3 thg 9, 2023

Chữ nghiã làng văn Kỳ 01/9/2023 - Ngộ Không Phí Ngoc Hùng

Chữ nghĩa làng văn

 

“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.

***

Chiết tự

Câu thơ dân gian:

Bao giờ thằng ngốc làm vua, cha con nhà Nguyễn bỏ chùa ra đi.

Chiết tự chữ ngốc và chữ nhân là chữ bảo: Ám chỉ…Bảo Đại.

(Nguyễn Hữu Nhật – Tiếng Việt hay quá)

Một số địa danh bị viết sai ở Nam bộ

 Định Quán (tỉnh Đồng Nai) đúng ra là Định Quan. Sách Gia Định thành thông chí và Đại Nam nhất thống chí viết là Định Quan 定關 (nghĩa là trạm thu thuế cố định).

(Lê Công Lý)

[5] Sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí và Gia Định thành thông chí gọi là thủ Ba Can (vì gần đó có suối Ba Can), đến Đại Nam nhất thống chí thì gọi là tuần Định Quan. Đến Monographie de la province Biên Hoa (1924) mới thấy ghi tên làng Định Quán thuộc tổng Bình Tuy, huyện Phước Bình, tỉnh Biên Hoà.

Kỳ phùng địch thủ

Nghĩa là hai đối thủ tương đương với nhau.

Chữ “kỳ”  đây trong tiếng Hán viết như kỳ trong “tượng kỳ” (cờ tướng) và “phùng” là gặp nhau.

“Kỳ phùng” là cuộc gặp gỡ lạ thường, khác thường.

Khởi thủy “kỳ phùng địch thủ” chỉ cho hai tay đánh cờ tướng với nhau không mà thôi.

(Duy Lý – báo Tự Do)

Cục cứt và con chó…

Trước năm 75, miền Nam có câu thơ:

Em như cục cứt trôi sông

Anh như con chó chạy rông trên bờ

Hai câu thơ trên xuất xứ từ văn chương bình dân truyền khẩu:

Em đẹp như phân lạc giữa dòng
Anh như chú khuyển đứng bên sông
Dòng sông nước chảy em trôi mãi
Anh đứng trên bờ rỏ dãi trông

Ngôn ngữ: thói “ăn” nếp “ở” của người Việt qua cách nói

Đàn bà, con gái khi không có gì ăn, tối tối ra đường ăn… sương, mang danh "gái ăn sương". Còn động từ "ăn đêm", không hẳn đồng nghĩa với "ăn sương", mà gần với "ăn khuya" hơn. Ngoài ra, còn được dùng để chỉ "hành động đi kiếm mồi trong đêm tối" của muông thú, như trong bài đồng dao ru con:

Con cò mày đi ăn đêm, 
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao…

Người Bắc nói "bắt nạt", người Nam dùng động từ "ăn hiếp". Khi có kẻ thừa cơ "chôm" của, người Việt mình nói "ăn hôi". "Ăn tàn" thành ngữ "theo đóm, ăn tàn" có nghĩa tương tự như vậy: "Cái thằng đó là hạng người ‘theo đóm ăn tàn’, không hiểu sao mầy ăn ở với nó tới sáu mặt con!". Còn "ăn mót" tục ngữ có câu:

Muốn ăn cơm ngon, lấy con nhà đi mót. 
Muốn ăn canh ngọt, lấy con nhà bắt cua

(Ngô Nguyên Dũng)

Chữ nghĩa làng văn

Một số từ ngữ cổ hiện nay vẫn còn dùng

 Mình hay nói ‘hỏi han’ nhau, ‘hỏi’ thì rõ nghĩa rồi, vậy ‘han’ có nghĩa không? Hỏi han không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả ‘hỏi’ và ‘han’ đều có nghĩa. Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: ‘han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’.

Truyện Kiều của Nguyễn Du từng dùng ‘han’ như một từ độc lập, không dính đến từ ‘hỏi’, trong câu:

Trước xe lơi lả han chào

Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi

(phần Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh).

Han chào là chào hỏi.

(Nguyễn Lương Thịnh)

 Chữ nghĩa làng văn

 “Bình Nguyên Lộc là nhà văn miền Nam. Ông ấy có thể cho anh chị biết quan điểm của người miền Nam”, nhà văn Nguyễn Mộng Giác nói với chúng tôi như thế khi vợ chồng chúng tôi đến Los Angeles nhân dịp lễ Giáng sinh để phỏng vấn các học giả và nhà văn cho một dự án nghiên cứu về bước đầu của tiểu thuyết Việt Nam được Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội tài trợ.

 

Từ ngày chúng tôi tin là những cuốn tiểu thuyết đầu tiên đã được viết ra ở miền Nam, chúng tôi rất mong được gặp Bình Nguyên Lộc, một cây bút viết truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng, đồng thời là một học giả chuyên về ngôn ngữ học lịch sử và so sánh.

Chúng tôi đã trò chuyện với Bình Nguyên Lộc về văn học Việt Nam suốt mấy tiếng đồng hồ liền vào ngày 5 tháng Giêng năm 1987. Hôm qua, mở tạp chí Văn Học số tháng Tư, tôi biết tin là Bình Nguyên Lộc đã từ trần vào ngày 5 tháng Ba, thọ 72 tuổi.

Chúng tôi bắt đầu hỏi ông về những cuốn tiểu thuyết đầu tiên mà ông đã đọc được lúc còn là một đứa bé lớn lên ở vùng châu thổ sống Cửu Long giữa hai trận thế chiến.

 

Ông nói: “Cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên tôi đọc là một cuốn sách mà thoạt đầu cha tôi cấm không cho đọc vì cho là dâm thư, đó là cuốn Hà Hương phong nguyệt truyện của Lê Hoằng Mưu. Cuốn này được xuất bản vào khoảng năm 1917, và tôi tin đó cũng là cuốn tiểu thuyết được xuất bản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một câu chuyện tình xảy ra ở miền Nam, chẳng có gì là dâm ô cả.


Cuốn tiểu thuyết kế tiếp tôi đọc được là cuốn Chăng Cà Mum [1] của Nguyễn Chánh Sắt. Đây là câu chuyện về một cô gái Việt Nam sống gần biên giới Miên, bị bắt cóc đưa sang Miên một thời gian khá lâu trước khi được quay trở về Việt Nam. Cuốn tiểu thuyết này chưa được xuất bản nhưng đã được quảng bá rộng rãi trên tờ quảng cáo của một tiệm thuốc Bắc.

 

Tiểu thuyết gia kế tiếp mà tôi đọc là Hồ Biểu Chánh. Có thể tôi cũng đã đọc một số tác giả khác ngoài Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Chánh Sắt nhưng họ không nổi tiếng mấy và tôi cũng không nhớ được.[2] Nếu tôi biết trước những gì ông bà định hỏi hôm nay thì tôi sẽ ghi lại những chi tiết này đầy đủ hơn.”

 

(Nhớ lần thăm nhà văn Bình Nguyên Lộc - Phan Văn Giưỡng)

 

[1] Theo Nguyễn Khuê, trong Chân dung Hồ Biểu Chánh do Lửa Thiêng xuất bản tại Sài Gòn năm 1974, Nguyễn Chánh Sắt viết Chăng Cà Mum vào khoảng 1915 hay 1916. Tựa đề thực ra là Nghĩa hiệp kỳ duyên nhưng nó lại được biết nhiều dưới tên Chăng Cà Mum là tên của nhân vật nữ người Miên trong truyện.

[2] Sau đó Bình Nguyên Lộc nhớ đến một tác giả khác và ông viết cho chúng tôi một lá thư đề ngày 6 tháng Giêng về tác giả ấy. Đó là Tân Dân Tử, theo Bình Nguyên Lộc, chuyên viết tiểu thuyết lịch sử, trong đó có cuốn Gia Long phục quốc.

Đừng tưởng

Đừng tưởng nắng gió êm đềm...

Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng

(Bùi Giáng)

 Vũ Bằng

Nghệ thuật viết chân dung

Đây là đoạn nói về phong thái Vũ Trọng Phụng:

“Về sau này, Vũ Trọng Phụng mòn mỏi đi, một phần lớn vì thức đêm thức hôm để viết cho nhiều báo như Tiểu thuyết thứ bảy, Tiểu thuyết thứ năm, Hà Nội tân văn, lấy tiền, nhưng cuộc sống của anh ở bên ngoài đối với những người lạ, không có vẻ gì vất vả; trái lại, anh lại ra cái dáng nhàn nhã, ung dung là khác. Dù bận rộn viết  lách đến mấy đi nữa, tuần nào anh cũng đọc hàng chục tờ báo Pháp để học thêm. Trong anh em, có thể nói anh là người hiểu rõ tinh thần của giọng văn “Canard  Enchainé” nhất”.  

 

Khái quát về con người – nhà văn Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng đã cho ta một nhà văn chuẩn mực, đa tài và tràn đầy nhân tính:

“…Trong tất cả anh em, Phụng là người có thứ tự, phàm có tài liệu gì, hay, lạ thì cất đi, cho nên vào lúc một tuần báo ở Huế đả kích anh viết văn khiêu dâm, anh đã lên tiếng trả lời rất vững, kèm nhiều chưng cớ và tài liệu rất “búa”…Phụng sống một cuộc đời khiêm nhường. Không có tiền thì không tiêu, anh không hỏi vay của ai bao giờ mà cũng ít phàn nàn với ai rằng mình khổ.

 

Đó là một đức tính làm cho anh em kính nể, nhưng anh em thương Phụng nhất về  điểm dù khổ đến thế nào, Phụng cũng thủy chung như nhứt với anh em, cứ mỗi khi có báo dù biết trước là viết không có tiền, không nhiều thì ít, thế nào Phụng cũng có bài cộng tác với anh em, và lâu lâu Phụng lại đi hát với chúng tôi, nhậu nhẹt như ai và quấy cũng như ai”   

 

Đọc những đoạn văn Vũ Bằng khắc họa chân dung văn học Vũ Trọng Phụng trên đây, hẳn là chúng ta khó mà tìm ra một chân dung văn học khác hay hơnmột nhân vật của bức chân dung nào độc đáo mà lại chuẩn mực hơn.

