29 thg 1, 2023

Nỗi Nhớ Đầu Đông_Trầm Hữu Tình (Họa Thơ Hương Lệ Oanh VA


Nỗi Nhớ Đầu Đông_Trầm Hữu Tình

Họa:

 Nỗi Nhớ Đầu Đông

 
Sống thú vị gặp nhiều trăng gió
Thú đau thương phân phó cho đời
Mực sông nước biển đầy vơi
Tình yêu tồn tại với đời không phai
 
Đêm đông lạnh sương bay dày đặc
Viễn khách buồn tê cắt tâm hồn
Ngồi buồn nhớ chuyện hàn ôn
Gợi tâm tơ tưởng nén dồn đã lâu
 
Cái giá  rét khơi màu nỗi nhớ
Nhớ quê nhà nhớ thuở thôn xưa
Thương quê, thương mấy cho vừa
Xa xôi viễn xứ dong đưa giọt sầu
 
Trầm Hữu Tình

 Bài Xướng:

Đêm đông

Thân lữ khách trãi bao sóng gió
Biết tìm đâu hay phó mặc đời
Những điều phiền lụy chơi vơi
Làm cho cuộc sống đổi dời khó phai

Nơi hiện hữu tuyết bay dầy đặc
Gió rít lên như cắt cả hồn
Biết ai kể nỗi hàn ôn
Cho vơi tâm sự dập dồn bấy lâu

Đêm đông tuyết trắng màu nhung nhớ
Chạnh lòng hồi tưởng thuở xa xưa
Bao nhiêu mộng ước chưa vừa
Thôi đành khép lại đong đưa giọt sầu

Hương Lệ Oanh VA

Nguồn :https://vtttus.blogspot.com/2023/01/noi-nho-au-ongtran-huu-tinh.html

Thơ Xướng Hoa-Nhóm VườnThơ Mới kỳ 114_ Bài Xướng : Đêm đông_Hương Lệ Oanh VA


 Xướng:

Đêm đông

Thân lữ khách trãi bao sóng gió
Biết tìm đâu hay phó mặc đời
Những điều phiền lụy chơi vơi
Làm cho cuộc sống đổi dời khó phai

Nơi hiện hữu tuyết bay dầy đặc
Gió rít lên như cắt cả hồn
Biết ai kể nỗi hàn ôn
Cho vơi tâm sự dập dồn bấy lâu

Đêm đông tuyết trắng màu nhung nhớ
Chạnh lòng hồi tưởng thuở xa xưa
Bao nhiêu mộng ước chưa vừa
Thôi đành khép lại đong đưa giọt sầu

Hương Lệ Oanh VA

Hàn ôn : hàn là lạnh, ôn là ấm. Hàn ôn là lạnh và ấm, dùng để hỏi thăm, tâm tình lúc gặp lại nhau sau 1 thời gian xa cách. Nó cùng ý với hàn huyên

Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?

(Chiều hôm nhớ nhà, Huyện Thanh Quan)

Họa 1:

Trời đông

Nhìn cơn nước bập bềnh theo gió 
Kiếp tha phương phải phó cho đời 
Nổi trôi như nước đầy vơi 
Mang vào cái nghiệp khó dời không phai

Đông sắp đến lá bay dầy đặc
Lạnh tái tê như cắt tâm hồn 
Không sao biết được thể ôn 
Buốt tay chân lạnh nén dồn rất lâu 

Trời ảm đạm gây màu thương nhớ
Tạo nổi buồn về thuở ngày xưa 
Bao nhiêu lo lắng cho vừa
Tháng ngày chấm dứt đẩy đưa cơn sầu

 PTL

thể ôn  體溫:thân nhiệt

Họa 2:

Đông Chưa Tận

Đông chưa tận tuyết rơi giông gió,
Gieo đau thương giao phó cho đời.
Bao nhiêu khổ lụy đầy vơi,
Chiến tranh, dịch bệnh rã rời phôi phai.

