28 thg 9, 2021

MƯA BONG BÓNG,TÌM ĐÂU KỶ NIỆM NGỌC NGÀ – Thơ VKP phượng tím

 

MƯA BONG BÓNG – VKP phượng tím
 
Saigon tháng chín mưa tuôn
Chùm bong bóng nước cuộn cuồng ngoài sân
Tâm tư khắc khoải bâng khuâng
Thế gian nầy biết bao lần biệt ly
Xót xa đại dịch Cô Vi
Thành đô tan nát – sầu bi ngút ngàn
Chung quanh lạnh lẽo tóc tang
Tim chai cứng – lệ khóc than cạn rồi
Còn bao lâu nữa? ai ơi!
Viễn Đông Hòn Ngọc tái hồi như xưa?
Lặng nhìn bong bóng nước mưa!!!
 
Saigon Tháng 9/2021 - VKP phượng tím





Nguồn gốc xe đạp



Phạm Văn Tuấn

1/ Nguồn gốc xe đạp.

Rất nhiều phát minh lớn lao có giá trị đáng kể đối với nhân loại đã bắt nguồn từ những món đồ chơi. Trong trường hợp xe đạp, nó bắt đầu từ con ngựa gỗ. Vào cuối thế kỷ 18, trẻ em tại thành phố Paris đều biết tới ông De Sivrac. Ông này đã làm một con ngựa gỗ có hai bánh gọi tên là “velocifère”. Có khi đầu con ngựa được thay thế bằng đầu một con sư tử hung dữ. Người lái xe này chỉ việc cưỡi lên lưng con ngựa gỗ rồi đầu tiên, đạp đất bằng một chân, tiếp theo bằng chân kia và giữ thăng bằng để xe chạy một quãng xa.

Từ khi có xe velocifère, các người đưa thư đã chạy thử loại xe này trong công tác hàng ngày, nhưng lúc đầu, nhiều người còn ngượng ngùng. Theo ngày tháng trôi qua, món đồ chơi xe ngựa gỗ đó trở nên quen thuộc đối với người dân Pháp rồi ngay cả tại thành phố London, những nhà thể thao trẻ tuổi cũng ưa thích lái loại xe hai bánh đó. 
                                            Xe đap Draisine 1917

Tới khi nhiều người lớn bắt đầu dùng loại xe velocifère thì đầu con ngựa hay đầu sư tử được bỏ đi. Các nhà phát minh người Pháp đã làm ra các kiểu mẫu mới, thêm vào đó yên xe và càng trước quay được (pivoted front fork) khiến cho người xử dụng xe bẻ lái dễ dàng hơn. Tuy nhiên, chính Nam Tước Von Drais, một nhà phát minh người Đức, đã biến đổi chiếc velocifère thành một thứ xe có hình dáng giống xe đạp ngày nay, chiếc xe vì thế được gọi là “draisine” và đã được trưng bày tại Paris vào năm 1818. 

Càng trước của xe được kéo dài cao hơn thân xe, tới đoạn gỗ ngang dùng làm tay lái. Thân xe được chế tạo bằng gỗ và sắt, và được uốn cong để thích hợp với chiếc yên xe nhồi bông. Giữa tay lái và yên, có một đệm tỳ tay. Xe “draisine” chẳng bao lâu được người dân Paris ưa chuộng. Mặc dù có rất nhiều loại và có cả loại cho đàn bà, người dùng thứ xe này vẫn phải đạp chân xuống đất để đẩy cho xe chạy.

Một cải tiến khác về xe đạp draisine tiện lợi hơn được bác thợ rèn người Anh tên là Macmilan phát minh ra. Macmilan thêm vào hai thanh sắt nối với bánh sau. Trong khoảng các năm từ 1840 tới 1850, Macmilan đã sản xuất nhiều loại xe đạp đó. Khung xe thời bấy giờ làm bằng gỗ uốn cong, cao lên về phía trước và thấp xuống về phía sau. Xe lại có yên gắn trên các lò xo, một cái dè chắn bùn ở bánh sau và có cả thắng nữa. Trong kiểu xe này, bánh  trước nhỏ hơn bánh sau. Trong cuộc chạy thử 40 dậm, Macmilan đã kết thúc cuộc biểu diễn bằng việc chạy quá tốc độ, khiến cho anh ta cán phải một em bé đứng trong đám khán giả. Anh ta bị phạt vạ 5 bảng vì lái xe bạt mạng.

Cũng trong khoảng thời gian này, Ernest Michaux, con của một người làm xe ngựa tại nước Pháp, rất quan tâm tới xe đạp. Vào năm 1860 tại nước Pháp, đã có rất nhiều xe draisine và chàng Michaux 19 tuổi, thường dùng thứ xe này làm một môn thể thao khi không bận giúp việc cha. Vốn bản tính lười biếng, Michaux ưa thích xuống dốc hơn là leo dốc, vì vậy chàng ta cân nhắc về các cách làm cho việc dùng xe bớt mệt nhọc và thích thú.

Vào một buổi chiều kia, Michaux trở về nhà, mệt phờ. Chàng ta nói với cha: “Thưa cha, con có thể giữ cho xe thăng bằng được, nhưng co chân lên lơ lửng thì cũng mệt nhọc như là đạp chân xuống đất để đẩy cho xe đi vậy”. Nghe con nói, người cha đã trả lời: “Được rồi, thế sao không lắp thêm hai cái tựa tại hai bên càng trước (front fork), như vậy mỗi khi đi xe, con có thể giữ thăng bằng trên xe và lại có chỗ để chân”. Rồi sau một lúc suy nghĩ, ông Michaux lại bảo con: “Nhưng lại có cách này hay hơn, ta nên lắp một trục quay tại bánh trước và con có thể đạp cho bánh trước quay giống như thể ta quay trục của hòn đá mài dao vậy”.

                                                 xe dành cho nữ

Từ đó, xưởng đóng xe ngựa của ông Michaux trở thành nơi chế tạo một loại xe đạp kiểu mới. Chẳng bao lâu, một công ty được ông ta thành lập để chuyên sản xuất xe đạp. Thời bấy giờ, trục quay và bàn đạp được gắn liền vào bánh trước và bánh xe này lớn hơn bánh sau. Khung xe thời đó thường bằng gỗ và rất nhẹ và xe có một thắng tay gắn trên tay lái.

Năm 1866, một người thợ làm trong xưởng của ông Michaux tên là Lallemont qua Hoa Kỳ, anh ta đã thử chế tạo loại xe đạp Michaux, lập ra cơ xưởng sản xuất tại Connecticut và lấy bằng phát minh Hoa Kỳ, nhưng chiếc xe mới này không được phổ thông hóa và công việc làm ăn của Lallemont bị thất bại.

