lam, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mạc Tử… và các ông Nhân văn.
[…]Bài
viết kể về con đường đến với văn chương của Bảo Ninh được in trong tiểu
thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” bản đặc biệt. Ảnh: NXB Trẻ.
Giải quyết xong xuôi vụ việc rồi, ba tôi mới nói chuyện “người lớn
với nhau” với tôi. Có thể nói đấy là lần đầu tiên hai cha con nói với
nhau về sự đời, về chính trị, về văn học… Ba tôi đã không nửa vời với
tôi về những chuyện rất khó nói ấy, dù tôi mới chỉ là một đứa nhãi ranh
học trò. Nhưng tôi thấy là ba tôi nói về những điều ấy với nỗi buồn bã
và trĩu nặng lo âu. Nỗi lo ấy về sau còn nhiều lần trở lại trong tâm
tình của ba tôi với tôi, nhất là khi tôi có truyện ngắn đầu tay in ở Văn
nghệ Quân đội.
Tuy nhiên, lo âu nặng trĩu, mà ba tôi không cản chí tôi hướng vào văn
nghiệp, trái lại. Thật ra, cầm bút viết văn, ấy là đời tôi đã tiếp bước
cuộc đời của ba tôi. Lặng lẽ, gần như không lời chỉ giáo bày dạy nào
hết, ba tôi đã truyền cho tôi tình yêu và năng lực cảm thụ văn học, đặc
biệt tình yêu, lòng tự hào đối với tiếng Việt, tiếng Việt của đời sống
và tiếng Việt trong văn học. Tôi có thể viết văn được tất cả là nhờ ở ba
tôi, và nhờ ở sự khuyên nhủ giúp đỡ ân cần của những người bạn của ba
tôi: nhà văn Nguyễn Tuân, nhà văn Bùi Hiển, nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư
Nguyễn Đức Nam, giáo sư Hoàng Ngọc Hiến…
Truyện ngắn đầu tay tôi viết xong rất nhanh, nhưng gửi báo Văn Nghệ,
không dùng được. Viết để đó. Hơn một năm sau, không nói với tôi, mẹ tôi
lục trong ngăn bàn lấy bản viết tay đó trao cho giáo sư Hoàng Ngọc Hiến
khi ông tới chơi. Tối hôm sau, trời mưa, tôi đang ở nhà một mình, giáo
sư gõ cửa, bước vào, có áo tơi nhưng tóc và vai ông vẫn bị ướt. Ông nói
ông đến vì cái truyện vừa đọc khi chiều. “Không đạt”, ông nói ngay.
“Theo thang điểm 5 chỉ đáng 3-”. Ông mở cặp, lấy ra xấp những trang đánh
máy. “Tôi nhờ văn thư trường Nguyễn Du đánh máy bản thảo cho anh lần
này. Lần sau tự mà gõ lấy. Chữ anh quá tệ. Từ nay, khi viết văn, anh nên
dùng máy chữ”.
“Từ nay?” Nghĩa là… giáo sư thấy mình có thể tiếp tục? Tôi tự hỏi, mơ
hồ một niềm vui sướng. Tôi những mong được nghe giáo sư nói kỹ hơn,
song ông chẳng chuyện nhiều, cạn chén trà ông về. Bắt tay tôi ông bảo:
“Tóm lại: cái truyện này thì không ra gì, nhưng anh là người hình như có
thể viết được văn. Cho nên đừng có sợ, cứ liều viết đi, biết đâu đấy.
Sẽ rất cực, lại chẳng chắc đã thành, tuy vậy vẫn rất đáng để liều. Bởi
vì cái đời văn chương ấy mà, tiếng vậy chứ rất vui, rất kỳ thú”.
Tôi nhớ mãi những lời thoảng qua, như là nói cho vui ấy của giáo sư
Hoàng Ngọc Hiến. Bằng những khuyên nhủ như vậy và bằng những quan tâm
nho nhỏ mà chân tình, ông đã giúp tôi có được một nỗ lực văn chương suốt
cuộc đời. Cái nhìn khoáng đạt và tươi tỉnh của ông về nghề cũng bước
đầu cho tôi một tình cảm tốt lành, một thái độ bình thản đối với công
việc sáng tác.
Sự thực thì viết văn là một nghề nghiệp (nhất là viết văn xuôi), và
cũng như mọi nghề nghiệp khác trong cuộc sinh nhai của con người, nghề
viết văn có những buồn khổ, phiền lụy, thất bại, những sự kỳ quặc và vô
nghĩa lý nhưng cũng vô vàn những niềm vui, những sự thú vị, những thành
công và những hữu ích theo kiểu của nó.