Tảo mai nở gió bay rơi đặc,
Cơn bấc phà lạnh cắt tâm hồn.
Bên song bóng lẻ ngồi ôn,
Bao nhiều kỷ niệm lưu dồn từ lâu.

Nhìn mây trắng một màu thương nhớ,
Tết quê nhà cái thuở năm xưa,
Mai vàng bánh mứt đủ vừa,
Rượu nồng bạn quý đẩy đưa giải sầu.

Mỹ Ngọc

Jan. 23, 2023.

Họa 3:

Ngắm Cảnh Chạnh Lòng

Thuyền lãng tử trùng khơi bão gió

Kẻ độc hành chỉ phó cho đời
Đêm buồn ngắm cảnh trăng vơi
Tàn canh lặng lẻ sao dời nhạt phai

Mùa thu tiễn mây bay thổn thức
Tiếng vạc kêu quặn cắt tâm hồn
Đông về buốt cảnh hoài ôn
Du dương nhạc sáo thổi dồn- bước lâu

Nhìn sắc cảnh nhuộm màu thương nhớ
Chốn quê nghèo cái thuở ngày xưa
Gió hương gợi khúc tình vừa
Mộng xuân chớm nở- Én đưa Nhạn sầu

Kim Trân

Họa 4:

Hoài Hương

Chiều nhạt nắng, vi vu tiếng gió,
Dế nỉ non bụi cỏ ru đời,
Nỗi buồn chất chứa đầy vơi,
Sương giăng lành lạnh, sắc trời phôi phai.

Đêm dần đến trăng gầy hiu hắt,
Tiếng đàn ai réo rắt ru hồn,
Mênh mang bao nỗi hàn ôn,
Khơi niềm hoài cảm thương buồn đã lâu.

Thuyền xa bến đậm sâu nỗi nhớ,
Mãi hướng về một thuở quê xưa,
Ngày mơ đêm mộng cho vừa
Tình riêng xin gởi gió mưa vơi sầu…

Minh Tâm 

Họa 5:

Bất Phùng Thời

Phù Dung nở gặp thời mưa gió
Tả tơi thân đành phó cho đời
Nỗi nhà niềm nước tìm vơi
Mà bao Xuân cố chuyển dời khôn phai

Tiếng sáo trúc đêm dài réo rắt
Du dương buồn dằng dặc xoáy hồn
Xót xa khép phận an ôn
Thời gian tia chớp khéo dồn bao lâu

Hoa thời loạn nát nhàu nổi nhớ
Nhục vinh thân một thủa ngày xưa
Nhủ lòng đền đắp sao vừa
Hương Xuân mới tỏa, gió đưa điệu sầu.

Tâm Quã


 Mời Xem :

Vườn Thơ Mới 113- Bài Xướng : Nhớ Như Quên_Tâm Quã

2 chủ nhân giải Nobel có sự nghiệp bóng đá vang dội thời trẻ

Vanvn- Nobel không trao giải cho lĩnh vực thể thao, nhưng 2 nhà khoa học nhận giải thưởng danh giá này của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã từng có một sự nghiệp bóng đá vang dội thời thanh niên, trong đó có văn hào Pháp Albert Camus, người mà bằng các sáng tác văn học đã “đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâm loài người ở thời đại này”.

Niels Bohr – Giải Nobel Vật lý (1922)

Niels Bohr đoạt giải Nobel Vật lý năm 1922 nhờ nghiên cứu cấu trúc của nguyên tử và bức xạ. Tuy vậy, thời trai trẻ đam mê của ông là cản phá các trái bóng vào khung thành.

Nhà vật lý đạt giải Nobel Niels Bohr có đam mê với trái bóng thời trẻ.

Cha của Niels Bohr, Christian Bohr, là giáo sư sinh lý học tại Đại học Copenhagen. Christian Bohr nổi tiếng với công trình nghiên cứu về khía cạnh vật lý và hóa học trong quá trình hô hấp. Mẹ Ellen Adler Bohr xuất thân từ một gia đình Do Thái giàu có, có ảnh hưởng trong lĩnh vực ngân hàng và chính trị ở Đan Mạch.