Trong các năm 1870 và 1880, chiếc xe đạp còn rất nặng nề, với trọng lượng từ 75 pounds tới 100 pounds. Bánh xe trước chiếm phần lớn tỉ lệ và người lái xe ngồi vắt vẻo trên cao một cách rất nguy hiểm. Mặc dù nhiều tai nạn đã xẩy ra khi dùng loại xe chế tạo vụng về này, việc xử dụng xe đạp vẫn ngày một gia tăng tại châu Âu cũng như tại châu Mỹ. 

Vào năm 1870, đã có một cuộc đua xe đạp tại thành phố New York. Tại nước Pháp, chặng đua xe đạp quốc tế Paris - Rouen dài 83 dậm đã trở nên một tục lệ. Trong cuộc đua này, ban giám khảo cấm đổi xe, cấm dùng chó kéo xe và cấm cả cách dùng buồm! Người dự cuộc đua được 24 giờ để đi hết cuộc hành trình. Cuộc đua bắt đầu từ 7 giờ 15 sáng và người thắng cuộc đầu tiên tới mức đến lúc 6 giờ 10 chiều. Các tai nạn thường là chết ngất vì kiệt sức! 

Thêm vào các cuộc đua xe đạp, các hiệu buôn bán xe cũng dần dần xuất hiện và tin tức về xe đạp trở nên một tin quốc tế quan trọng. Các xưởng chế tạo xe đạp mọc lên tại khắp châu Âu và châu Mỹ. Xe đạp đã trở thành một phương tiện vận chuyển. Rồi các thay đổi cuối cùng của xe đạp được thực hiện. 

Vào năm 1877, bàn đạp và trục quay gắn liền vào bánh trước đã được Rousseau, một người thợ máy tại Marseille, thay thế bằng bánh xe có răng và xích xe, giống như thứ thường thấy tại các xe đạp ngày nay. Khung xe bằng sắt vừa khỏe hơn, vừa nhẹ hơn thay thế cho thân xe bằng sắt và gỗ, cả hai bánh xe được thu lại gần nhau, loại thắng bàn đạp làm cho việc lái xe an toàn hơn, lốp xe khiến cho việc ngồi lái trở thành êm ái. Sự cải cách từ các bánh xe to lớn và không bằng nhau thành các bánh xe nhỏ hơn và bằng nhau đã giúp cho việc loại bỏ được trục quay và hai  bàn đạp đạp thẳng vào bánh xe trước.
Sau khi rất nhiều cải tiến đã được thực hiện tại nước Pháp thì nước Anh mới bắt đầu góp phần vào công việc chế tạo xe đạp. Nhiều loại xe 3 bánh và 4 bánh được thực hiện nhưng đều bị báo chí Anh chỉ trích là “những mối đe dọa mới trên đường phố”. Dù sao, kỹ nghệ xe đạp cũng bắt rễ tại Coventry. Tại nơi này, James Stanley đã thêm vào ý kiến lắp nan hoa (spoke) bằng thép vào năm 1874. Hai mươi năm sau, con của Stanley dùng các ống thép để chế tạo khung xe. Cả hai phát minh này đã làm cho xe đạp nhẹ hơn và khỏe hơn. Sự nhẹ nhàng của xe đạp còn nhờ vào Tauffault do cách xử dụng càng trước rỗng lòng. 
Xe đạp đầu TK 20
 
Liên quan tới chiếc xe đạp, ruột bơm hơi có lẽ là phát minh lớn lao nhất. Loại ruột này được Thompson lấy bằng phát minh tại nước Anh vào năm 1845 nhưng tới năm 1889, Dunlop mang áp dụng ruột bơm hơi vào việc chế tạo xe đạp và chỉ 3 năm sau, phát minh này được dùng tại khắp nơi. Thắng tay chẳng bao lâu cũng nhường chỗ cho thắng bàn đạp đằng sau (back pedal brake) là thứ cho phép giảm bớt tốc độ do người lái chạy xe càng ngày càng nhanh.

2/ Xe đạp tại Hoa Kỳ.

Xe đạp được người dân Hoa Kỳ dùng muộn hơn so với nhiều nơi khác. Kỹ nghệ xe đạp tại Hoa Kỳ chỉ được phát triển vào năm 1886 với loại “xe đạp an toàn” của Đại Tá Pope tại Hartford, Connecticut. Trong 10 năm tiếp theo, xưởng chế tạo xe đạp của ông Pope đã cải tiến xe đạp khiến cho trọng lượng của xe giảm từ 100 pounds xuống còn 25 pounds và giá mua từ 150 mỹ kim xuống 50 mỹ kim. Cũng trong khoảng các năm này, số xe đạp tại Hoa Kỳ tăng từ vài trăm xe lên tới 4 triệu xe với hàng trăm xưởng chế tạo toàn thể chiếc xe cũng như vài thành phần của xe đạp.
Sự đòi hỏi về xe đạp bắt buộc các nhà sản xuất phải cải tiến phương pháp làm việc chân tay cổ truyền bằng cách dùng tới máy móc. Lối sản xuất hàng loạt được khai triển, các cơ xưởng trở nên chuyên môn về một vài bộ phận và các bộ phận này có thể thay đổi được. Phương pháp làm việc dây chuyền đã trở nên rất quan trọng sau này trong việc chế tạo xe tự động. Cũng nhờ các kinh nghiệm về xe đạp mà các nhà sản xuất Hoa Kỳ có thể chế tạo được xe hơi rẻ tiền hơn với nhịp độ nhanh chóng hơn.

Sự tinh xảo do kỹ nghệ xe đạp mang lại đã có giá trị rất lớn lao cho sự tiến bộ của ngành xe hơi. Vài xưởng chế tạo xe đạp được đổi thành nơi sản xuất xe hơi, chẳng hạn như hãng Stanley và vài nhà tiên phong về xe hơi trước kia đã từng là những chuyên viên sửa chữa xe đạp, chẳng hạn như anh em Durya.

Các xe đạp tân tiến ngày nay có các đường nét đẹp đẽ hơn, lại được tô điểm bằng nhiều đồ phụ tùng và trong các năm gần đây, ít có thêm các cải tiến căn bản khác. Hiện nay, xe đạp được bình dân hóa và ngay cả vào thời chiến, xe đạp còn là một phương tiện vận chuyển có giá trị, nhất là tại các địa thế hiểm trở mà loại xe hơi rộng hơn và lớn hơn không chạy được.