(Đỗ Ngọc Thạch)

Bên lề chữ nghĩa

Hà Nội những điều nhỏ bé bạn nên làm khi…”quởn”

Ăn mỳ vằn thắn phố Hàng Chiếu

(Nguồn: Tôi đi đâu)

 202 Chữ nghĩa làng văn xóm chữ

 Sang đến bên kia sông Việt Trì (…) Văn Cao, ngoài tư cách là nhạc sĩ sáng tác, còn kiêm nghề tiền đạo (élément précurseur) đi trước một bước để sắp xếp nơi diễn kịch và lo liệu nơi ăn chốn ở cho đoàn kịch. Đoàn chưa đến nhưng Văn Cao đã có mặt trước ở Việt Trì. Tôi theo ông anh tôi tới một quán nước ven bờ sông. Ở đó, tôi gặp một người đàn ông còn trẻ chừng 24, 25 tuổi nhưng có vẻ muốn già đi vơi cái mũ nồi sụp trước mắt và chiếc pipe (ống điếu) phì phà khóị . Người thanh niên này không đẹp trai, phải nói như vậy, nhưng có một phong cách khác người, một vẻ tự tin đặc biệt. Ông anh tôi khẽ nói với tôi "Văn Cao đấy".

 Đến lượt tôi tiến tới bắt tay, anh tôi bỏ nhỏ "Cậu em tôi ở quê nhà, muốn được gặp Văn Cao". Người thanh niên không nói gì, chỉ giơ tay bắt, con mắt nheo lên một nét cười thầm lặng.
Lúc bấy giờ tôi là một anh "nhóc" mới lớn lên, 19 tuổi, nên ngồi im nghe các đàn anh chyện vãn. một lát sau, bún riêu, cà phê xong xuôi, ông anh tôi vội vàng đi vì nghe tin thuyền buồm chở đoàn kịch đã tới. Chỉ còn Văn Cao và tôi ngồi lại. Văn Cao vẫn không ngớt phì phà khói pipe. Tôi rụt rè nêu câu hỏi: "Dạo này, hát bài của anh sướng quá. Từ các bản cách mạng Tiến Quân Ca, Bắc Sơn sang các bản trữ tình Suối Mơ, Thiên Thaị dạo năm ngoái triển lãm Cách mạng tháng 8 ở Khai Trí Tiến Đức còn thấy bày tranh của anh nữa. Rồi thơ Chiếc Xe Xác Qua Phường Dạ Lạc".

 Văn Cao giơ tay như muốn ngắt lời tôi: "Tôi hiểu ý của cậu rồi. Có phải cậu muốn hỏi rằng tôi rồi đây sẽ nghiêng về địa hạt nào ? ". Tôi gật đầu. Văn Cao nói tiếp, "Tôi sống với cả ba, nhưng thời kỳ qua có thể gọi là thời kỳ nhạc, thời của kêu gọi, của đám đông.

Đến một lúc nào đó, con người phải quay về với nội tâm mình, có lẽ thời kỳ đó đối với tôi là thời kỳ thơ, thời kỳ họạ.

(Văn Cao: Giấc mơ của một đời người – Phan Lạc Phúc)

Tục ngữ hiện đại, thành ngữ hiện thực

Chồng người áo gấm…sông Lô.
Chồng em ngồi bếp…nướng ngô cháy quần.

 Trường Sơn đông, Trường Sơn tây - 1

 - Hồi anh được giải, nghe nói anh là trường hợp duy nhất được 9 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị mời cơm, có đúng không ạ?

- Đúng. Tôi không nhớ tất cả nhưng trước hết là tôi nhớ lần được gặp đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Lần đó tôi không bao giờ quên. Tôi nhớ hôm ấy còn có những người được giải thưởng khác như Phan Thị Thanh Nhàn, Bế Kiến Quốc, giải 3 và giải 2, còn có cả Việt Phương và Chế Lan Viên.

Mọi người đều ngồi quanh mâm nhưng không ai ăn, chỉ riêng tôi ăn tới miếng cuối cùng trên mâm. Tất cả họ đều không ăn, họ chỉ nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói chuyện. Thế là Thủ tướng cười bảo, Duật đúng là lính thật, ăn rất là ngon. Thực ra hôm đấy không có món gì đặc biệt lắm, chỉ có một thứ duy nhất gây ấn tượng đối với tôi là bánh cuốn, bánh cuốn rất ngon.

Thế còn cái buổi ăn cơm với đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc bấy giờ đang là Tổng Tư lệnh tối cao, thì có 2 vợ chồng ông tiếp cơm thôi. Thì ông chăm sóc tôi khác, rõ ràng là chăm sóc một người lính, cho ăn ngon hơn Thủ tướng nhiều. Đúng là hôm đó bếp của Thủ tướng nấu cái gì thì chỉ tăng thêm số lượng thôi, có thêm đĩa bánh cuốn thôi, không có cái gì khác. Còn hôm ăn cơm nhà Đại tướng thì đây đúng là bữa tiệc cho thằng lính trong rừng đói khát thiếu thốn được ăn nhiều món ngon, rất ngon.

 Nhưng mà cử chỉ kỳ diệu nhất tôi thấy trong ngày hôm đó không phải là ăn uống. Cái đặc biệt nhất là lúc cắt táo ra để ăn, thì ông Đại tướng từng chỉ huy suốt 2 cuộc kháng chiến, đánh Đông dẹp Bắc thắng lợi, khi ông quệt cái tay áo dạ vào thành cốc và cái cốc đổ ra, và táo cũng lăn. Và khi táo lăn thì ông cực kỳ lúng túng, ông không với được và phu nhân của ông nhẹ nhàng hứng ở đầu kia, cứ để cho táo lăn và hứng rất nhẹ nhàng. Cả hai người cùng mỉm cười và bà ấy đưa cho ông quả táo. Và tôi thấy đó là một cử chỉ cực kỳ hạnh phúc và đẹp.

(Hồng Thanh Quang)

Tục ngữ hiện đại, thành ngữ hiện thực

 Nơi đâu cần thanh niên có.

Đến đứng ngó cũng là thanh niên.

Trường Sơn đông, Trường Sơn tây - 2

 Trước đó tôi có đọc một bài báo trên tờ Thống Nhất có nói là Tổng Tư lệnh của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay rất nể một đứa trẻ con. Vì sao? Vì khi tôi đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì thấy ông ấy rất là nể vợ, và vợ ông ấy thì rất nể một đứa cháu, thì hoá ra người cao nhất của Quân đội lại nể một đứa trẻ con. Đấy là một niềm hạnh phúc lớn và đấy là lý do thắng trận của Việt Nam vì người ấy biết sợ một đứa trẻ con, và người đàn ông biết sợ đàn bà.

 Còn đồng chí Lê Đức Thọ là người đầu tiên bênh đỡ cho vụ Vòng trắng. Tố Hữu sau này có nói lại rằng Phạm Tiến Duật đứng từ xa, ờ cái gì trắng trắng thế nhỉ, nhưng đến gần thì không phải, thì đấy là Tố Hữu nói thế thôi. Cho nên tôi ngay từ đầu đã nói bài thơ không có vấn đề gì cả, bài thơ chẳng qua là bài thơ của một thằng lính yêu bạn mình, quý bạn mình, thương bạn mình, không có vấn đề gì cả. Phải nói là thái độ của đồng chí Lê Đức Thọ là trước sau bênh đỡ việc này và đấy là điều tôi nghĩ rằng chính là vụ Vòng trắng không phải là trở thành một vụ việc lớn...

(Hồng Thanh Quang)

Phạm Tiến Duật là tác giả bài thơ Trường Sơn đông, Trường Sơn tây. Cũng là tác giả bài thơ Viết về số  0 nhưng bị đổi tên là Vòng trắng.

 Ba mươi năm: Khỏang cách và dấu nối

 Nguyễn Trọng Tạo: Tôi cũng đọc tạp chí Thơ xuân-thu-đông Văn Đoàn Kết Talawas Tiền Vệ... Đấy là nơi chấp nhận được "tự do ngôn luận" tương đối thoải mái. Và tôi hiểu thêm được nhiều điều qua văn chương của những tác giả có góc nhìn khác tôi. Hơn nữa tôi hiểu thêm đời sống tình cảm của những người Việt ở nước ngoài dù họ phải rời xa tổ quốc trong hoàn cảnh nào.

 Tôi cũng rất tiếc cho một số nhà văn không thoát khỏi hằn học và thù hận làm đau khổ những con chữ vô tội. Những con chữ vô tội trong tiếng Việt ấy lại còn bị lạm dụng như người ta lạm dụng tình dục trẻ em ngay cả trong thơ ca nhân danh cách tân trong những năm gần đây. Tôi nghĩ chủ nghĩa Hậu hiện đại Tân cổ điển Tân hình thức không khó chấp nhận. Vì không đổi mới thì không có văn chương của thời đại mới. Văn học tự thủ tiêu khi chối bỏ cách tân hoặc không để cho cách tân trình thị.

Đấy là bài học của muôn đời. Sự làm mới tiếng Việt không phải là làm cho tiếng Việt trở nên ngọng nghịu hay bắt chước vẻ lơ lớ của người tây nói tiếng Việt mà phải làm cho tiếng Việt trong sáng hơn đa nghĩa hơn và chính xác hơn. 

(Trần Nhuệ Tâm thực hiện)

 Sở Cuồng Lê Dư


Năm 1925, Lê Dư về nước, làm việc cho Trường Viễn đông Bác cổ ở Hà Nội, là chuyên gia về văn học sử và lịch sử Việt Nam.

Trong khoảng 10 năm ông công bố thêm gần 30 công trình vừa Hán văn vừa Quốc văn. Với vốn học vấn Hán học uyên thâm, với công phu tìm kiếm tư liệu trong kho lưu trữ của Trường Viễn Đông Bác cổ, Lê Dư đã cung cấp cho giới nghiên cứu, những phát hiện của ông về tác giả Cung oán ngâm khúc, về tiểu sử của Nguyễn Bỉnh KhiêmPhạm TháiTrần Tế Xương...