Khi còn trẻ, anh em nhà Bohr rất yêu bóng đá. Niels Bohr là một cầu thủ bóng đá xuất sắc và chơi ở vị trí thủ môn của đội bóng Akademisk Boldklub- một trong những đội nổi bật nhất ở Đan Mạch vào đầu thế kỷ 20.

Hai anh em trai nhà Bohr đều có đam mê bóng đã và rất thành công trong sự nghiệp riêng của mình.

Tuy nhiên, thay vì bóng đá, sau này Bohr đã chọn tập trung vào sự nghiệp học tập.

Ngay từ khi còn nhỏ, Niels đã bộc lộ năng khiếu cơ khí và niềm yêu thích sửa chữa các đồ vật xung quanh nhà.

Tài năng vật lý của chàng trai nổi bật ở trường. Niels thường tìm kiếm thêm thông tin để bổ sung cho chương trình giảng dạy trên lớp và có “thú vui” tìm ra sai sót trong sách giáo khoa.

Năm 1903, ông bắt đầu nghiên cứu tại Đại học Copenhagen và không lâu sau đó, vật lý lý thuyết, đặc biệt là cấu trúc của nguyên tử, thu hút sự chú ý đặc biệt của ông.

Niels đã phát hiện ra rằng quả bóng đá và electron tuân theo các định luật vật lý rất khác nhau, và kích thước đó chắc chắn có ý nghĩa quan trọng quyết định sự khác biệt đó.

Năm 1920, Bohr thành lập Viện Vật lý Lý thuyết Copenhagen (nay đổi tên thành Viện Niels Bohr). Viện nghiên cứu của Bohr tụ họp rất nhiều nhà vật lý tài năng lúc bấy giờ.

Viện Niels Bohr đã dần trở thành trung tâm nghiên cứu vật lý toàn cầu trong những năm 1920-1930, và là “thánh địa” của giới nghiên cứu vật lý toàn cầu.

Năm 1922, Niels Bohr là nhà vật lý học người Đan Mạch đầu tiên đạt Giải Nobel Vật lý vì những đóng góp nền tảng của ông về lý thuyết cấu trúc nguyên tử và cơ học lượng tử sơ khai.

Albert Camus – Giải thưởng Nobel về Văn học (1957)

Albert Camus (ở giữa) chơi ở vị trí thủ môn thuở nhỏ.

Albert Camus có một tuổi thơ cơ cực tại Algérie, khi nước này vẫn còn là thuộc địa của Pháp. Cha của Camus là một công nhân làm rượu nghèo và qua đời khi cậu bé mới được 1 tuổi.

Mặc dù rất thương con, nhưng vì mắc bệnh điếc nên hai mẹ con Camus hiếm khi trò chuyện với nhau. Camus, vì vậy, đã lớn lên trong sự cô đơn.

Xuất thân như vậy nên ngay từ khi còn trẻ, chàng trai Camus sớm cảm thấy những điều phi lý của đời người. Ông thấy con người vừa yếu đuối vừa cô độc, sinh tồn trong sự phi lý vì cái chết có thể sập đến bất cứ lúc nào.

Camus tìm đến bóng đá để tạm “xa lánh” hiện thực cuộc sống.

Albert Camus nổi tiếng với chủ nghĩa phi lý và hiện sinh trong văn học.

Cậu đã chơi ở vị trí thủ môn trong câu lạc bộ Racing Universitaire d’Alger vào năm 16 tuổi. Tuy vậy, Camus phải kết thúc sự nghiệp thể thao của mình vì mắc bệnh lao một năm sau đó.

Bệnh tật, nghèo đói cùng với những trải nghiệm sống còn trước tử thần đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực và là yếu tố tác động mạnh mẽ đến thế giới quan trong tác phẩm của Camus.