Phạm Văn Tuấn

Tài liệu tham khảo: Wikipedia.org., Britannica Encyclopedia. Egon Largen, A History of Invention, Phoenix House, London, 1962.
Xe thồ




 

BỐN MÙA YÊU THƯƠNG - Thơ Hô thị Hoàng Oanh


 
BỐN MÙA YÊU THƯƠNG
 
Nếu anh hỏi mùa nào em thích nhất?
Là thi nhân em sẽ thích mùa thu
Lá vàng rơi trong nhạt nắng sương mù
Em sẽ viết bức thư tình gửi gió
 
Nếu anh hỏi em, em yêu mùa nào đó?
Em là em thì thích gió mùa đông
Rét mướt lùa về lạnh lẽo cả tầng không
Đựơc nắm tay anh trong bềnh bồng sóng nước
 
Nếu anh hỏi mùa nào em thích nhất?
Là cỏ cây em sẽ thích mùa xuân
Hoà với đất trời chim hót bâng khuâng
Mưa phùn tới trăm hoa xuân khoe sắc
 
Nhưng không có nghĩa là hè kia nắng gắt
Là mùa em không thích nhất đâu anh
Là trái quả em thích nắng trong xanh
Nắng say sưa mang ngọt lành cho quả!
 
Tham lam nhỉ? chẳng mùa nào ghét cả
Tham lam ôm nghiêng ngả cả bầu trời!
Ôm cho mình một hình bóng thân thương.
 
Hoàng-Oanh 27.9

                Tranh Trần Nguyên
 

Chữ Việt Gốc Pháp - Nguyễn Hữu Phước ( Trần Văn Giang ghi lại )

Dẫn nhập

Bài nầy nhắm vào việc giới thiệu với giới trẻ một khía cạnh của tiếng Việt, đó là những từ Việt gốc Pháp. Do đó nhiều chỗ có những giải nghĩa dài dòng, có thể hơi thừa đối với những người lớn tuổi (45-50 trở lên), xin quí vị lớn tuổi chấp nhận cho. Một số những từ trong bài nầy có trong quyển Việt Nam Tự Điển (VNTD) của các ông Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, hoặc trong quyển Gốc Và Nghĩa Từ Việt Thông Dụng (GvN) của ông Vũ Xuân Thái, một số những chữ Việt hóa mà tôi kể ra ở phần sau không có trong hai quyển nầy.

Một số từ Việt hóa ghi trong VNTD chỉ ghi phần giải thích mà không có ghi nguyên ngữ Pháp. Dưới đây, một số nguyên ngữ Pháp do chúng tôi ghi trong các dấu ngoặc đơn là theo trí nhớ của chúng tôi với sự giúp đỡ của bạn tôi là anh Nguyễn Ánh Dương. Mong rằng chúng tôi nhớ đúng, mặc dầu đã trên 30 năm không viết hay đọc tiếng Pháp. Nếu thấy chỗ nào sai xin quý vị chỉ dạy hoặc bổ túc dùm, chúng tôi cảm ơn nhiều.

 

*

Trong tiếng Việt có thể nói trên năm mươi phần trăm các chữ có nguồn gốc Hán Việt (HV). Nhiều chữ loại nầy chúng ta đã dùng lâu đời và đã trở thành thông dụng đến nỗi chúng ta không để ý chúng là những từ Hán Việt nữa. Ảnh hưởng của Trung Hoa (TH) trong tiếng Việt là kết quả tự nhiên của hàng ngàn năm Bắc Thuộc và ngay trong thời kỳ tự chủ gần mười thế kỷ cũng dùng Hán tự như ngôn ngữ viết chính thức của quốc gia.

Nhưng còn khoảng 100 năm dưới ảnh hưởng của Pháp thì sao? Chúng tôi thử ghi nhận ra đây những chữ mà thế hệ chúng tôi, những người mà hiện giờ đang trong lứa tuổi 45-70 trở lên, đã có dịp đọc qua, hoặc nghe nói nhiều lần, hay chính mình trực tiếp dùng những từ đó, dùng một cách tự nhiên, hay dùng để nhớ lại một dĩ vãng nào đó. Trong những từ nầy, một số đã có một thời thông dụng mà bây giờ thì ít ai nhắc đến nữa. Một số chữ khác vẫn còn thông dụng ở một vài địa phương trong nước, hoặc hải ngoại.

Giọng Hán Việt và các địa danh

Vấn đề người VN đọc các địa danh hay nhân danh ngoại quốc bằng cách nào là một vấn đề cho đến nay vẫn còn trong vòng tranh luận. Tuy nhiên trong một thời gian dài chúng ta đã chấp nhận việc đọc các địa danh ngoại quốc bằng cách mượn những từ Trung Hoa đã dùng sẵn và đọc theo giọng Hán Việt. 

 

Ảnh hưởng của TH nhiều đến đỗi ngay cả chữ “Pháp” để chỉ địa danh Pháp hay dân Pháp, cũng có nguồn gốc Hán Việt. Pháp đã đô hộ VN gần 100 năm. Pháp chính thức chiếm một phần lãnh thổ của VN vào năm 1862 và năm 1867. Năm 1884, mặc dầu Pháp chia VN ra là ba phần với ba thể chế chính trị khác nhau, Pháp đã đặt nền đô hộ trên toàn cõi VN. 

 

Mãi đến năm 1954, sau hiệp định Genève Pháp rút quân khỏi phần đất phía bắc của vĩ tuyến 17 và năm 1955 Pháp rút quân khỏi miền nam vĩ tuyến nầy và hoàn toàn rời khỏi VN. Nhưng tại sao chữ “Pháp” có nguồn gốc Hán Việt (HV)? 

 

Pháp Lang Sa, Lang Sa, Pháp

 

Người Trung Hoa âm từ chữ France tức nước Pháp ra ba phần: F, ran, ce. Nhưng trong ngôn ngữ TH không có âm “R,” và họ dùng âm “L”thay thế. Do đó TH viết ba phần trên thành ba từ và đọc là Phà lãn xi (giọng quan thoại), hoặc “Phap làn xấy” (giọng Quảng Đông). Khi người TH phát âm giọng quan thoại, chúng ta nghe gần giống âm của nguyên ngữ “F ran ce” hơn, nhưng bị đổi thành “F lan ce.” Họ đã đọc từ “ran” thành “lãn.” TH mượn âm “xi” để đọc từ “ce.” Xi hay xấy là “tây” tức hướng tây. Các nhà nho của ta đọc lại địa danh ấy là” Pháp lang tây ” hay Pháp lang sa. Từ đó chúng ta có từ “Pháp” hay từ “Lang sa” để chỉ nước “Tây” hay nước Pháp.