Có thể công việc biên soạn sách của ông, phát xuất từ những di sản tinh thần "quốc học" mà ông đã tìm thấy trong thời gian sống và hoạt động tại Nhật Bản.

Lê Dư mất ngày 31 tháng 8 năm 1967.

 Buớc tới chuyển hướng bước tới tìm kiếm - 1


 Phan Kế Bính (chữ Hán: 潘繼炳1875-1921), hiệu Bưu Văn, bút hiệu Liên Hồ Tử, là một nhà báonhà văn nổi tiếng đầu thế kỷ 20.

Phan Kế Bính quê ở làng Thụy Khê, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông. Năm Bính Ngọ (1906), ông dự thi Nho học và đỗ cử nhân, nhưng không ra làm quan, mà ở nhà dạy học.

Trong thời gian này, ông công khai hưởng ứng phong trào Duy Tân. Từ 1907, ông bắt đầu viết báo cho nhiều tờ báo trong vai trò dịch thuật, biên khảo sách chữ Hán.

 Sau đó ông cộng tác với các báo: Ðông Dương tạp chí, Lục tỉnh tân văn, Trung Bắc tân văn. Đặc biệt là với tờ Đông Dương tạp chí, ông có thời gian làm trong ban biên tập Đông Dương tạp chí, và tác phẩm của ông phần lớn đều từng đăng trên tạp chí này.

Bên lề chữ nghĩa

Hà Nội những điều nhỏ bé bạn nên làm khi…”quởn”

Thử miến lươn Hàng Điếu

(Nguồn: Tôi đi đâu)

Buớc tới chuyển hướng bước tới tìm kiếm - 2

 Các sách biên khảo của Phan Kế Bính:

"Việt Nam phong tục" (1915): nghiên cứu nghiêm túc, có tính phản biện, về thuần phong mỹ tục của Việt Nam;

"Hán Việt văn khảo" (1918): bàn về văn chương chữ Hán ở Trung Quốc, Việt Nam và triết học Trung Quốc;

Các sách viết về danh nhân Việt Nam: "Nam Hải dị nhân".

Sách dịch thuật:

"Đại Nam nhất thống chí" (1916);

"Ðại Nam điển lệ toát yếu" (1915 - 1916);

"Đại Nam liệt truyện tiền biên" (1918);

"Ðại Nam liệt truyện chỉnh biên" (1919);

"Tam quốc chí diễn nghĩa" dịch chung với Nguyễn Văn Vĩnh.

Phan Kế Bính mất lúc mới 46 tuổi vào năm Tân Dậu (1921).

Tướng mạo con người qua ca dao, dân ca

Mắt tròn dưới mí láng sưng
Là tên tửu bác, không ngừng chơi đêm

Thăng trầm chữ Việt

Ngày 1-1-1882, cách nay gần 130 năm, là ngày người Pháp đã buộc người Việt ở Nam kỳ “phải dùng chữ quốc ngữ”. Nội dung quan trọng này nằm trong nghị định về việc dùng tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin” do thống đốc Nam kỳ Lafont ký.

Vì sao người Pháp chọn quốc ngữ?

Chúng tôi tìm thấy trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Trung vấn đề này: “Ở đây cần để ý một điều là trước khi người Pháp xâm chiếm nước ta, các nhà truyền giáo Âu Châu đã theo đường lối “tôn trọng thích nghi văn hóa, phong tục những nước bị truyền giáo. Chính trong tinh thần đó mà họ sáng chế ra chữ quốc ngữ. Đến thời Pháp xâm lược, các nhà truyền giáo Dòng Tên phải nhường chỗ cho Hội thừa sai Paris”.

Sau đấy, Pháp đã cho ra đời tờ báo tiếng Việt ở Sài Gòn. Đó là tờ Gia Định báo do E. Potteaux, thông ngôn tiếng Việt hạng nhất của đô đốc, làm “tổng tài” (tổng biên tập).

 (Trần Nhật Vy)

 Ao nghiên ruộng chữ: người trăm năm cũ

Thể văn “Ký sự” - 1

 "Ta (Lê Quý Đôn) vừa qua Nam Quan, liền gặp quan Tuần Kiêm họ Tra đưa thơ thách họa. Dọc đường gặp các quan liêu đặt những câu hỏi hóc búa, họ bắt bẻ tranh luận như là kẻ địch. Vả chăng nếu mình rụt rè, tự coi mình là người nơi xa vắng, ít giao tiếp, ít nói năng thì bị người ta khinh bạc, mà dùng tiếng Di Ngôn Di Sứ (lời mọi, sứ mọi) mà chỉ chúng ta".

 Chính vấn đề các viên chức Thanh ở quan ải vẫn luôn luôn dùng tiếng DI (mọi) để trỏ người mình, kể cả sứ thần, là một điều mỗi lúc sứ ta sang, đều phải tranh biện phản đối và đòi cải cách. Sứ bộ gửi tờ trình cho viên Tuần phủ Quảng Tây xin thôi dùng chữ DI. Đại ý tờ trình như sau: “Trong các công văn và khi tiếp đón sứ thần mọi nơi đều gọi hai tiếng An Nam. Thế mà ngày chúng tôi đến cửa quan ải, quan đạo chỉ hô: Di quan, Di mục, làm chúng tôi hổ thẹn rất sâu. Đến khi tới Nam Ninh, yết quan Đạo Đài, giữa đám đông người mà vẫn dùng chữ DI. Sứ thần xin theo lệ đời Ủng Chính thứ 9 (173l) giới thiệu các sứ thần bằng chức danh”.

Viên Bố Chánh biện luận một cách khôn khéo rồi nhận lời, như ta sẽ thấy trong tờ trình của sứ bộ gửi về chúa Trịnh Doanh. Tờ trình nầy rất quí, vì được làm bằng tiếng Nôm, có lẽ để người Thanh không đọc được, nếu chúng tò mò.

 Lê Quí Đôn đi sứ nước Thanh – Hòang Xuân Hãn)

 Những khuất lấp thời Hồng Bàng thị

 Về ngày lễ, bia 1923 ở đền Thượng ghi rõ:

“Tục lệ dân xã Hi Cương, phủ Lâm Thao lấy ngày 11-3 là ngày thờ thổ kì, (tức thổ địa ”Hùng vương”). Khải Định ra chiếu chỉ: Từ nay lấy ngày 10-3 làm lễ tổ Hùng vương. Tức lùi lại…một ngày để ông đi Tây dự “Hội chợ thuộc địa Marseile” năm 1922. Từ đấy câu ca dao: “Nhớ ngày mồng Mười tháng Ba…” có từ ngày ấy.

 (Tạ Chí Đại Trường)

 Ao nghiên ruộng chữ: người trăm năm cũ

Thể văn “Ký sự” - 2

Tờ khải này có lẽ viết ngày 13 tháng Chạp năm 1761. Sứ bộ tưởng trước Tết sẽ về đến nhà, nhưng phải đợi gần một tháng quan Thanh mới chịu mở cửa quan.

Sau đây sẽ kể một vài chuyện.

Chuyện khám thuyền - Khi thuyền về đến Quế Lâm, theo lệ, quan Thanh xuống khám thuyền để tịch thu các vật và sách cấm. Đồ cấm có vũ khí và diêm tiêu dùng làm thuốc súng. Các cống sứ phải làm tờ cam kết, trong đó có nói :

" Năm Càn Long thứ 25, chúng tôi vâng mệnh quốc vương mang tuế cống và tờ biểu và nghi vật tới dâng. May được Thánh ân ban cho quốc vương vải vóc, trong đó có thứ đoạn hoa Đại Mãng, Thổ Qua. Còn như diêm tiêu, quân khí và tất cả những món hàng cấm thì không hề mang về. Đó là điều chúng tôi cam-kết là thật ".

Tất cả sứ bộ phải khai các sách đã mua, rồi phải gánh các hòm sách lên trạm Ân Đình. Quan Thanh giữ lại một số, rồi bảo khai. Trong số sách bị thu có bộ tự vựng bách khoa về văn học gồm 450 quyển, vua Khang Hi sai soạn. Ta phải làm đơn xin trả lại, viện lẽ rằng trong sứ vụ Phạm Khiêm Ích (1724) vua Ủng Chính đã ban bộ sách ấy cho vua mình. Quan Thanh bằng lòng, nhưng giữ lại 23 bộ sách khác, đó là những sách bói toán, địa lý, y khoa, thần tiên. Của riêng ta, có 5 sách bị thâu : Phong Thần Diễn Nghĩa, Nam Du Bắc Du, Tử Vi Đẩu Số  Mai Hoa Dịch Số. 

 (Lê Quí Đôn đi sứ nước Thanh – Hòang Xuân Hãn)

Cơm làng - 1    

 Chia phần xôi thịt

 

Điều ghi nhớ đầu tiên là cách chia xôi thịt (đầu lợn, phao câu, đầu cánh) là biểu tượng cho văn hóa trọng lễ bằng tôn trọng thứ bậc trong làng chứ không phải là để hưởng phần ngon nhất của con heo (1), con gà.

(1) - Miếng ngon nhất trong con heo là cặp bầu dục nên trong cỗ khao vọng, chỉ có cỗ nhất là có đĩa bầu dục. Theo Nhất Thanh Vũ văn Khiêu, Đất lề quê thói, Đại Nam, Sài Gòn, 1968, tr 491

Trong các con heo dành cho đình đám thì có con heo để biếu: " Hưởng cả trọn cái đầu heo gọi thủ vĩ, (2) (Thủ , là đầu,    là lớn, người đứng đầu lớn nhất trong làng). Hương Chủ hưởng  trọn cái mông cắt khoanh tròn, Chánh Bái hưởng trọn cái bộng con heo có cả cái đuôi, kỳ dư chia đều cho các chức việc".

(2) - Trong lễ khao vọng, con heo luộc chín làm lễ tế thần  được chia như sau; Tiên Chỉ hưởng cái thủ, Thứ Chỉ (3) cái nọng, còn lại dành cho kỳ mục, quan lão…

(3) Trên hết trong làng là Tiên chỉ và Thứ chỉ thường là hưu quan, khoa mục.