Ông theo học ngành Triết học tại ĐH Algiers. Camus được biết đến vì những đóng góp cho chủ nghĩa phi lý trên lĩnh vực triết học.

Chủ nghĩa phi lý Camus nhấn mạnh đến khoảng trống không thể khỏa lấp giữa mong muốn và thực tại. Con người luôn bị mắc kẹt trong một mớ bòng bong của những mong muốn không thể trở thành hiện thực và cũng mắc kẹt trong một thực tại đầy nghiệt ngã, sẵn sàng dập tắt mọi hy vọng bé nhỏ của con người.

Một số người coi tác phẩm của Camus phản ánh ông là một người theo chủ nghĩa hiện sinh.

Theo Albert Camus, thế giới hay con người không phải phi lý tự nó. Sự phi lý chỉ xuất hiện thông qua sự kết hợp của cả hai, khi mà sự không tương thích giữa con người và thế giới mà họ sống tạo nên sự phi lý của đời sống. Đây là một trong hai góc nhìn về sự phi lý trong văn học hiện sinh.

Năm 1957, Albert Camus được trao tặng Giải Nobel Văn học vì các sáng tác văn học của ông đã “đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâm loài người ở thời đại này”.

BẢO HUY

VietNamNet

 

28 thg 1, 2023

Chiều Mưa Thu Qua Sông - Nguyễn Đạm Luân


Qua sông chiều mưa thu

Lá thay màu ngoài phố

Nhạt nhòa đường sương mù

Em gầy vai dáng nhỏ

 

Phố chiều vắng người qua

Lẻ loi đôi cánh nhạn

Mưa gần rồi mưa xa

Em cũng thời áo trắng

 

Phố buồn nhiều ít vui

Tôi nhìn theo ngơ ngẩn

Đường phượng muộn ngủ vùi

Rụng rơi hoa thờ thẩn

 

Nón nghiêng vành dưới mưa

Bên hiên người em nép

Vẫn đó đường phố thưa

Áo đôi tà hờ khép

 

Đứng bên em lặng thinh

Ngập ngừng không dám nói

Mưa tạnh tôi một mình

Em bỏ đi quá vội

 

Cùng bên này một phố

Nhà em cổng tường hoa

Nhà tôi nghèo hẻm nhỏ

Gần mà sao rất xa

 

Nguyễn Đạm Luân

Nhớ người xa 2022

Mời Xem :


 Đá Cũng Khóc Thầm - Nguyễn Đạm Luân

Nghề văn chương tiếng vậy chứ rất vui, rất kỳ thú – Tiểu luận của Bảo Ninh

Vanvn- Nghề văn là nghề chuyên nghiệp về sự ngẫm nghĩ. Nhà văn có trách nhiệm và có ham thú đúc kết nhân tình thế thái đặng tìm ra cho bản thân mình và bạn đọc của mình những giá trị.

Trước chiến tranh gia đình tôi sống ở một biệt thự Tây đầu phố Hàng Đẫy. Biệt thự, song chen chúc tới gần hai chục hộ. Ba tôi dạy đại học, mẹ tôi dạy phổ thông, với ba anh em chúng tôi, năm người mà “tiêu chuẩn” chỉ căn phòng ba chục thước vuông. Tầng trệt, không nằm sàn được, phải kê giường chiếm mất phần diện tích đáng kể. Giữa phòng kê bàn ăn kiêm bàn tiếp khách đồng thời cũng là bàn học của anh em tôi. Một bàn nữa ở góc trong là bàn làm việc ban ngày của mẹ tôi, bàn viết của ba tôi về đêm. Đấy là những cái bàn cái ghế thời bao cấp nhất loạt như nhau, xấu xí, bất tiện, cứng quèo mà ọp ẹp. Nhưng bên cạnh bàn làm việc của ba tôi nổi bật cái tủ sách. Mọi thứ đồ đạc trong phòng chỉ tủ sách ấy đáng gọi là “đồ nội thất”.