 

Cũng một cách đọc đó, mẫu tự R đã thành L trong hai chữ Franc và Paris và tất cả những từ nào có “R.” Franc, đơn vị tiền tệ của Pháp, được TH đọc là “Phà lạng” (giọng quan thoại) hay “phap lòn” (giọng Quảng Đông); và chúng ta gọi là đồng Phật lăng (giọng HV). Paris, thủ đô của Pháp, có giọng TH “Pa li” hay giọng HV là “Ba lê.”

 

Mỹ, Hoa Kỳ, Hợp Chúng Quốc, Cờ Hoa 

 

Một ví dụ khác nữa trong việc mượn tiếng TH đọc âm HV là chữ “Mỹ” để chỉ Hoa Kỳ (HK). Chữ nầy do nguyên ngữ America. TH viết và đọc đại khái là “A mi li ca” (chữ r thành l trong từ li) và các cụ chúng ta đọc Á mỹ lệ ca. Tàu họ gọi tắt bốn từ đó là Mỹ và chúng ta dùng y chang như vậy. Địa danh America được chúng ta chiếu cố qua bốn tên. Ba tên đầu là tiếng HV: Mỹ, Hoa Kỳ, và Hợp Chúng Quốc (vì là một liên bang gồm nhiều bang từ chữ United States). Tên thứ tư “xứ Cờ Hoa” là một trường hợp có chút đặc biệt, vì chữ nầy phát sinh do chữ “Hoa Kỳ.” Theo lẽ khi “dịch” ra tiếng Việt thuần túy phải là “Cờ Bông.” Còn trong chữ “Cờ Hoa,” cờ là tiếng Việt, còn Hoa lại là HV.

 

Những chuyện “Tàu làm sao Ta làm vậy” còn dài lắm. Không chỉ ở trong phạm vi chữ nghĩa mà thôi. Riêng trong chữ nghĩa, Việt ta còn hay hơn một chút là đôi khi vì lý do nầy hay khác, đổi luôn âm khác vào để dùng theo ý riêng. Thí dụ địa danh Hungary, TH viết ba từ và đọc theo âm của họ đại khái là “Hung chia lị” (chữ r đọc thành l như đã nói). Theo quyển “Tên Họ Người VN” của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, dân ta theo TH trong việc cữ tên. “Lị” là tên của vua Lê Thái Tổ. Do đó vì sợ phạm húy nên các cụ đọc “lị” thành “lợi.” Vì vậy mà ta có Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi và Ý Đại Lợi v….v. thay vì Bảo Gia Lị, Hung Gia Lị và Ý Đại Lị.

 

Nhập (và lạc) đề đã khá xa, giờ xin trở lại các chữ Việt gốc Pháp. Nói chung đa số những địa danh của một số quốc gia lâu đời trên thế giới đã được đọc bằng tiếng VN qua giọng HV, và đã được dùng một cách sâu rộng trong sách vở và trong tiếng nói. Thí dụ như : Á căn đình, Anh, Bảo gia lợi, Gia nã đại, Lỗ ma ni, Mỹ, Nga, Pháp, Phần lan, Úc (hay Úc đại lợi), Ý v..v... Do đó chúng tôi xin miễn ghi lại những chữ liên quan đến địa danh hay nhân danh trong phần tiếp theo, trừ vài từ nào khá đặc biệt. 

 

Chữ “Pháp lang sa” (hay Phú lang sa), và Lang sa đã có một thời rất thông dụng. Nó đã đi vào ca dao VN. Chữ “Tây” thì tới ngày nay chúng ta vẫn dùng để chỉ người Pháp hay nước Pháp. Ông Nguyễn Trúc Phương, trong quyển “Việt Nam Văn Học Bình Dân” (5), chương về ca dao có ghi: 

 

Văn minh gặp buổi Lang sa 

Tri âm thì ít, trăng hoa thì nhiều.

 

Hoặc: 

 

Giặc Tây đánh tới Cần giờ 

Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công... 

Đắng khổ qua chua là chanh giấy 

Dầu ngọt cho thế mấy cũng tiếng cam sành 

Giặc Lang sa đánh đến bên thành 

Dầu ai có ngăn qua đón lại 

Dạ cũng không đành bỏ em.

 

Hoặc:

Lấy Tây, lấy Chệt làm gì 

So bề nhân ngãi sao bì An Nam 

 

Chữ Việt gốc Pháp trong vấn đề ăn uống

Ăn phở uống cà phê

Ăn uống là nhu cầu căn bản đầu tiên của tất cả các dân tộc. Do đó khi giao tiếp với người Pháp, những chữ liên quan đến thực phẩm được dùng đến nhiều. Trước hết có chữ “cà phê.” Già trẻ, từ nam tới bắc, từ đông sang tây (quốc nội hay hải ngoại) đều biết từ nầy. Nó do chữ café của Pháp. Cây cà phê đã góp một phần quan trọng vào đời sống của dân Việt từ thời Pháp thuộc cho đến ngày nay. Cách đây ba, bốn năm, VN đã đứng đầu thế giới trong việc sản xuất và xuất cảng cà phê loại “Robusta.” 

 

Liên quan tới cà phê, có “cà phê phin” (filtre: lọc). Cà phê phin có một độ còn có biệt danh “cái nồi ngồi trên cái cốc.” Đó là sự “tả chân” về cái phin cà phê của các bộ đội ngoài Bắc vào Nam. Phải công nhận một điều là khi trời lạnh, vào quán gọi một ly cà phê sữa nóng, ngồi nhìn cái nồi thảnh thơi ngồi trên cái cốc, nhỏ từng giọt cà phê xuống cái ly (cái cốc), là một sự chờ đợi lý thú. Khi nhắp chút cà phê sữa từng hớp nhỏ, hưởng cái vị đắng-ngọt “đã” cái lưỡi không thể tả được. Nhưng chưa hết. Hãy gọi một bát phở tái, chín, nạm, gân, sách nữa. 