Trong lễ khao vọng thủ lợn còn đủ cả tai mắt bê lên biếu tiên chỉ, cổ lọng biếu thứ chỉ (3), chức sắc; còn lại chỗ ngon là thịt thăn, thịt mông thì thái ra làm cỗ chia đều cho trên dưới cùng thụ lộc.

 (Lạp Chúc Nguyễn Huy)

Khoa cử thời xưa

 Giai thọai: Nếu như Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và Lưỡng quốc trạng nguyên Tống Trân, cùng bị giữ ở Tàu dịch thư kinh mươi năm. Nguyễn Đăng Trừng, Nguyễn An bị lưu xứ ở Tàu đến suốt đời. Với giai thoại thì chẳng thể thiếu Thám hoa Giang Văn Minh, người xã Đường Lâm, tỉnh Sơn Tây được cử đi sứ. Minh Tự Tông ra câu đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” có ý nhắc đến Mã Viện dẹp cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng. Thám hoa Giang văn Minh không chần chừ, khẳng khái đối: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng”. Vua Minh biết ý ông dẫn việc Trần Hưng Đạo đánh tan quân Nguyên ở sông Bạch Đằng để đối lại. Bất chấp luật lệ bang giao, Minh Tự Tông thét bọn đao phủ trói ông lại, gắn trám đường vào miệng và mắt rồi cho người mổ bụng xem “sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Tính ra, ông mới 58 tuổi. Hòng uy hiếp dân Đại Việt, Minh Tự Tông còn cho ướp xác ông bằng bột thuỷ ngân và cho sứ bộ ta đem thi hài ông về nước.

Cơm làng - 2  

 Chia phần xôi thịt

 

Vào những ngày lễ nhỏ chỉ một số ít người tham dự, đồ cúng chỉ có xôi gà thì việc chặt thịt gà cho mâm cơm làng cũng phải theo tục lệ của làng là " thứ nhất phao câu, thứ nhì đầu cánh " có nghĩa là phao câu và đầu cánh nhiều mỡ béo rất ngon để nhắm rượu nên được chặt ra để trên đĩa thịt gà của mâm trên.

Tiếp theo mới chặt đầu cánh trên đĩa thịt gà mâm dưới. (1)

 (1) Theo Trần Quốc Vượng, Văn hóa ẩm thực Việt Nam, thì "Phao câu, đuôi lợn dành cho thằng mõ"

(Lạp Chúc Nguyễn Huy)

Thành ngữ tục ngữ…sai

Thịt thối hơn muối bùi 

Ý nói: Ăn cơm có thịt vẫn hơn là không có

(Nhưng thịt thối thì rất hại vệ sinh)

 

Không phải như vậy! Ngày trước thực phẩm cá thịt rất khan hiếm. Cơm chủ yếu là rau, muối nên dân gian có những cách nói thậm xưng: “Thịt thối hơn muối bùi” hoặc “Cứt cá hơn lá rau”, nhằm đề cao bữa ăn có thịt cá. Nhưng do không hiểu cách nói của dân gian, Gs nhầm tưởng người dân coi món “thịt thối” hơn “muối bùi” thật nên lo lắng cảnh báo: “thịt thối thì rất hại vệ sinh”!

(Hoàng Tuấn Công)

 Người Minh Hương

 Thị xã Sóc Trăng, có rất nhiều cửa hiệu bán bánh pía từ các cơ sở làm bánh pía...  bánh pía là đặc sản Sóc Trăng của người Hoa Triều Châu làm ra. Nhiều vùng ở Sóc Trăng, như huyện Vĩnh Châu, nơi có nhiều vườn nhãn, có nhiều người Khmer và Hoa cư ngụ, hơn cả người Việt.

Một trong những nhân vật văn hóa nổi tiếng sinh ra ở Sóc Trăng là ông Vương Hồng Sển, người gốc Triều Châu.

 (Nguyễn Đức Hiệp)

Ô Quan Chưởng


 

Hà Nội có bao nhiêu cửa ô, nhiều người đã trả lời 5 và gọi tên: Ô Cầu Dền, Cầu Giấy, Yên Phụ, Đông Mác, Quan Chưởng.

“Ô Quan Chưởng hay còn gọi là ô Đông Hà, tên chữ là Đông Hà môn, tức cửa Đông Hà), là một cửa ô của Hà Nội xưa, nằm ở phía Đông của toà thành đất bao quanh Thăng Long, được dựng năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), đến năm Gia Long thứ ba (1817) được xây lại và giữ nguyên kiểu cách đến ngày nay. Đây là một trong 21 cửa ô còn sót lại của thành Thăng Long cũ:

Long Thành bao quản nắng mưa

Cửa Ô Quan Chưởng bây giờ còn đây

(Ca dao)

Hiện nay, cửa ô còn nguyên cửa chính và hai cửa con hai bên. Trên nóc cửa chính là một vọng lâu. Ngày xưa có lính tuần canh gác ở đây. Bên tường phía trái có gắn một tấm bia khắc năm 1882 ghi lệnh của Tổng đốc Hoàng Diệu cấm lính sách nhiễu những đám tang qua lại cửa ô.

Sau khi chiếm Hà Nội, người Pháp cho phá hết các cửa ô cùng với một phần các con đê để mở rộng Hà Nội. Còn riêng ô Đông Hà, nhờ có sự tranh cãi của ông cai tổng Đồng Xuân Đào Đăng Chiểu (1845 – 1916), người làng Khúc Thủy (Hà Đông), nên chủ trương đó không thực hiện được. Vì ông Cai tổng nhất định không chịu ký tên vào tờ trình (1) phá cửa ô nên cuối cùng người Pháp phải nhượng bộ. Nhờ vậy mà đến nay Ô Quan Chưởng vẫn còn giữ nguyên vẹn như kiến trúc xưa.

(1) Theo ghi chép, cổng được dựng năm 1749 để phòng thủ kinh thành ở mặt sông Hồng trước sự nổi dậy của Nguyễn Hữu Cầu.

Một lần tới thủ đô

Tôi tới vườn Bách Thảo thì trời đã về chiều. Trong vườn, không khí nhẹ nhõm mát mẻ, quả thật cô diễn viên múa đó đã nói.

(đường lên miếu Đống Đa núi Nùng)

Các loại cây cổ thụ xoè tán uy ngiêm, trên gốc già cỗi là những loài cây kí sinh, chen nhau mọc xanh rì. Trong vườn có một trái núi đất (sau tôi được biết tên, đó là Núi Nùng) có vẻ như là tự nhiên. Núi Nùng rất đẹp, đủ loại cây mọc trên nó, có đường đi lên và trên đỉnh hình như có một ngôi chùa hay một cái miếu gì đó.

 (Vương Văn Quang)

Gia Định Báo

Nhìn qua quá trình lịch sử những thế kỷ 17, 18, 19, có thể nhận thấy trên một khía cạnh nào đó, có sự tương đồng giữa sự ra đời của chữ Quốc ngữ và vai trò của Gia Định Báo trong đời sống dân tộc. Lúc khởi thủy, chữ Việt la tinh hóa chỉ được các giáo sĩ phương Tây sử dụng như một công cụ truyền giáo của họ, nhưng sau hàng trăm năm, những biến chuyển lịch sử đã biến nó thành chữ của người Việt .

Gia Định Báo cũng thế. Xét về bản chất, nó chỉ là một công cụ truyền thông được thực dân Pháp sử dụng trong mục tiêu kiện toàn bộ máy cai trị của họ, song nhờ vào  tinh thần Dân Tộc của những người Việt Nam tuy cộng tác với Pháp nhưng vẫn có tấm lòng hướng về dân tộc mà nó trở thành gần gủi với đời sống tinh thần của người Việt bấy giờ. Việc phiên dịch các văn kiện hành chánh của Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của đã đành là một công tác thuộc phạm vi trách nhiệm do Pháp giao, song không thể nói là không có tác dụng hữu ích về mặt khách quan đối với đời sống dân Nam kỳ lúc bấy giờ.

Với một kiến thức ít người sánh kịp, hai học giả đã làm phong phú vốn ngôn ngữ Việt còn ở trong thời kỳ phôi thai, tạo được sinh khí cho việc học  chữ Quốc ngữ qua nội dung hấp dẫn của những câu chuyện ngụ ngôn do Trương Minh Ký biên dịch, những bài viết về khoa học thường thức mới mẻ do Ernest Potteaux biên soạn trên từng số báo.
Nhờ Gia Định Báo, người dân biết thế nào là “điển khí”, núi lửa, động đất ra sao, thấm nhuần tính nhân bản trong các truyện dân gian Nhị thập tứ hiếu, Lục súc tranh công, ….Có thể nói sự ra đời của những tờ báo sau GĐB do người Việt đứng ra thành lập hoặc giữ vai trò chủ nhiệm, chủ bút như Thông loại khóa trình (1888-1889), Phan Yên Báo (1898 -1899), Nông cổ mín đàm (1901-1924), Lục tỉnh tân văn (1907-1943)… không thể không có ảnh hưởng của Gia Định báo .   

(Nam Sơn Trần Văn Chi)

 Phở Tàu Bay “tân trang”

 Chúng tôi là khách ăn phở tại tiệm Phở Tàu Bay từ những năm 60 của thế kỷ trước. Bà chủ tiệm Phở Tàu Bay luôn luôn đứng ở quầy chế biến, nấu phở. Ông chủ tiệm Phở Tàu Bay (gương mặt giống bác sĩ – thủ tướng Phan Huy Quát của Việt Nam Cộng Hòa) có dòng con riêng, sau tục huyền với bà chủ tiệm Phở Tàu Bay; ông thường ngồi ở quầy thu tiền. Bà chủ không có con, nhưng làm phở thì rất rộng tay. Sáng sớm vào ăn phở, tô phở do chính bà chủ làm, thịt chín xắt chưa đứt hẳn, là một dải thịt dài…

 ***

Sau 30-1975, ông chủ tiệm Phở Tàu Bay có gương mặt giống thủ tướng Phan Huy Quát mất trước ông thủ tướng đi “học tập cải tạo”. Bà chủ tiệm Phở Tàu Bay vẫn tiếp tục đứng ở quầy chế biến phở, tô phở Tàu Bay vẫn đầy thịt như mọi khi, đặc biệt là những tô do chính bà chủ làm cho khách. Có thời gian bà chủ tiệm Phở Tàu Bay ngã bệnh phải nghỉ làm việc. Khỏi bệnh, bà tiếp tục công việc khoảng một năm sau thì qua đời. Một người con riêng của ông chủ tiệm Phở Tàu Bay đảm nhiệm hoạt động của tiệm phở.