Nhà văn Bảo Ninh. Ảnh: Gwangju.

Đã khá xưa rồi nhưng mà kiểu tủ Tây. Phần trên, sau cánh cửa kính, phần lớn là sách tiếng nước ngoài của ba mẹ tôi. Văn học hiện đại bằng tiếng Việt chỉ một ngăn, nửa là văn học dịch, nửa là tác phẩm của các nhà văn Việt Nam nổi tiếng: Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao… nhưng không “tiền chiến”. Thơ Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận nhưng không “Thơ Mới”. Phần dưới của tủ là cửa gỗ, luôn khoá chặt. Chẳng gì được ba mẹ tôi quý báu cho bằng những cuốn sách ẩn trong đó, nhưng có lẽ cũng không gì khiến song thân tôi phải e ngại chúng tôi chạm mắt chạm tay vào đến vậy.

Cho đến mãi năm 1966, khi Mỹ bắt đầu ném bom Hà Nội, tủ sách gia đình phải dỡ ra cho vào rương để chuyển lên nơi sơ tán, tôi mới được nhìn những cuốn sách đó. Cũng vẫn là Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên… nhưng là Bỉ vỏ, Vang bóng một thời, Điêu tàn… Rồi nữa: Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Thạch Lam, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mạc Tử… và các ông Nhân văn.

[…]Bài viết kể về con đường đến với văn chương của Bảo Ninh được in trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” bản đặc biệt. Ảnh: NXB Trẻ.

Giải quyết xong xuôi vụ việc rồi, ba tôi mới nói chuyện “người lớn với nhau” với tôi. Có thể nói đấy là lần đầu tiên hai cha con nói với nhau về sự đời, về chính trị, về văn học… Ba tôi đã không nửa vời với tôi về những chuyện rất khó nói ấy, dù tôi mới chỉ là một đứa nhãi ranh học trò. Nhưng tôi thấy là ba tôi nói về những điều ấy với nỗi buồn bã và trĩu nặng lo âu. Nỗi lo ấy về sau còn nhiều lần trở lại trong tâm tình của ba tôi với tôi, nhất là khi tôi có truyện ngắn đầu tay in ở Văn nghệ Quân đội.

Tuy nhiên, lo âu nặng trĩu, mà ba tôi không cản chí tôi hướng vào văn nghiệp, trái lại. Thật ra, cầm bút viết văn, ấy là đời tôi đã tiếp bước cuộc đời của ba tôi. Lặng lẽ, gần như không lời chỉ giáo bày dạy nào hết, ba tôi đã truyền cho tôi tình yêu và năng lực cảm thụ văn học, đặc biệt tình yêu, lòng tự hào đối với tiếng Việt, tiếng Việt của đời sống và tiếng Việt trong văn học. Tôi có thể viết văn được tất cả là nhờ ở ba tôi, và nhờ ở sự khuyên nhủ giúp đỡ ân cần của những người bạn của ba tôi: nhà văn Nguyễn Tuân, nhà văn Bùi Hiển, nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Nguyễn Đức Nam, giáo sư Hoàng Ngọc Hiến…

Truyện ngắn đầu tay tôi viết xong rất nhanh, nhưng gửi báo Văn Nghệ, không dùng được. Viết để đó. Hơn một năm sau, không nói với tôi, mẹ tôi lục trong ngăn bàn lấy bản viết tay đó trao cho giáo sư Hoàng Ngọc Hiến khi ông tới chơi. Tối hôm sau, trời mưa, tôi đang ở nhà một mình, giáo sư gõ cửa, bước vào, có áo tơi nhưng tóc và vai ông vẫn bị ướt. Ông nói ông đến vì cái truyện vừa đọc khi chiều. “Không đạt”, ông nói ngay. “Theo thang điểm 5 chỉ đáng 3-”. Ông mở cặp, lấy ra xấp những trang đánh máy. “Tôi nhờ văn thư trường Nguyễn Du đánh máy bản thảo cho anh lần này. Lần sau tự mà gõ lấy. Chữ anh quá tệ. Từ nay, khi viết văn, anh nên dùng máy chữ”.