 

Có người nói với tôi chữ “phở” có nguồn gốc Lang sa đấy. Một cựu thuyền trưởng thương thuyền, đã có thời làm việc cho Pháp và sau nầy cho VNCH, đã kể cho tôi nghe rằng thời trước 1954, ông ta chở tiếp liệu cho quân đội Pháp. Thuyền Phó và nhiều thủy thủ ở tàu của ông là dân Pháp chính cống. Khi tàu cập bến ở Hải Phòng, vào mùa lạnh, họ thường nấu một món “súp” (soupe) thịt bò và sau đó họ để thêm một loại mì sợi (loại giống như spaghetti) đã luộc chín vào súp trước khi ăn. Muốn giữ cho món súp được nóng suốt bữa ăn, họ để súp luôn trên lò lửa. Họ gọi món đó là “boeuf au feu”: (chữ “feu” đọc là “phơ”) tức là “bò nấu trên lửa.” 

 

Các thủy thủ người Việt không để “spaghetti” vào mà lại để hủ tiếu vào và gọi món đó là “boeuf au feu” VN. Chữ nầy dài quá nên được gọi tắt là món “au feu” và sau đó chỉ còn có chữ “feu.” Rồi chữ “phơ” là lửa ấy trở thành chữ phở (có dấu hỏi) lúc nào, ông ta không biết. Món “soupe au feu” nầy trở thành thông dụng cho dân chúng miền Hải Phòng trước, và sau đó cho cả miền Bắc. Sau 1954, khi có nhiều đồng bào di cư vào Nam sau cuộc chia đôi đất nước năm 1954, món “phở” mới thành món ăn phổ biến trong Nam. Trước đó dân miền Nam dùng hủ tiếu thịt heo nấu theo kiểu Tàu. 

 

Một ông bạn già khác, chẳng quen biết gì ông thuyền trưởng trên, lại nói với tôi rằng người Pháp có nhiều loại súp khác nhau, họ thường ăn súp nóng khi trời lạnh. Họ giữ cho súp luôn nóng bằng cách đựng súp trong cái “pot” tức cái nồi và để ninh trên lửa. Họ gọi nó là “pot au feu” và chữ phở do từ feu mà ra. Tóm lại, “boeuf au feu” hay “pot au feu,” cả hai ông đều cho một kết luận giống nhau về nguồn gốc của chữ “phở.” Quí vị có biết thêm giả thuyết nào nữa không? 

 

Điểm tâm: Dăm bông, ba tê, ốp la 

 

Điểm tâm, có bánh mì, trứng gà, “dăm bông” (jambon): thịt heo hun khói và “ba tê” (pâtée) tức thịt hay gan xay, đã làm chín và ướp mùi vị đặc biệt. Có nhiều cách ăn hột gà. Bình thường là luộc chín. Có thể ăn hột gà “la cót” (oeufs à la coque): chỉ thả vào trong nước sôi độ vài phút, bên trong chưa chín hẳn. Ngoài ra còn có thể chiên hột gà bằng cách khuấy trộn chung lòng trắng và đỏ, ta có hột gà “ô mơ lết” (omelette); hoặc chiên nguyên tròng trắng và tròng đỏ để có hột gà “ốp la” (oeufs sur plat). 

 

Cơm trưa và tối với súp, xà lách, phi lê, cỏ nhác

 

Bữa cơm trưa hay tối có nhiều thứ canh hay súp. Súp bò, gà, hay súp rau cải. Súp rau cải còn có tên gốc Pháp là súp “lê gim” (légume). Tiếng bình dân của ta gọi nước súp là “nước lèo.” Súp hành để lạnh nổi tiếng của người Pháp mà các nhà hàng tây nào cũng có bán là “consommé froid”: thức uống lạnh. Sau bữa ăn chánh, thực khách thường dùng cà phê đen trong một cái “tách” (tasse) thật nhỏ. Chữ “tách” thông dụng cho đến ngày nay. Đã dọn ăn thì phải có muỗng và đũa. Muỗng nhỏ gọi là muỗng cà phê và muỗng lớn gọi là muỗng súp. Có nơi ngày xưa còn gọi muỗng là cái “cùi dìa” (cuillère).

 

Trong bữa ăn, ngoài “súp” ra, còn có “xà lách” (salade) tức rau cải. Xà lách còn là tên của một loại cải. Món salade “hằm bà lằng” nhiều loại rau cải đôi khi có cả đậu hủ, thịt gà, hay thịt heo hun khói hay “dăm bông.” Cây cải xà lách Đàlạt nổi tiếng ngon và được ưa dùng ở Sài Gòn (dân Mỹ gọi nó là butter lettuce). Một loại xà lách khác rất được ưa thích để trộn với dầu dấm là cải “xà lách xon” (cresson). Để thịt bò xào tái lên đĩa xà lách son dầu dấm là có một món nhậu vừa ngon vừa bổ. Thịt bò phải lựa loại “phi lê mi nhông” (filet mignon) mới đúng điệu vì nó rất mềm. 

 

Cho đúng tiêu chuẩn ngon, phải uống “cỏ nhác be ri ê,” hay “mạc ten be ri ê” (rượu hiệu Cognac hay Martel và nước suối Perrier) trong một cái ly lớn. Dân nhậu gọi ly rượu ấy là “công xôm ma xông” (consommation). Nếu không có “be ri ê,” thì dùng một loại nước suối có bọt hay nước soda cũng được. Một số người chỉ dùng nước lạnh pha với cỏ nhác hay mạt ten và nước đá. Họ cho rằng pha với các loại nước có bọt làm mất nguyên vị của rượu đi. Có người uống rượu mạnh không pha gì cả, thường gọi là “uống xếch” (Boire sec).

Phó mách, bơ, và rượu vang 

 

Sau bữa cơm tối và các câu chuyện hàn huyên, người ta còn ăn “phó mách” (fromage) và uống rượu “vang” (vin), còn gọi nôm na là rượu chát. Trong thức ăn kiểu tây có nhiều món nấu rượu vang như gà, vịt, lưỡi heo, thỏ. 

 

Phó mách và “bơ” (beurre) là sản phẩm từ sữa. Dân Pháp, Hoa Kỳ đều khoái hai thứ nầy. Có vô số loại phó mách khác nhau. Trong số đó có vài loại có mùi nồng và nếu không biết ăn thì đành xin lỗi vì nó hôi không thể tả. Nhưng dân sành ăn thì lại cho là nó ngon khỏi chê nhứt là dùng làm mồi để uống rượu vang. Đa số người Việt chỉ thích loại phó mách hiệu “con bò cười” (“La vache qui rit”) hay có tên HK là “the laughing cow.” Vào các siêu thị VN ở HK tìm mua phó mách, chỉ có thể tìm thấy loại nầy mà thôi. 