Ngoài hương vị đặc biệt Phở Tàu Bay, chúng tôi cũng từng thú vị với tô phở giò của Phở Tàu Bay. Đây là những mẫu vụn thịt nạc được tách ra trong các phần cơ thể bò, rồi bó lại như bó giò lụa giò thủ. Bó thịt vụn nạc đủ loại ấy được hầm thật kỹ, vớt ra ngâm vào nước đá. Khi làm tô phở cho khách mới xắt ra từng khoanh, đặt trên mặt tô phở. Muốn ăn tô phở giò, phải tới tiệm Phở Tàu Bay vào sáng sớm mới còn.

 (Nguyễn Đạt)

 Tiểu sử: Nguyễn Đạt sinh năm 1945 tại Vĩnh Tường, Vĩnh Yên, Bắc Việt. Hiện ở Đơn Dương, Đà Lạt.

Ông là cháu nhà văn Nguyễn Mạnh Côn

Tác phẩm: Hiện viết truyện ngắn cho riêng báo mạng Tiền Vệ và Khởi Hành.

Làm báo văn học ở hải ngoại

 II. Những tình cờ định mệnh

 

Tôi yêu hội họa. Từ ấu thơ, tôi đã mơ sẽ có ngày nào đó, trong đời, tên tuổi tôi trở nên quen thuộc, được nhiều người hâm mộ, như một họa sĩ.

Lớn hơn tí nữa, định mệnh đẩy tôi vào một ngã rẽ khốc liệt, chính cây bút chì than và tập giấy croquis giúp tôi đứng thẳng được trên đôi chân yếu, để tiếp tục bước về phía trước, làm người.

Bản vẽ đầu tiên của tôi năm 13 tuổi được trả bằng tiền. Từ đó đến bây giờ, tôi đã sống, đã nuôi vợ nuôi con và nuôi chính bản thân mình chỉ bằng một nghề duy nhất: hội họa (tôi dùng chữ hội họa trong nghĩa phổ thông, gồm tất cả mọi công việc ít nhiều liên quan đến cọ sơn, màu sắc: tôi từng là thợ kẻ bảng hiệu; vẽ chân dung truyền thần; vẽ quảng cáo báo chí; vẽ dương bản trên phim để giới thiệu các sản phẩm thương mại (dầu cù là, thuốc nhuộm tóc, bột ngọt Vị Hương Tố, xà phòng Cô Ba, sữa hộp Con Chim... chiếu chào hàng trong các rạp chiếu bóng; vẽ pano cổ động gắn hai bên hông xe buýt, trên các lầu cao, và ngoài xa lộ. Tôi cũng đã từng trình bày bìa sách, bìa băng nhạc, logo, nhãn bao bì cho các cơ sở sản xuất hàng tiêu dùng. Cuối cùng, "có trình độ" hơn, tôi sáng tác tranh bằng sơn dầu, màu nước, bột màu... và triển lãm vung vít.) May mắn, những sản phẩm thượng vàng hạ cám ấy thường được đánh giá "có chất lượng". Nhờ thế, tôi sống. Ngay cả chuyện vượt biển "tìm tự do", định mệnh cũng sắp xếp cho tôi bằng con đường hội họa: một cậu học trò (học vẽ) đã cho tôi một chỗ ngồi trên chiếc tàu đánh cá nhỏ bé với sức chứa tối đa 22 nhân mạng do cậu làm chủ.

(Khánh Trường)

TTiểu sử: Khánh Trường tên thật: Nguyễn Khánh Trường. Sinh năm 1948 tại Quảng Ngãi, hiện định cư ở California. Khánh Trường là họa sĩ, viết văn (chủ nhiệm, chủ bút tạp chí Hợp Lưu), làm thơ

Tác phẩm: Chỗ tiếp giáp với cánh đồng, Hai mươi năm văn học hải ngoại 1975-1995, Buồn ơi, tôi bỏ tôi chìm đắm, Chung cuộc.

*

Phụ đính

Họan quan

Hoạn quan triều Nguyễn

Ở Việt Nam, hoạn quan được ghi nhận đã có từ thời nhà Lý. Đến nhà Nguyễn thì hoạn quan chia làm 5 trật:
- Quản Vụ thái giám
- Kiêm Sự thái giám
- Thừa Vụ thái giám
- Cung Sự thái giám
- Cung Phụng thái giám.

Từ trước đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, nhà văn, nhà báo chọn cuộc đời của những vị thái giám trong cung Nguyễn để làm đề tài tác nghiệp của mình, tuy nhiên nhu cầu tìm hiểu về chuyện đời của những con người đặc biệt này của bạn đọc thời nay vẫn luôn là một thôi thúc đối với những người cầm bút.

 

(Nguồn: Phan Thuận An)

Bác tôi là hoạn quan

(tựa đề nguyên thủy: Bộ tam)

 Cha tôi khóc, cắt dây đưa bác xuống. Lúc này bác mới thật giống là con bù nhìn. Cái lưỡi bé xíu của bác không biết cách thụt vào nên khuôn mặt bác trông vừa buồn cười vừa đáng sợ. Những con kiến trên người bác hốt hoảng bò ra. Chúng nhốn nháo tới lui trên làn da vàng ệch, bối rối chạm râu vào nhau như để hỏi thăm đường về.

 Một đời lạnh lẽo của bác kết thúc như thế đó. Ngoài một vài giọt nước mắt em khóc cho anh, cũng chẳng còn ai khóc bác.Cha tôi bảo mẹ lấy lá bưởi, lá é nấu nước để ông lau rửa cho bác. Mùi thơm của lá làm bớt đi phần nào mùi của thịt da mục rữa.

(K.Đ.)

Tác giả: K.Đ. tức Khuất Đẩu sinh năm 1940 tại Bình Định. Tên thật Trương Đẩu.

Tên thường gọi Trương Thanh Sơn. Hiện sống tại Bình Định.

Tác phẩm: Người giữ nhà thờ họ, Lão tiền bối,

Những tháng năm cuồng nộ


 Mời Xem :

Chử Nghĩa Làng Văn

 Kỳ 15/8/2023

 

 

 

 

1 Chuyện Ngắn của Khuất Đẩu :

Khuất Đẩu: NỖI BUỒN MÂY TRẮNG (T.Vấn và Bạn Hửu )


SỰ NHẦM LẪN TỪ MỘT GIAI THOẠI?

Cho đến nay chắc chắn nhiều người trong chúng ta còn nhớ từng được thầy cô kể cho nghe về giai thoại cây đèn treo ngược và nước vọt lên cao trong những giờ Việt sử. Đại khái như sau: “Phái đoàn Phan Thanh Giản khi đi Tây thương nghị về việc xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ (1863-1864) về kể những chuyện lạ nước ngoài như đèn thắp không dầu, ngọn lửa chúc xuống (đèn điện), giếng nước vọt lên cao (nước phun trong công viên) vv... Vua nghe vậy lấy làm kinh dị bèn giao cho đình thần nghị bàn. Các quan bàn xong tâu lên: Quy luật tự nhiên là nước chảy xuống, lửa bốc lên cao, trái lại là nghịch thường, không đúng sự thật. Bọn Phan Thanh Giản bị bọn bạch quỷ Tây dương bầy trò quỷ thuật làm cho quáng mắt đó thôi.
Nghe chuyện chắc ai cũng phì cười và ngao ngán vì sự lạc hậu bảo thủ của triều đình nhà Nguyễn trước nền văn minh Thái tây lúc bấy giờ nhưng nếu xét kỹ sẽ thấy giai thoại này là bịa đặt vì trong “Tây Hành Nhật ký”, cụ Phạm Phú Thứ, người cùng đi với cụ Phan Thanh Giản với cương vị Phó sứ, có chép rằng :
Marseille và Paris bấy giờ (1863) đều thắp đèn khí đốt “đèn để trong lồng kính và có tán. Ngoài đường phố, trong buồng, trên tường, trên giàn, đèn đều thắp bằng khí”.
Còn đèn điện thì phải mãi đến năm 1879 Edison mới sáng chế ra, nghĩa là 15 năm sau khi các cụ nhà ta sang Pháp.
Còn chuyện nước giếng vọt lên cao thì sử sách đều ghi từ đời Khang Hy (1662-1729) Trung quốc đã có những bể nước phun trong ngự viên do chính các giáo sĩ Tây phương thiết kế. Vậy từ cuối thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19, sứ thần ta vẫn thường xuyên đi sứ hoặc cống nạp Trung quốc chẳng lẽ không ai thấy những đài nước phun ngược kia?
Có người lại gắn giai thoại này với Nguyễn Trường Tộ, nhà cách tân vĩ đại của thế kỷ XIX, tiêu biểu cho phe cấp tiến trong triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Nhưng điều này lại càng không đúng vì Nguyễn Trường Tộ không có tên trong phái bộ của Phan Thanh Giản đi Tây năm đó, còn các chuyến đi Tây của ông đều diễn ra trước đó và cho đến khi ông mất (1871), đèn điện vẫn chưa ra đời. Hơn nữa trong vô số các tấu trình ông để lại về những điều mắt thấy tai nghe bên trời Tây đều không thấy ghi chép chuyện này.
Vậy giai thoại này có từ đâu?
Có lẽ sự nhầm lẫn này xuất phát từ nhà văn Đào Trinh Nhất (1900-1951) người chuyên viết truyện lịch sử, ký sự. Trong tạp chí Trung Bắc Chủ Nhật số ra ngày 17/10/1943, ông đã có bài viết đề cập đến việc sứ đoàn Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ sau khi đi Pháp về đã kể những chuyện lạ nước ngoài, trong đó có câu chuyện cây đèn treo ngược và nước vọt lên trời như đã nói ở trên. Như vậy bài báo này có thể là cơ sở rõ ràng nhất để giai thoại kia truyền tụng trong một thời gian dài kể cả các giờ sử ký.
Thậm chí cho đến năm 2003, nhà văn Nguyễn Khắc Phục trong tập bút ký lịch sử “Những bước đi tỏa sáng” ca ngợi những thành tựu của ngành Điện lực VN cũng đã kể lại câu chuyện này kèm thêm những lời phê phán gay gắt về sự lạc hậu của triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Nhưng chuyện chưa dừng ở đó, tháng 2/2020, nghĩa là mới đây, VietNamnet lại tiếp tục sử dụng giai thoại này trong một bài Trắc nghiệm kiến thức Lịch sử có tựa đề "Cây đèn dầu lộn ngược các sứ giả triều Nguyễn thấy ở Pháp”…
Chưa biết sự nhầm lẫn đó khởi nguồn từ đâu, vô tình hay hữu ý nhưng để thấy rằng giai thoại là thứ cần được sử dụng một cách thận trọng bởi nó luôn được thêm thắt những chi tiết ly kỳ chung quanh một sự kiện lịch sử nào đó nhằm tăng tính hấp dẫn, sự thêm thắt đó thường không có thật và khác nhau tùy theo trí tưởng tượng của dân gian, vì vậy không thể đồng nhất giai thoại với sự thật lịch sử.
Tiếc rằng hiện nay không ít giai thoại được bịa đặt một cách ngây ngô phi lý vẫn được dạy cho trẻ con như những bài chính sử! (st&th)
-------
Ghi chú ảnh: Phái bộ thương nghị do cụ Phan Thanh Giản dẫn đầu tiếp kiến hoàng đế Napoléon III tại điện Tuileries ngày 05/11/1863