“Từ nay?” Nghĩa là… giáo sư thấy mình có thể tiếp tục? Tôi tự hỏi, mơ hồ một niềm vui sướng. Tôi những mong được nghe giáo sư nói kỹ hơn, song ông chẳng chuyện nhiều, cạn chén trà ông về. Bắt tay tôi ông bảo: “Tóm lại: cái truyện này thì không ra gì, nhưng anh là người hình như có thể viết được văn. Cho nên đừng có sợ, cứ liều viết đi, biết đâu đấy. Sẽ rất cực, lại chẳng chắc đã thành, tuy vậy vẫn rất đáng để liều. Bởi vì cái đời văn chương ấy mà, tiếng vậy chứ rất vui, rất kỳ thú”.

Tôi nhớ mãi những lời thoảng qua, như là nói cho vui ấy của giáo sư Hoàng Ngọc Hiến. Bằng những khuyên nhủ như vậy và bằng những quan tâm nho nhỏ mà chân tình, ông đã giúp tôi có được một nỗ lực văn chương suốt cuộc đời. Cái nhìn khoáng đạt và tươi tỉnh của ông về nghề cũng bước đầu cho tôi một tình cảm tốt lành, một thái độ bình thản đối với công việc sáng tác.

Sự thực thì viết văn là một nghề nghiệp (nhất là viết văn xuôi), và cũng như mọi nghề nghiệp khác trong cuộc sinh nhai của con người, nghề viết văn có những buồn khổ, phiền lụy, thất bại, những sự kỳ quặc và vô nghĩa lý nhưng cũng vô vàn những niềm vui, những sự thú vị, những thành công và những hữu ích theo kiểu của nó.

Nghề văn là nghề chuyên nghiệp về sự ngẫm nghĩ. Nhà văn tự xem mình là kẻ có khả năng, có trách nhiệm và có ham thú đúc kết nhân tình thế thái đặng tìm ra cho bản thân mình và bạn đọc của mình những giá trị, những ý nghĩa vừa cố định vừa đổi thay không ngừng của đời sống con người, một đời sống tuy ngắn ngủi và khá là ảm đạm, nhiều buồn đau và bất hạnh, song lại cũng hàm chứa vô cùng tận những lẽ đời đáng sống, những giá trị cao quý, những vẻ đẹp tuyệt vời, hạnh phúc và niềm vui.

BẢO NINH

 

Điều 8 Biết sợ để răn mình mỗi ngày (1)

 Tác giả: MATSUSHITA Kônosuke (*)
Người dịch: Nguyễn Sơn Hùng

Không gì nguy hiểm bằng việc không biết sợ. Bạn hãy tự mình tìm ra nỗi sợ của bạn và cảm thấy sợ để biết thận trọng, là điều quan trọng (2).

Để sống một cuộc đời tốt đẹp hơn tôi nghĩ rằng phải chăng trong cuộc sống hàng ngày, việc mọi người chúng ta vừa sống vừa cảm thấy sợ ở mặt nào đó là điều quan trọng?

Nghe như vậy, có thể có người nghĩ rằng việc cảm thấy sợ là do bệnh nhút nhát nên chẳng phải là không làm được việc gì hay sao?

Tuy nhiên, nỗi sợ nói ở đây không phải do nhút nhát mà có ý nghĩa tích cực hơn. Đó là nỗi sợ đưa chúng ta đến thái độ khiêm nhượng. Thí dụ gần gũi là loại cảm thấy sợ của trẻ em đối với cha mẹ hoặc đối với cô thầy. Nỗi sợ của người bán hàng đối với chủ tiệm, của nhân viên đối với Tổng giám đốc của công ty. Nỗi sợ mà hầu như mọi người đều có, như ngay cả ở địa vị tối cao của vị Tổng giám đốc của một công ty đối với người đời trong xã hội.