 

Sâm banh, la ve 

 

Dân Việt ta khi xưa, lúc Pháp mới cầm quyền ở VN ba bốn chục năm, có một số làm công chức cho Pháp hay những người giàu có mới ăn phó mách, uống sữa bò tươi và ăn bánh mì trét “bơ” Bretel, tên một loại bơ mặn nổi tiếng của Pháp. Ngoài ra còn có một chỉ số khác để chỉ nhà giàu xưa ở VN là việc dùng rượu “sâm banh” trong những tiệc vui. Sâm banh (champagne) là một loại rượu vang có bọt làm ra từ những trái nho ngon của vùng đất tên là Champagne, ở miền đông bắc nước Pháp. Ngày nay thì sâm banh sản xuất ở California, HK, tràn ngập thị trường quốc tế và là một loại rượu coi là “bình dân” vì quá phổ biến trong mọi giới, mặc dù có vài loại rượu sâm banh giá khá cao. Tú Xương có viết: “Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò” để chỉ những nhà giàu thời xưa như đã nói.

 

Ngoài rượu vang và sâm banh ra, người bình dân thích dùng “la ve” (la bière), một loại rượu có bọt với nồng độ rượu rất nhẹ (chỉ khoản 5%; trong lúc ấy rượu vang kể cả sâm banh có nồng độ trung bình từ 11% đến 13.5%, và rượu mạnh có 40% trở lên). La ve còn được gọi là “bia” và do đó, có chữ “bia ôm” mà hầu hết chúng ta đều biết. 

 

Bom, bôm, và bơm

 

Trong các loại tráng miệng sau bữa cơm, chúng ta có thể dùng trái “bôm” (pomme) hay còn gọi là trái táo tây. Gần đây có một loại bôm nổi tiếng của Nhật tên Fuji.  California đã sản xuất tràn ngập loại bôm nầy.  

 

Tiện đây xin cho nói luôn kẻo quên, trong tiếng Việt có đến ba chữ Việt gốc Pháp có âm đọc gần như nhau: “bôm,” “bơm,” và “bom.” 


 “Bơm” (pomper) là động từ chỉ động tác đem không khí, hay một chất lỏng vào một chỗ nào đó như bơm bánh xe, bơm nước từ giếng lên thùng chứa nước, bơm mỡ bò vào bạt đạn xe. Vật dùng để bơm, gọi là cái bơm, ống bơm hoặc máy “bơm” (pompe).  

 

Chữ “bom” (bombe)  chỉ một loại vũ khí gây nổ có tác dụng phá hoại và giết chóc. Ném bom, dội bom (bombarder) là động từ chỉ việc dùng phi cơ thả bom xuống từ trên không.  

 

Chữ Việt gốc Pháp trong giao thiệp và ăn mặc 

 

Chào hỏi 

 

Các ông tây “bà đầm” (madame) khi gặp nhau, chào nhau bằng cách “bông rua” hoặc “bủa sua” (bonjour: bắt tay chào nhau). Khi từ giã nhau thì nói “ô rờ voa”(au revoir: sẽ gặp lại) hay “a-dơ” (adieu: vĩnh biệt).  Khi cần thoái thác hay xin lỗi điều chi thì bắt đầu bằng từ “bạt đông” (pardon: xin lỗi).  Lại nhớ có câu thơ rằng: 

 

Bạt đông anh chớ pha sê (1)           

Ắt tăn moa rắc công tê tú xà  

 

(1)  (fâcher: giận;   attendre: đợi ;  moi: tôi;   raconter: kể;    tout ca: tức thời; phụ âm c  trong lời ca của tiếng Pháp, còn thiếu cái râu bên dưới).

 

Lẽ dĩ nhiên không đúng văn phạm Pháp, nhưng nghĩa thì rất rõ ràng và lại đúng vần thơ lục bát, mặc dầu là thơ ba rọi.   Chữ  “mông sừa” (monsieur: ông) và  “ma đàm” (madame: bà) dùng trước tên họ của ông hoặc bà nào đó để tỏ sự kính trọng. Khi những ông bạn quen thân gặp nhau, người nầy gọi người kia là toa (toi: anh hay mầy) và xưng là “moa, mỏa” (moi: tôi hay tao).  Cho đến ngày nay, những người VN lớn tuổi vẫn còn dùng lối xưng hô nầy. Dân ta dùng từ “bà đầm tôi” để chỉ người vợ của mình. Ngày nay từ “bà xã” thông dụng hơn.  

 

Ăn mặc 

 

Khi dân Việt dùng kiểu áo tây phương trong việc ăn mặc, một số các cô, bà mặc “áo đầm” tức loại áo và váy chung nhau.  Đàn ông thì mặc “sơ mi” (chemise) và quần dài (quần Tây) như chúng ta mặc bây giờ.  Nói đến sơ mi, ông Lãng Nhân (2) có nhắc đến những chữ Việt hóa trong những bài thơ mà ông xếp chúng vào loại văn thơ Việt Nam hóa trong bài lục bát sau đây: 

 

Lạnh lùng một mảnh sơ mi          

Li-ve trằn trọc, lơ li một mình, 

Loăng-tanh ai có thấu tình 

Em-mê đến nỗi thân mình biểng-pan  

 

(chemise: áo; l’hiver: mùa đông;  le lit: cái giường;  lointain: xa;  aimer: yêu, thương;  bien pâle: xanh mét.) 

 

Nếu các ông mặc áo vết (veste) hay áo  “vết tông” (veston) bên ngoài áo sơ mi, cùng loại vải, và cùng màu với quần thì chúng ta gọi y phục đó là bộ “côm bờ lê” hay “côm lê” (complet: đủ bộ, hay nguyên bộ).  Ngày xưa, khoảng trước 1954, người ta còn gọi cái áo veston là áo “bành tô” (paletot).   

 

Các ông bà trong ngành y khoa như bác sĩ, y tá thường mặc áo “bờ lu” (blouse) khi làm việc.  Đó là chiếc áo mang tính chất nghề nghiệp rất oai.  Nhưng khi dạo chơi, người đàn ông có thể mặc áo “u ve” (veston ouvert);  trong lúc đó, đàn bà tân thời, cải cách (của thời xa xưa đó) thích mặc áo “lơ muya” (Lemur: loại áo dài do họa sĩ Cát Tường vẽ kiểu), áo thun Montaigut của đàn ông cũng thuộc loại áo được các ông ưa thích.  

 

Cả ông, bà khi đi đâu khỏi nhà, đều có mang “bóp” (porte, porter: mang, đựng).  Bóp cho các bà thì gọi là “bóp đầm.”  Bóp cho các ông có tên “bóp phơi” (porte feuille).