Trần Phong Vũ chuyển
 

2 thg 9, 2023

Nhớ Về Thăm Mẹ - Thơ Nguyễn Cang


Tết nầy nhớ về thăm mẹ anh ơi

Mái đầu sương trắng gió rít lưa thưa

Áo nâu cũ, vải thô, mồ hôi đổ

Mẹ trọn đời đau khổ mãi không thôi

 

Anh nhớ về thăm con đò bến cũ

Giữa đình câu đối đỏ viết bằng thư

Cây nêu treo, theo chiều gió lắc lư

Mai tứ quý chớm nụ vàng tươi thắm

 

Bó rau muống phiên chợ trưa còn đọng

Mẹ ngồi chờ ai đó đến mua chăng?

Chút tiền lời không lấp nổi khó khăn

Đừng lỡ hẹn anh ơi đời hữu hạn

 

Mai anh về đừng ngập ngừng ái ngại

Kẻo mẹ già tựa cửa ngóng chờ trông

Để đêm đêm thổn thức ở trong lòng

Mùa xuân tới biết có còn mẹ đợi???


Nguyễn Cang

Mùa Vu Lan 2023


 Mời Xem :

 

 NHỚ VỀ QUÊ MẸ - Thơ Nguyễn Cang

MONTESQUIEU: TRI THỨC KHÔNG CÓ LƯƠNG TRI LÀ TỘI ÁC

Nhà tư tưởng người Pháp, Charles de Secondat Montesquieu, người nổi tiếng với thuyết tam quyền phân lập có ảnh hưởng lớn tới sự hình thành Hiến pháp Hoa Kỳ, đã từng trình bày và phân tích về mười tội ác (thập ác), trong đó ông cho rằng tri thức không có lương tri chính là một tội trong số đó. Montesquieu nói mục đích học tri thức là nhằm cải thiện hiện trạng của con người và cuộc sống, mà việc cải thiện cuộc sống nên nằm dưới sự chỉ dẫn của lương tri thì mới có thể hoàn thành một cách tốt đẹp hơn. Tri thức không có lương tri tức là tri thức làm tổn hại con người, nắm giữ chúng càng nhiều thì nguy hại càng lớn. Ví như những tri thức và kỹ năng về lừa gạt, làm giả, trộm cắp đều thuộc loại này. Tri thức không có lương tri chỉ có thể mang lại cho con người nguy hại và tai họa. Trong lịch sử nhân loại tràn ngập những giáo huấn như vậy.

      Charles de Secondat Montesquieu. (Tranh: Wikipedia, Public Domain)
 
Trong đại chiến thế giới lần thứ nhất, nhằm hỗ trợ quân Đức đánh bại liên quân Anh và Pháp, nhà hóa học người Đức gốc Do Thái Fritz Haber đã nghiên cứu và chế tạo ra đạn khí độc trong phòng thí nghiệm. Nó được sử dụng trong các cuộc chiến tranh khiến cho gần một triệu người bị thương vong. Việc làm của Fritz Haber không chỉ bị các nhà khoa học các nước khiển trách mà ông còn bị chính người vợ cũng là đồng nghiệp của ông là Clara Immerwahr phản đối.

Ngay khi Haber lần đầu nghiên cứu chế tạo khí độc cho quân đội Đức, bà Clara đã thường xuyên cãi nhau với Haber vì vấn đề này, nhưng Haber không muốn từ bỏ nghiên cứu về khí độc. Vì quá thất vọng về chồng, bà Clara đã dùng chính khẩu súng của chồng để tự sát. Dù vậy, cái chết của vợ không hề đánh thức lương tri của Haber, thậm chí khi ông còn chưa kịp tổ chức xong tang lễ cho vợ thì lại lao mình vào thử nghiệm loại khí độc mới.

Năm 1917, quân đội Đức đã đưa thành tựu mới nhất của Haber ra chiến trường, khiến cho vô số binh sĩ đã phải chết trong đau đớn với một cơ thể thối giữa. Nhưng khí độc của Haber không cứu được vận mệnh thất bại của quân Đức trong Thế chiến thứ nhất. Sau khi chiến tranh kết thúc, vì sợ bị bắt làm tù binh, Haber đã chạy về quê ẩn náu. Sau nửa năm, Haber bí mật trở về phòng thí nghiệm của mình và tiếp tục dấn thân vào nghiên cứu khoa học.

Là một người Do Thái, Haber không ngờ rằng khi Hitler lên nắm quyền, khí độc do mình nghiên cứu chế tạo ra đã bị sử dụng để giết hại chính đồng bào của mình, giết chết hàng triệu người Do Thái. Bản thân Haber buộc phải chạy trốn khỏi đất nước mà ông đã dốc sức phục vụ.

Fritz Haber

Có thể thấy, cùng với sự phát triển của lịch sử, không ít người ngày càng hiểu rõ hơn những suy nghĩ sâu sắc của Montesquieu, và ngày càng có nhiều người nhận ra nhân cách mới là mục tiêu giáo dục hàng đầu. Ví dụ, người sáng lập Andover, trường tư thục độc lập danh giá hàng đầu Hoa Kỳ, đã viết: “Trọng tâm chính trong công việc của hiệu trưởng là chú ý đến sự phát triển tâm linh và đạo đức của những đứa trẻ mà ông ấy chịu trách nhiệm, điều này là cao hơn bất kỳ trách nhiệm nào khác”.

Trong thế giới của thế kỷ 21, văn minh nhân loại đã nhận thức được rằng lương tri quan trọng hơn tri thức. Đáng tiếc là ở nhiều nơi, trong hệ thống giáo dục lấy thi cử lấn át chất lượng giáo dục, giáo dục đã trở thành một nấc thang trong hệ thống thứ bậc, và điểm số đã trở thành mục tiêu cao nhất của việc học. Dưới một hệ thống như vậy, trẻ em có thể đạt điểm kiểm tra cao, nhưng tâm trí của chúng khó phát triển và tiến bộ. Khi lớn lên, chúng có thể đạt được địa vị cao trong xã hội, nhưng chúng không biết linh hồn là gì, đạo đức và lương tri đã trở thành những thứ khuyết thiếu trầm trọng.

Nhưng khi lương tri khuyết thiếu ở bình diện rộng trên xã hội, mỗi chúng ta đều có thể là nạn nhân. Thậm chí tội phạm công nghệ cao nổi lên không ngừng, và không ít người đặt câu hỏi đâu là căn nguyên.

Kỳ thực lương tri là ngọn nến được Đấng tối cao đặt sâu vào tâm linh con người, là tình cảm cao quý của con người. Lương tri là tiền đề của sự ăn năn, không có lương tri và sự ăn năn thì con người sẽ không điều ác nào mà không dám làm. Sử học gia Tư Mã Quang nói rằng: “Có đức có tài là thánh nhân, có đức không tài gọi là quân tử, không đức không tài là người tầm thường, có tài không đức là tiểu nhân. Kẻ tiểu nhân vì lợi ích thì không từ bất cứ việc ác nào”.
Bức “Học viện Athens” của Raphael mô tả các nhà thông thái đang tranh luận về tri thức, vật chất và tinh thần. (Tranh: Wikipedia, Public Domain) 

Montesquieu nói tri thức là của cải quý giá tạo phúc cho nhân loại, nếu nó không được sử dụng vào mục đích tốt mà rơi vào tay những kẻ chà đạp lên điều thiện thì sẽ gây nguy hại cho lẽ phải, cho chính nghĩa. Nếu nền giáo dục chỉ chú trọng đến lợi ích vật chất mà bỏ qua việc hướng dẫn, uốn nắn tình thương và lẽ phải cho trẻ em thì sẽ tạo thành nguy hại và hậu họan vô cùng cho nhân loại và xã hội. Ngày nay, chúng ta có thể tổng kết sự nguy hại đó bằng một câu: Lưu manh không đáng sợ, chỉ sợ lưu manh có văn hóa!

Theo Sound of Hope
An Hòa biên tập / Nguồn: trithucvn

Copy từ trang Trung Dung Chi Đạo Lưu Khâm Hưng

1 thg 9, 2023

Trang thơ BTĐ (6 ) : HOÀI MONG,TRĂNG KHUYẾT,THƯƠNG GÌ ...?