Ngoài ra, không những nỗi sợ đối với người khác mà ngay cả nỗi sợ của  mình đối với chính bản thân mình. Nếu không khéo thì ngay cả khuynh hướng lười biếng của bản thân cũng làm cho mình cảm thấy mình sợ mình. Ngoài ra, có lẽ tính cách ngạo mạn đối với người khác của bản thân hoặc việc không có can đảm, không có niềm tin khi làm bất kỳ việc gì cũng là loại sợ nói trên.

Như vậy không phải là loại sợ đơn giản như bị chó cắn mà việc cảm thấy sợ ở mặt tinh thần phải chăng là quan trọng?

Tại sao vậy? Tôi nghĩ rằng bởi vì đối với con người của chúng ta nếu không có điều gì để sợ như nói trên, dù cho bất kỳ việc gì cũng có thể làm theo ý muốn thì từ lúc nào không biết, cách suy nghĩ của chúng ta sẽ trở nên hời hợt không cẩn trọng, sẽ trở nên kiêu căng ngạo mạn, kết cuộc không ít trường hợp làm cho bản thân chúng ta tệ hại đi.

Ngay cả Hitler của đảng Quốc Xã Đức (3), bởi vì không biết sợ gì nên tự tin quá mức vào khả năng của mình, vung vảy quyền lực để rồi kết cuộc lâm vào diệt vong. Khi nghĩ đến sự việc này tôi nghĩ rằng không có gì nguy hiểm bằng việc không biết sợ.

Bởi vậy tôi nghĩ rằng việc tự mình tìm cho mình nỗi sợ của ý nghĩa tích cực như nói trên và luôn có nó trong lòng để vừa cảm thấy sợ và tiếp tục nỗ lực cố gắng mỗi ngày là điều rất quan trọng. Nếu thực hiện được như vậy  chúng ta sẽ có thái độ khiêm tốn lại vừa nỗ lực để tiến lên nên thực lực chân thật trong việc làm người của chúng ta sẽ được bồi dưỡng.

Tôi nghĩ rằng phải chăng điều nói trên không chỉ đơn thuần về cuộc sống của cá nhân mà còn có thể nói cho cả trường hợp của các công ty, các đoàn thể, các chính phủ đảm trách công việc chính trị của quốc gia. Ngay cả đoàn thể hoặc chính phủ của một nước nếu không biết sợ nhất định sẽ tự mình quá tin tưởng vào mình và sau đó dựa vào bạo lực và quyền lực để xúc tiến sự việc. Kết quả là dù trong một giai đoạn hoặc trong một thời kỳ người không biết sợ có thể khoe trương quyền thế nhưng rồi trong không lâu tự bản thân họ sẽ đi vào con đường tự diệt vong. Phải chăng trong quá khứ đã có nhiều thí dụ như vậy.

Do đó, các cá nhân chúng ta là đương nhiên, trong trường hợp thành lập đoàn thể và hoạt động dưới hình thức tập thể, chúng ta cần lưu ý đầy đủ sao cho đừng rơi vào sự hoành hành của đa số.

Nhìn vào xã hội gần đây, tôi nghĩ ngay cả cá nhân hoặc đoàn thể, số trường hợp của việc không sợ là rất nhiều!

Nguyễn Sơn Hùng, 10/11/2022

(*) Nguồn: MATSUSHITA Kônosuke: NHÂN SINH TÂM ĐẮC THIỆP (人生心得帖), Viện Nghiên Cứu PHP xuất bản 1984 khổ A5, xuất bản 2001 khổ A6.

Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng

Nhận xét của người dịch

Bài này nhắc nhở cho chúng ta nhiều việc. Cùng một khái niệm, cùng một hành động nhưng tùy theo cách làm, trình độ thực hiện mà kết quả có thể rất khác nhau! Do đó khi áp dụng, thực hiện việc gì chúng ta cần phải suy nghĩ sao cho đúng cách, đúng chỗ, đúng lúc, đúng cương vị.