Nghề văn là nghề chuyên nghiệp về sự ngẫm nghĩ. Nhà văn tự xem mình
là kẻ có khả năng, có trách nhiệm và có ham thú đúc kết nhân tình thế
thái đặng tìm ra cho bản thân mình và bạn đọc của mình những giá trị,
những ý nghĩa vừa cố định vừa đổi thay không ngừng của đời sống con
người, một đời sống tuy ngắn ngủi và khá là ảm đạm, nhiều buồn đau và
bất hạnh, song lại cũng hàm chứa vô cùng tận những lẽ đời đáng sống,
những giá trị cao quý, những vẻ đẹp tuyệt vời, hạnh phúc và niềm vui.
Tác giả: MATSUSHITA Kônosuke (*) Người dịch: Nguyễn Sơn Hùng
Không gì nguy hiểm bằng việc không biết sợ. Bạn hãy tự mình tìm
ra nỗi sợ của bạn và cảm thấy sợ để biết thận trọng, là điều quan trọng (2).
Để sống một cuộc đời tốt đẹp hơn tôi nghĩ rằng phải chăng trong cuộc
sống hàng ngày, việc mọi người chúng ta vừa sống vừa cảm thấy sợ ở mặt
nào đó là điều quan trọng?
Nghe như vậy, có thể có người nghĩ rằng việc cảm thấy sợ là do bệnh nhút nhát nên chẳng phải là không làm được việc gì hay sao?
Tuy nhiên, nỗi sợ nói ở đây không phải do nhút nhát mà có ý nghĩa
tích cực hơn. Đó là nỗi sợ đưa chúng ta đến thái độ khiêm nhượng. Thí dụ
gần gũi là loại cảm thấy sợ của trẻ em đối với cha mẹ hoặc đối với cô
thầy. Nỗi sợ của người bán hàng đối với chủ tiệm, của nhân viên đối với
Tổng giám đốc của công ty. Nỗi sợ mà hầu như mọi người đều có, như ngay
cả ở địa vị tối cao của vị Tổng giám đốc của một công ty đối với người
đời trong xã hội.
Ngoài ra, không những nỗi sợ đối với người khác mà ngay cả nỗi sợ
của mình đối với chính bản thân mình. Nếu không khéo thì ngay cả khuynh
hướng lười biếng của bản thân cũng làm cho mình cảm thấy mình sợ mình.
Ngoài ra, có lẽ tính cách ngạo mạn đối với người khác của bản thân hoặc
việc không có can đảm, không có niềm tin khi làm bất kỳ việc gì cũng là
loại sợ nói trên.
Như vậy không phải là loại sợ đơn giản như bị chó cắn mà việc cảm thấy sợ ở mặt tinh thần phải chăng là quan trọng?
Tại sao vậy? Tôi nghĩ rằng bởi vì đối với con người của chúng ta nếu
không có điều gì để sợ như nói trên, dù cho bất kỳ việc gì cũng có thể
làm theo ý muốn thì từ lúc nào không biết, cách suy nghĩ của chúng ta sẽ
trở nên hời hợt không cẩn trọng, sẽ trở nên kiêu căng ngạo mạn, kết
cuộc không ít trường hợp làm cho bản thân chúng ta tệ hại đi.
Bởi vậy tôi nghĩ rằng việc tự mình tìm cho mình nỗi sợ của ý nghĩa
tích cực như nói trên và luôn có nó trong lòng để vừa cảm thấy sợ và
tiếp tục nỗ lực cố gắng mỗi ngày là điều rất quan trọng. Nếu thực hiện
được như vậy chúng ta sẽ có thái độ khiêm tốn lại vừa nỗ lực để tiến
lên nên thực lực chân thật trong việc làm người của chúng ta sẽ được bồi
dưỡng.
Tôi nghĩ rằng phải chăng điều nói trên không chỉ đơn thuần về cuộc
sống của cá nhân mà còn có thể nói cho cả trường hợp của các công ty,
các đoàn thể, các chính phủ đảm trách công việc chính trị của quốc gia.
Ngay cả đoàn thể hoặc chính phủ của một nước nếu không biết sợ nhất định
sẽ tự mình quá tin tưởng vào mình và sau đó dựa vào bạo lực và quyền
lực để xúc tiến sự việc. Kết quả là dù trong một giai đoạn hoặc trong
một thời kỳ người không biết sợ có thể khoe trương quyền thế nhưng rồi
trong không lâu tự bản thân họ sẽ đi vào con đường tự diệt vong. Phải
chăng trong quá khứ đã có nhiều thí dụ như vậy.