 

Trong thập niên 1950 tôi nhớ đám trẻ nhỏ chúng tôi thường hát nhái theo giọng bài ca “Dứt đường tơ” như sau:  

 

Tóc em dài sao em không uốn?  

Tốn bao nhiêu anh trả dùm cho, 

Đây bóp phơi anh đầy “bộ lư”  

(giấy bạc 100 đồng có hình bộ lư) .... 

Nàng ơi uốn đi...  đừng lo. 

 

Đàn ông mặc côm lê phải mang “cà ra oách,” hay “cà vạt” (cravate: trang sức bằng vải đeo trước ngực) mới đúng cách. Muốn cho thiên hạ biết có tiền, nhứt là khi dẫn bạn gái đi “ban” (bal: dạ tiệc có khiêu vũ) trong bóp phải đem theo nhiều giấy oảnh (vingt: hai mươi) tức giấy hai mươi đồng; và thêm vào còn có nhiều tờ giấy “xăng” (cent piastres: giấy $100.00).  

 

Trong lúc đó các bà các cô phải đeo “cà rá” (carat)  nạm hột xoàn. Thực ra carat là đơn vị đo lường kim cương.  Nó là sức nặng bằng 1/24 của một “gam” (gramme) vàng nguyên chất. Gam là một phần 1000 của một “ki lô” (kilogramme).  Vàng 18 là một hợp kim gồm có 18 phần vàng và sáu phần kim loại khác.   

 

Cái cà vạt và cái cà rá sống vượt thời gian.  Ngày nay nó vẫn còn thông dụng cho cả hai phái, chỉ thay đổi màu và phẩm chất tùy theo số lượng “anh hai” (tiếng lóng để chỉ tiền).   

 

Chữ Việt gốc Pháp trong giao thông

 

Ô tô, sớp phơ, gạt đờ co 

 

Trước hết có xe “ô tô” (automobile) hay “xe hơi.”  Ở nhà lầu, đi xe ô tô là biểu tượng của nhà giàu.   Muốn tỏ ra sang trọng hay có uy quyền, người ta mướn tài xế hay “sớp phơ” (chauffeur).  Chữ nầy thông dụng ở miền Nam hơn miền Bắc.  Sau nầy, kể cả những thập niên cuối của thế kỷ 20 chữ tài xế  trở nên thông dụng cho cả VN.  Nhiều ông làm chức vụ cao, hay quan trọng, hoặc các người giàu còn có thêm một tài xế phụ.  Thực sự người nầy là “gạt đờ co” (garde du corps: cận vệ) ngồi phía trước, cạnh tài xế,  thường đeo kính đen trông rất  oai vệ.   

 

HK gọi người nầy là “bô đi gạt” (bodyguard).  Ông “bô đi gạt” nổi tiếng là ông cận vệ của Tổng thống Ford.  Ông ta gạt (garde)  hay đến nỗi ông ta cưới luôn con gái của tổng thống.  Ông cận vệ nầy trở thành “gạt đờ co” trăm năm của ái nữ tổng thống. Vậy ông  nào có người làm công với chức vụ “gạt đờ co” thì nên... coi chừng con gái mình và coi chừng luôn cả... phu nhân (nói đùa cho vui, bỏ qua đi tám!).    

 

Trở về với xe, ngoài xe nhỏ thường gọi là xe du lịch, còn có xe “căm nhông” (camion) dùng để chuyên chở hàng hóa. “Cam nhông” thứ thật to và chở thật nặng có tên là “boa lua” (poids lourd).  “Cam nhông nết” (camionette) là xe chở hàng hóa loại nhỏ, giống xe “pick up” của ngày nay.   


VN khi xưa và ngay cả ngày nay, ít khi nhập cảng “căm nhông” nguyên chiếc.  Họ chỉ mua cái sườn xe thôi.    Đến VN rồi họ đóng mới đóng thùng xe tùy theo nhu cầu: đóng thùng vuông chung quanh để chở hàng, hoặc đóng thùng có cửa, có “băng” (banc: ghế ngồi) để làm xe  đò hay làm xe “ô tô buýt” (autobus) hay “xe buýt.”  Xe buýt rất thông dụng trong việc chuyên chở công cộng trong đô thành hay các thị xã lớn.  Xe chuyên chở hành khách đi các tỉnh lại gọi là xe đò, trong khi Pháp hay HK lại gọi cả hai loại trên là xe buýt.  Cũng trong lãnh vực chuyên chở, chúng ta còn có xe lô hay xe “lô ca xông” (location).  Đó là những chiếc xe du lịch được dùng làm xe cho mướn hay xe chuyên chở hành khách. 

        

Xe đò: Ăn banh, lơ 

 

Trên mỗi chuyến xe đò, ngoài người “sớp phơ” ra còn có một hay hai người phụ tá gọi là anh “lơ.”  Những người nầy lo việc sắp xếp chỗ ngồi, kiểm soát giấy đi xe (chữ “lơ” do nguyên ngữ “contrôleur” tức kiểm soát viên).  Ở VN, những anh nầy còn phụ trách nhiều việc khác như đưa hành lý lên và xuống xe cho khách, giao thiệp với cảnh sát công lộ khi xe bị chận vì một lý do gì đó, hoặc phụ với tài xế sửa xe khi xe bị “ăn banh” (en panne) tức là khi xe bị hư.  Nhiều anh lơ rất có tài trong việc sửa xe: từ việc nhỏ như vặn chặt một vài con “bù lon” (boulon) đến việc lớn như thay cả cái “ăm vô da” (embrayage: bộ phận trong hộp số để chuyển những chuyển động của máy xe sang cái trục làm xe chạy trong hệ thống sang số bằng tay).  

 

Có người hỏi tại sao họ chịu khó làm việc như vậy (mà không đòi chủ xe trả tiền công)?  Số là đa số chủ xe chỉ thâu tiền bán vé ở các trạm xe chánh mà thôi.  Còn việc đón khách lên xuống dọc đường và tiền kiếm thêm nầy thì tài xế và lơ chia nhau.  Các chủ xe đều biết chuyện nầy, nhưng vì không thể nào kiểm  soát được, nên thà cho trước cái quyền lợi đó cho tài xế và lơ.  Chủ xe được cái lợi là khỏi lo việc kéo xe về nằm “ga ra” (garage: chỗ sửa xe) vừa tốn nhiều tiền vừa mất thì giờ (tức mất tiền). Để cho tài xế và lơ tự  sửa xe, chủ chỉ phải bồi hoàn chi phí về “bạt” (parts: các bộ phận rời).  Xe được sửa mau, cả chủ và người làm công đều có lợi.  Một hợp tác hỗ tương không văn kiện nhưng lại rất hiệu quả trong giới xe đò. 