1./  HOÀI MONG

Thơ : B.T.Đ.
Ta gặp quen nhau trong phút giây
Sao Anh lại nói nhớ thương ngay
Chả bao giờ hai ta gặp lại
biệt tăm năm mươi năm nay
Cứ mỗi lần Em chìm đắng cay
Anh lại ẩn hiện dang đôi tay
Làm cả đời này Em cứ ngỡ
Hai ta tuy không tròn duyên nợ
Nhưng Anh vẫn quanh quẩn đâu đây
Nằm sâu trong tim Em cất dấu
Em muốn tìm Anh tìm ở đâu ?
Như mò kim tận đáy biển sâu !
Trái đất tròn một lần ước ao
Gặp lại nhau dẫu có thế nào
Không phí công chờ đợi bấy lâu
Thoả lòng vời vợi nhớ thương nhau.

2./Trăng khuyết

Thơ : B.T.Đ.
Vầng trăng khuyết
Vầng trăng cười
Vầng trăng biết
Trăng sẽ tròn
Nhưng tình khuyết
Hồn thương đau
Lòng âu sầu
Cách xa nhau
Bao mùa qua
Chỉ riêng ta
Với vầng trăng
Khuyết lại tròn
Ta nhắn gió
Mang ngàn hương
Đi muôn phương
Tìm yêu thương
Lấp trống vắng
Nghe văng vẳng
Chim gọi đàn
Về tổ ấm

3./ THƯƠNG GÌ ...?
Thơ : B.T. Đ.
Không gian thì chia đôi
Thời gian vẫn buông lơi
Cứ mặc em chới với
Sống lạc loài thân côi
Tuổi xanh chìm bóng tối
Có thiết chi mong đợi
Quen độc hành lẻ loi
Mong anh đừng tìm nói
Mang chút tình xa xôi
Thương nhớ tuổi úa rồi
Hạnh phúc gì ? đầy vơi !
Mơ hoang cõi trên trời
Phải chăng là mộng ảo
Mối tình đầy chao đảo
Hổng chút vị ngọt ngào
Như đêm không trăng sao!

 

4./ NHỚ CHA

Thơ : B.T.Đ
Mây xám xịt bay về che phủ
Cha trút hơi vào giữa mùa thu
Con xa Cha thập nhị có dư
Nhìn thu vàng tâm tự nhớ Cha
Mưa tràn ngập hoà ướt lệ nhoà
Cha ơi ! Sao Cha đi vội vã
Để đàn Con thương nhớ xót xa
Côi cút lạc dòng đời nghiệt ngã
Nhớ lúc Con đau khổ vất vả
Lại trở về bên Cha thủ thỉ
Lời khuyên Con như người tri kỷ
Chừ còn đâu - còn đâu -Cha ơi !
Vì đàn Con , Cha cực cả đời
Muôn khó khăn không lời than thở
Thương vợ con nên chịu tất cả
Công Cha tựa Trời biển bao la
Vu Lan cầu nguyện Phật Di Đà
Mừng Cha vui , Tây Phương Cực Lạc

Mời Xem :Trang Thơ BTĐ (5 ) : 50 NĂM GẶP LẠI, CHỜ,CHIỀU TÀN

Vườn Thơ Mới Kỳ 129 -Bài Xướng : TAN TÁC -Hương Lệ Oanh VA


 Xướng:

Tan Tác
 
Thuở ấy ra đi chẳng hẹn về
Bao năm biền biệt mãi lê thê
Nhớ thương tan tác sầu nhân thế
Man mác nỗi niềm nhớ đến quê
Thầm kín chơi vơi nghe biển khóc
Bơ vơ lặng lẽ ngắm trăng thề
Quê hương để lại buồn muôn thuở
Thoát khỏi ngông cuồng ngọn sóng mê
 
HƯƠNG LỆ OANH VA

 Họa 1:

Duyên Quê

Gió lòng bỗng chạnh chẳng sao về
Xa vắng dạ chàng mãi hiểu thê
Kẻ ở người đi sầu vận thế
Tình xưa lối mộng nhớ duyên quê
Thầm thì thu vọng nghe đời khóc
Lác đác mưa sa ngắm bóng thề
Ngẫm lại không chi buồn vạn thuở
Tương phùng hát khúc ngọn tình mê

 Kim Trân 

Họa 2:

Ra đi

Ra đi chẳng biết lúc nào về

Hiện tại cuộc đời quá thiết thê
Cơ cực thăng trầm trong cuộc sống
Gian truân vất vả phải lìa quê
Đối đầu nghịch cảnh nhiều trăn trở
Gìn giữ lòng son với nguyện thề
Xứ lạ phồn hoa nhiều cám dỗ
Can trường vững dạ với đam mê 

PTL 

Thiết thê: đảo ngữ chữ thê thiết. Đây là từ xưa trong văn chương, nghĩa là thê lương và thảm thiết

Chuyện Hai anh em trong tác phẩm Chân trời cũ, (NXB Nguyễn Hà, Hà nội năm 1942), Hồ Dzếnh viết:
Tôi nhớ nhất cái dáng điệu vừa quỳ vừa khóc của chị dâu tôi, và tôi thấy buồn một nỗi buồn thê thiết quá 

Họa 3:

Sầu Ly Hương

Tâm tư nặng trĩu lúc chiều về 

Xa xứ người đi buồn thảm thê
Nào phải ta đây thằng yếm thế 
Ai ơi chỉ bởi nặng tình quê
Bao năm dồn nén mà chưa khóc
Hé mở vành môi nhớ ước thề 
Giặc cướp gieo đau sầu vạn thuở 
Chôn vùi đất Mẹ chốn u mê

Trầm Hữu Tình

Họa 4:

Buồn Xa Xứ

Chia tay ngày ấy mất đường về
Đất khách quê người buồn thảm thê
Nhớ mẹ thân gầy rầu thắt ruột
Thương cha tuổi hạc hận xa quê
Bao mùa xuân đến không còn biết
Mấy độ thu sang chẳng trọn thề
Mây trắng xây thành ôi biệt xứ
Chốn quê nhà, giận kẻ u mê !

Nguyễn Cang

Họa 5:

Hoài Hương

Làng xưa yêu dấu mãi mong về
Bao thuở đổi dời quá thảm thê
Sóng nước cuốn trôi bờ bến cũ
Phù sa vun đắp ruộng vườn quê
Thoáng nghe tiếng sáo khơi hoài cảm
Dường nhắc lòng ai giữ ước thề
Năm tháng dần trôi đầu nhuốm bạc
Niềm thương nỗi nhớ thấm cơn mê

Minh Tâm

Họa 6:

Quốc Quốc Ngoài Song


Ngày ấy người đi kẻ trở về
Ngược xuôi tan tác cảnh phu thê
Ra đi nhớ mẹ buồn thân phận
Ở lại thương mình tủi nghiệp quê
Trí giả hiền tài khôn tế thế
Thương gia tỷ phú cũng buông thề
Chỉ ông quốc quốc ngoài song cửa
Dằng dặc từng đêm tĩnh đến mê

Tâm Quã

Lưới cá ở Đồ Sơn 1900
 

 

Mời Xem :

VTM#128 Từ quê ra tỉnh_PTL

Hoằng Nhất Đại Sư


  Tống Biệt                                                       送别         

Trường đình ngoại, cổ đạo biên                    長亭外 古道邊
 Phương thảo bích liên thiên                         芳草碧連天 
 Vãn phong phất liễu địch thanh tàn             晚風拂柳笛聲殘
 Tịch dương sơn ngoại sơn                           夕陽山外山 
 Thiên chi nhai, địa chi giác                         天之涯 地之角 
 Tri giao bán linh lạc                                     知交半零落 
 Nhất hộc trọc tửu tận dư hoan                     一觳濁酒盡餘歡 
 Kim tiêu biệt mộng hàn                              今宵别夢寒

Diễn giải bài thơ:

Một túp lều nho nhỏ, khiêm tốn tọa lạc giữa bãi cỏ xanh mướt, bên cạnh một con đường mòn xinh xắn, quanh co uốn khúc đến tận chân trời, xa xa những ngọn núi chồng chất lên nhau, gió đêm nhẹ lay cành liễu vi vu, hòa cùng tiếng kêu não lòng của kẻ ở người đi. Tất cả mọi cuộc tiễn đưa đều không hẹn ngày tái ngộ, trong thời chinh chiến, mỗi một cuộc tiễn đưa là sự vĩnh biệt. Nhấp cạn chung rượu lòng ôn lại tuổi thơ hồn nhiên, vô tư; nghe lòng bồi hồi, xao xuyến để mong được một lần trở về quê xưa, ngồi bên thềm cũ cùng bạn tri giao dốc bầu tâm sự.

Lý Thúc Đồng viết bài thơ trên vào một đêm đông năm 1914, tên bài thơ là "Tổng Biệt", một tuyệt tác bất hủ với thời gian. Có người cho rằng nếu có thể viết được một bài thơ từ như vậy, thì dẫu có chết ngay đi cũng không ân hận. Đó là một sự đánh giá tột bậc đối với Lý Thúc Đồng.

Cuộc đời của Lý Thúc Đồng là một câu chuyện truyền kỳ về mặt nhập thế lẫn xuất thế. Ngài sống trọn vẹn 38 năm với duyên hồng trần; đồng thời công đức viên mãn trong sự tu tập trì giới 24 năm tại cửa Phật thanh tịnh. Nhiều người đều biết, thời niên thiếu Lý Thúc Đồng là một tài tử phong lưu thường tới lui chốn đèn hồng tửu sắc, phù phiếm xa hoa; nửa đời sau lại trở thành một vị cao tăng chân tu trong giới "Luật Tông", một tông môn trì giới nghiêm cẩn, tu hành khắc khổ nhất so với các tông môn khác trong Phật giáo.