Thí dụ cũng có người khuyên không nên giáo dục trẻ em bằng cách làm cho chúng sợ. Tuy nhiên, việc sợ cha mẹ, thầy cô cũng giúp trẻ em tránh làm những việc không nên làm và tập được những thói quen tốt cho cuộc sống trong tương lai. Cũng là lòng tin ngưỡng đối với tôn giáo nhưng có người dựa vào đó để răn mình, tu sửa mình cho tốt hơn, để có cuộc sống hạnh phúc hơn nhưng cũng có người sinh ra lòng mê tín và đôi khi đưa đến nhiều thảm kịch.

Ghi chú

  1. Tựa bài dịch theo nguyên bản. Tựa phụ trong ( ) do người dịch đặt thêm để quý độc giả dễ nhớ và tổng kết các điều trọng yếu mà tác giả đề xuất để chúng ta có cuộc sống tốt đẹp hơn.
  2. Đại ý của bài viết. Trong nguyên tác, đại ý được viết ở đầu của mỗi bài.
  3. Tên đầy đủ của đảng là đảng Lao Động Quốc Dân Xã Hội Chủ Nghĩa Đức Quốc (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, NSDAP)

Mời Xem :



CÔNG VIỆC VÀ VẬN MỆNH (Diển Đàn Khai Phóng )

Nơi phát tích bài thơ “Nam quốc sơn hà” ở đâu?

Vanvn- Ở tỉnh Bắc Ninh, nhiều người biết đến xã Tam Giang, huyện Yên Phong vì có cây gạo trên 130 tuổi ở ngã ba Xà thuộc thôn Đoài.

Đây cũng là nơi hợp lưu sông Cầu và sông Cà Lồ. Ngay gần cây gạo là đền Xà – nơi thờ Đức Thánh Tam Giang, cũng chính là điểm phát tích bài thơ “Nam quốc sơn hà”.

Tượng đài ở đền thờ Lý Thường Kiệt. Ảnh: Minh Minh.

Theo sử sách truyền lại, trong những ngày sôi sục khí thế kháng chiến, Lý Thường Kiệt đã truyền đọc bài thơ này để khơi gợi tinh thần yêu nước và cổ vũ quân dân ta trong trận đánh thắng giặc Tống vào mùa xuân năm 1077.

Đền Xà có dấu tích từ xa xưa nhưng trải qua thời gian đã được trùng tu nhiều lần vào các đời Lê, Nguyễn. Trong kháng chiến chống Pháp, ngôi đền bị phá hủy hoàn toàn. Hòa bình lập lại, dân làng lại góp công, góp của xây dựng và trùng tu để có được diện mạo như ngày nay.

1988 – cùng thời gian cây gạo cổ bên bến sông được công nhận là “Cây di sản quốc gia”.

Nhân kỷ niệm 940 năm chiến thắng chống quân Tống, năm 2017, tỉnh Bắc Ninh đã cho xây dựng quần thể di tích đền thờ Lý Thường Kiệt bên bờ sông lịch sử.

Cây gạo di sản ở ngã ba Xà – nơi hợp lưu sông Cầu và sông Cà Lồ. Ảnh: Minh Minh. Với giá trị lịch sử đặc biệt, đền Xà đã được công nhận là di tích cấp quốc gia vào năm

Tam Giang đất trời mênh mông, bờ sông trải dài xanh mát với những bến đò vẫn bao đời bình dị nối liền giao thương giữa hai bờ Bắc – Nam. Nơi đây – ngã ba Xà mang đầy trầm tích văn hóa lịch sử và có cây gạo di sản cùng quần thể di tích đền thờ Lý Thường Kiệt sẽ là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, thú vị.

PV (Theo Giáo dục và Thời đại)