Do đó, các cá nhân chúng ta là đương nhiên, trong trường hợp thành
lập đoàn thể và hoạt động dưới hình thức tập thể, chúng ta cần lưu ý đầy
đủ sao cho đừng rơi vào sự hoành hành của đa số.
Nhìn vào xã hội gần đây, tôi nghĩ ngay cả cá nhân hoặc đoàn thể, số trường hợp của việc không sợ là rất nhiều!
Nguyễn Sơn Hùng, 10/11/2022
(*) Nguồn: MATSUSHITA Kônosuke: NHÂN SINH TÂM ĐẮC THIỆP (人生心得帖), Viện Nghiên Cứu PHP xuất bản 1984 khổ A5, xuất bản 2001 khổ A6.
Bài này nhắc nhở cho chúng ta nhiều việc. Cùng một khái niệm, cùng
một hành động nhưng tùy theo cách làm, trình độ thực hiện mà kết quả có
thể rất khác nhau! Do đó khi áp dụng, thực hiện việc gì chúng ta cần
phải suy nghĩ sao cho đúng cách, đúng chỗ, đúng lúc, đúng cương vị.
Thí dụ cũng có người khuyên không nên giáo dục trẻ em bằng cách làm
cho chúng sợ. Tuy nhiên, việc sợ cha mẹ, thầy cô cũng giúp trẻ em tránh
làm những việc không nên làm và tập được những thói quen tốt cho cuộc
sống trong tương lai. Cũng là lòng tin ngưỡng đối với tôn giáo nhưng có
người dựa vào đó để răn mình, tu sửa mình cho tốt hơn, để có cuộc sống
hạnh phúc hơn nhưng cũng có người sinh ra lòng mê tín và đôi khi đưa đến
nhiều thảm kịch.
Ghi chú
Tựa bài dịch theo nguyên bản. Tựa phụ trong ( ) do người dịch đặt
thêm để quý độc giả dễ nhớ và tổng kết các điều trọng yếu mà tác giả đề
xuất để chúng ta có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Đại ý của bài viết. Trong nguyên tác, đại ý được viết ở đầu của mỗi bài.
Tên đầy đủ của đảng là đảng Lao Động Quốc Dân Xã Hội Chủ Nghĩa Đức Quốc (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, NSDAP)
Vanvn- Ở tỉnh Bắc Ninh, nhiều người biết đến xã Tam Giang,
huyện Yên Phong vì có cây gạo trên 130 tuổi ở ngã ba Xà thuộc thôn Đoài.
Đây cũng là nơi hợp lưu sông Cầu và sông Cà Lồ. Ngay gần cây gạo là
đền Xà – nơi thờ Đức Thánh Tam Giang, cũng chính là điểm phát tích bài
thơ “Nam quốc sơn hà”.
Tượng đài ở đền thờ Lý Thường Kiệt. Ảnh: Minh Minh.
Theo sử sách truyền lại, trong những ngày sôi sục khí thế kháng
chiến, Lý Thường Kiệt đã truyền đọc bài thơ này để khơi gợi tinh thần
yêu nước và cổ vũ quân dân ta trong trận đánh thắng giặc Tống vào mùa
xuân năm 1077.
Đền Xà có dấu tích từ xa xưa nhưng trải qua thời gian đã được trùng
tu nhiều lần vào các đời Lê, Nguyễn. Trong kháng chiến chống Pháp, ngôi
đền bị phá hủy hoàn toàn. Hòa bình lập lại, dân làng lại góp công, góp
của xây dựng và trùng tu để có được diện mạo như ngày nay.
1988 – cùng thời gian cây gạo cổ bên bến sông được công nhận là “Cây di sản quốc gia”.
Nhân kỷ niệm 940 năm chiến thắng chống quân Tống, năm 2017, tỉnh Bắc
Ninh đã cho xây dựng quần thể di tích đền thờ Lý Thường Kiệt bên bờ sông
lịch sử.
Cây
gạo di sản ở ngã ba Xà – nơi hợp lưu sông Cầu và sông Cà Lồ. Ảnh: Minh
Minh. Với giá trị lịch sử đặc biệt, đền Xà đã được công nhận là di tích
cấp quốc gia vào năm
Tam Giang đất trời mênh mông, bờ sông trải dài xanh mát với những bến
đò vẫn bao đời bình dị nối liền giao thương giữa hai bờ Bắc – Nam. Nơi
đây – ngã ba Xà mang đầy trầm tích văn hóa lịch sử và có cây gạo di sản
cùng quần thể di tích đền thờ Lý Thường Kiệt sẽ là điểm du lịch sinh
thái hấp dẫn, thú vị.