 

Xăng và lốp xe 

 

Muốn chạy xe phải có  “xăng” (essence).  Ngày nay, từ nầy còn thông dụng ở mọi nơi.  Xe mà hết xăng thì trở thành... sắt cục. Xưa kia nếu quên đổ xăng, để xe hết xăng dọc đường, không chạy được nữa, thì gọi là “ăn banh xéc” (panne sèche: hư xe khô, có nghĩa hết xăng). Chỉ còn có những lão già “vang bóng một thời trong việc sử dụng Pháp ngữ” dùng từ nầy.  Từ “ga xăng” sẽ nói đến ở một đoạn sau.   

 

Chữ “xăng” còn được dùng trong một nghĩa khác.  Khi trẻ con đói bụng, mặt nhăn nhó, người ta nói em bé “thiếu xăng” hay em bé cần đổ xăng thêm.   

 

Dân Việt có tài chế biến trong việc dùng từ ngữ.  Thí dụ việc dùng chữ “quá giang” khi chúng ta đi nhờ xe của một người khác.  Nguyên ngữ “quá giang” có nghĩa “qua sông” bằng cách đi nhờ đò, hay ghe của người khác.  Quá giang cũng dùng đến khi đi nhờ từ  nơi nầy đến nơi khác bằng thuyền. Không hiểu tự bao giờ, chữ “quá giang” được dùng cho việc đi nhờ xe.  Ngày nay thì quá giang chỉ có nghĩa là đi nhờ thôi, thuyền hay xe gì cũng được. Nhưng nếu quá giang thường quá thì nên đóng góp tiền xăng cho vui cả hai bên.

 

Quan trọng không kém xăng là “lốp xe” (enveloppe): vỏ xe, phần bọc bên ngoài cái “ruột xe”;  sau nầy vỏ xe chỉ có vỏ mà không có ruột . HK gọi là “tubeless.” Khi bánh xe xẹp, phải bôm thêm hơi vào ngang qua cái “súp báp” (soupape: vật dụng dùng để cho không khí đi vào hoặc đi ra một chiều thôi). Tùy theo công dụng cái súp báp còn có tên là cái “van” (vanne).  

 

Ở VN lốp xe cũ được dùng một cách hữu hiệu.  Họ bọc thêm bên ngoài một lớp “cao su” (caoutchouc) gọi là vỏ xe tân trang để dùng thêm một thời gian nữa.  Đôi khi xe đang chạy, phần đắp thêm bị văn ra.  Đó là xe bị  “lột lốp” hay bị bung “ta long”  (talon: đế giày, hoặc phần ngoài vỏ xe).  Ngoài ra lốp xe cũ còn dùng để chế tạo dép. Loại dép nầy rất thông dụng ở miền Bắc. Nhưng ở miền Nam chúng mang một hình ảnh hơi đen tối sau năm 75:

 

Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, 

Mũ tai bèo che lấp ánh tương lai.”     

(không rõ tác giả)

 

Cây cao su và anh sớp phơ nói tiếng Tây 

 

Chữ “cao su” đã được Việt hóa trọn vẹn.  Cây cao su là một loại cây cho nhựa.  Nhựa nầy được biến chế thành nhiều vật dụng mà quan trọng nhất là vỏ xe. Cây cao su là một loại cây kỹ nghệ.  Các chủ đồn điên thời tây là những nhà giàu có nhiều quyền thế và ảnh hưởng trong việc cai trị.  Những ngôi nhà do họ xây cất để ở là những dinh thự to lớn, còn tồn tại ở rải rác nhiều nơi.  Số lớn các ngôi nhà nầy nằm trong vùng đồn điền hẻo lánh.  Chủ nhân người Pháp của thời đó đều mang súng và có nhiều cận vệ.   

 

Sản phẩm khác của cao su là dây thun được dùng nhiều trong kỹ nghệ  y khoa và quần áo. Vì tính chất thun giãn của nó, dân ta dùng từ  giờ cao su để chỉ sự kiện hay trễ nãi hay không đúng giờ của dân ta.  Giờ cao su trong các bữa tiệc cưới đã trở thành một nét đặc thù của dân Việt.  (Tôi có nghe câu nói đùa: “không ăn đậu không phải là Mễ, không đi trễ không phải là Việt Nam.”) 

 

Xe máy (xe đạp) với dây sên và ru líp 

 

Trong chiếc xe đạp hay xe máy, rất nhiều tên các bộ phận được Việt hóa như dây “sên” (chaine), dây nầy chạy vòng quanh một bánh xe có răng như răng cưa, gọi là cái “ru líp” (roue libre: bánh xe tự do).  

 

Trong cái “ru líp” lại có một bộ phận nhỏ có công dụng độc đáo là khi chúng ta đạp xe tới thì bộ phận đó kéo bánh xe đi tới.  Nhưng khi chúng ta quay lui cái bàn đạp thì chỉ nghe re re mà không có ảnh hưởng gì đến việc kéo xe.  Bộ phận đó có ba tên khác nhau, tùy theo vùng. Trong Nam, nó tên là “con chó”;  ở miền Trung nó được gọi là “con heo”; và ở miền Bắc nó mang danh là “con cóc.” Ai biết sửa chữa cái “ru líp,” đều biết cái bộ phận nhỏ quan trọng đó.  Còn tại sao nó có ba tên thì đành chịu thua. 

 

Xe đạp dùng trong việc chạy đua thường có cái “ghi đông” (guidon: tay cầm) cong sụp xuống.  Xe đạp loại đua nầy còn có tên là xe “cuộc” (course: chạy đua) .  Ngày xưa, những “tua” (tour: vòng) đua xe đạp vòng quanh Đông Dương, hay tua Bến Hải - Cà Mau là những cuộc đua nổi tiếng.  Ngày nay tua vòng quanh nước Pháp (Tour de France) vẫn rất là hấp dẫn cho giới hâm mộ đua xe đạp.  Ngoài ra dân ta thường hay nói “đi dạo một tua cho khỏe.”

 

Các hãng du lịch thường hay tổ chức những “tua du lịch” mà chi phí gồm cả tiền vé phi cơ, tiền khách sạn, tiền ăn v..v... và có cả hướng dẫn viên đi chung rất tiện cho khách du lịch.  Cả Anh, Pháp đều dùng chữ “tour” nên chữ “tua” của VN rất là thông dụng. 

 

Nguyễn Hữu Phước

Trần Văn Giang (ghi lại)