Đời sống của Lý Thúc Đồng như truyện thần thoại truyền kỳ đã làm rung động biết bao lòng người kim cổ. Nhiều người vẫn chưa hiểu rõ tại sao Lý Thúc Đồng đang sống trong cảnh giàu sang phú quý lại đột nhiên độn tích Không Môn, dứt khoát đoạn tuyệt với hồng trần, thậm chí người vợ dẫn hai con thơ, nước mắt đầm đìa quỳ trước cổng chùa suốt 3 ngày đêm, Ngài cũng đứt ruột xé gan để dòng nước mắt xóa mờ đi mọi cảnh tượng bên ngoài, nhất quyết không rời phòng thiền để gặp vợ con. Ngài nhất định cắt đứt mọi sự vấn vương với hồng trần tục lụy. Đó là lạnh nhạt bạc bẽo hay là từ bi buông xả. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu câu chuyện của Hoằng Nhất đại sư, sau đó mỗi người sẽ tìm được đáp án của riêng mình.

Hoằng Nhất đại sư tục danh Lý Thúc Đồng, sanh ngày 23-09-1880 trong một gia đình quý phái ở Thiên Tân, một trong bốn thành phố lớn nhất của Trung Quốc. Gia đình buôn bán muối, muối là nhu yếu phẩm hàng đầu dưới sự quản thúc của nhà nước vào thời Mãn Thanh Trung Quốc. Thương gia về nghiệp vụ muối phải là quan lớn hoặc dòng dõi quý tộc. Về sau thân phụ của Lý Thúc Đồng còn kinh doanh nghiệp vụ ngân hàng, tài sản kếch xù, là gia đình giàu nhất tại Thiên Tân. Lý Thúc Đồng là công tử giàu có bậc nhất đương thời, ngay từ khi ra đời đã sống trong nhung lụa. Lý Thúc Đồng thông minh xuất chúng học rất giỏi, sáu tuổi đọc được tuyển tập thơ văn cổ ngữ, tám tuổi đọc tứ thư ngũ kinh, mười ba tuổi thông thạo thư pháp trong lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa Trung Quốc.

Sau khi thân phụ qua đời, Lý Thúc Đồng cùng mẹ đến định cư Thượng Hải. Thượng Hải là thành phố phồn thịnh xa hoa bậc nhất của Trung Quốc. Nếp sống hoa lệ muôn hồng nghìn tía khiến con người quay cuồng trong cơn lốc xa hoa và vòng xoáy của thời đại. Thời trẻ của Lý Thúc Đồng cũng không ngoại lệ, với tố chất thông minh, học giỏi, giàu có, điển trai, đa tài đa nghệ... nên khi vừa đặt chân đến Thượng Hải, Lý Thúc Đồng đã tạo nên một cơn địa chấn, từ phòng trà ca nhạc đến sân khấu kịch nghệ, chàng giao du mật thiết với các nữ nghệ sĩ xinh xắn, đắm chìm trong mê đồ của chốn phồn hoa náo thị. Với con người hào hoa phóng khoáng như vậy, thường dễ đọa lạc vào một nếp sống hoan lạc vô độ. Nhưng với Lý Thúc Đồng thì không hẳn như vậy, lương tri cho chàng cảm thấy sự hoang đàng vô độ trong cuộc vui chơi rượu chè trác táng; ý thức được sự trống vắng thê lương sau khi người tản tiệc tan. Trong cái thân xác vật dục bề ngoài luôn ẩn tàng một linh hồn khao khát tìm về chân lý của cuộc sống. Thế nên, lúc 15 tuổi, Lý Thúc Đồng viết nên hai câu thơ:

Nhân sinh do tựa tây sơn nhật, phú quý chung như thảo thượng sương (人生猶似西山日,富貴終如草上霜.) Đời người ngắn ngủi như mặt trời đang khuất dần vào hướng tây, phú quý mỏng manh tựa giọt sương mai trên ngọn cỏ. 

Người ta thường nói, “thiếu niên bất thức sầu tư vị” (少年不識愁滋味), tuổi trẻ đâu biết vị khổ sầu. Đúng ra 15 tuổi là tuổi mộng mơ, là tuổi chắp cánh dần vào giấc mộng hồng. Tuy nhiên Lý Thúc Đồng lại có tư tưởng ngược với tuổi đời của ông, tựa như ông đã chuẩn bị sẵn hành trang cho một cuộc quật khởi trong tương lai để giã từ với phú quý phồn hoa khi ông vừa ở tuổi 15.

Lúc Lý Thúc Đồng 26 tuổi, được tin mẹ ra đi không một lời giã từ, đau như xé lòng, Lý Thúc Đồng tự đổi tên mình thành Lý Ai (李哀,) Ai là bi ai, để tỏ lòng đau xót của một người con trước sự mất mát quá lớn lao như vậy.

"Còn mẹ nhiều kẻ yêu vì,
Một mai mẹ khuất ai thì thương con."

Qua một cú sốc lớn mất mẹ hiền, và sau khi chu tất việc an tán mẹ năm 26 tuổi, đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời của Lý Thúc Đồng. Từ giã quê hương, Lý Thúc Đồng tìm đường du học sang Nhật Bản, mở rộng tầm mắt học hỏi thêm những tư tưởng trào lưu tân tiến. Ông chuyên tâm về các môn học nghệ thuật văn hóa và trình diễn, đồng thời cũng bắt đầu truy cầu cuộc sống về thế giới nội tâm, ông đem hết tất cả tình cảm, tâm huyết và nỗi sầu nhớ mẹ ký thác vào sự học hành tại chốn xứ lạ quê người.

Năm năm miệt mài trong nghệ thuật hội họa và âm nhạc phương Tây tại Trường Đại Học nghệ thuật Đông Kinh “Tokyo”, đạt được một số thành quả và tiếng vang. Năm 1910, Lý Thúc Đồng trở về nước để khai triển sự nghiệp của mình, cũng trong lúc ấy, việc kinh doanh của gia đình đi vào ngõ cùng, gia đình khánh tận. Kiếp đời mê mang 30 năm, đây chính là lúc Lý Thúc Đồng tỏ rõ tài năng và chí lực của mình để tự tạo cho mình một chỗ đứng vững vàng mà mọi người phải công nhận.

Ông giữ chức dạy học tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Thiên Tân và Trường Nghệ thuật âm nhạc Thượng Hải, đồng thời cũng là chủ bút nhật báo Thái Bình Dương. Người là một nhạc gia nổi tiếng, là một tay thư pháp có hạng, thông thạo về thơ văn, từ phú. Người cống hiến rất nhiều và có thành tựu rực rỡ trong ngành nghệ thuật Trung Quốc. Người ảnh hưởng và đào tạo nhiều nghệ thuật gia nổi tiếng như họa sĩ Phong Tử Khải, âm nhạc gia Lưu Chất Bình, nhà thư pháp Tiền Quân Đào, Đại sư tranh thủy mặc Phan Thiên Thọ… Có thể nói rằng Lý Thúc Đồng đã lên đến tột bậc trong mọi lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật. Tâm lý con người thường cảm thấy bơ vơ cô độc khi đi đến điểm cao nhất của cuộc sống, như chiếc thuyền nan lênh đênh chân trời mặt biển tìm không ra bến bờ.

Một cơ hội ngẫu nhiên khi ở tuổi 39, Lý Thúc Đồng nội trú trong chùa Định Huệ Hàng Châu 17 ngày đêm và tập pháp "đoạn thực"(nhịn ăn một thời gian đặc biệt nào đó trong việc tu hành) để giữ thân tâm thanh tịnh. Trong thời gian này, dưới sự huân tập của tiếng mộc ngư chuông chùa, Lý Thúc Đồng cảm thấy bình yên thanh tịnh và tâm trí như chợt lóe sáng. Nếp sống đạm bạc và trang nghiêm của người xuất gia như thể thức tỉnh tâm hồn đang mê đắm nơi bể khổ trở về cõi yên lành. Người ý chừng thấy được một lối thoát cho sinh mạng vô thường của cõi đời; tìm được một cách sống để thân tâm được an trú trong hồng trần tục lụy.

Ngày 15/01/1918, Lúc 39 tuổi, Lý Thúc Đồng chính thức xuống tóc xuất gia tại chùa Hổ Bào Định Huệ (虎跑定慧寺), quy y Điểu Ngộ pháp sư, được ban pháp danh Diễn Âm, hiệu Hoằng Nhất.

Nửa đời phú quý nửa đời tăng, từ nay không còn Lý Thúc Đồng. Kể từ đó, trên thế gian đã không còn tài tử tuyệt thế Lý Thúc Đồng biết làm thơ, tinh thông âm nhạc, hội họa, thư pháp, hí kịch, triện khắc kia nữa, mà chỉ có Hoằng Nhất đại sư, một trong tứ đại cao tăng nổi tiếng đương thời.

Sau khi quy y cửa Phật, người vợ Nhật dẫn theo đứa con thơ, nghìn dặm xa xôi đến Hàng Châu, ôm theo một tia hy vọng sau cùng, mong chồng đừng bỏ rơi mình mà xuất gia.

Một buổi sớm mai trên mặt nước Tây Hồ sương mù dày đặc, hai chiếc thuyền đi về phía nhau.

Người vợ gọi to: “Thúc Đồng…”

Lý Thúc Đồng: “Xin hãy gọi tôi là Hoằng Nhất”.

“Hoằng Nhất đại sư, xin hãy cho tôi biết yêu là gì?”

“Yêu, chính là từ bi.”

Cuối cùng, người vợ vặn hỏi trong đau đớn: “Đại sư có thể từ bi với tất cả người đời, Tại sao lại chỉ khiến tôi đau khổ?”

Hoằng Nhất đại sư im lặng khá lâu rồi quay mũi thuyền rời đi. Người vợ nhìn chiếc thuyền nhỏ xa dần ôm mặt khóc nức nở.

Đạo đời hai lối, mê giác chỉ là nhất niệm.

Có giác ngộ mới sinh ra lòng từ bi, Đạo Phật chủ trương yêu thương gắn liền với sự giác ngộ. Yêu quý một ai đó thì nên dẫn dắt người ấy hướng về chánh đạo, giúp đỡ người ấy ngày càng hoàn thiện và chín chắn hơn. Trong cuộc sống chúng ta luôn gặp phải những tình huống khó khăn trong sự lựa chọn một giải pháp thích đáng để vẹn toàn cả đạo và đời. Phàm phu thì sống theo duyên nghiệp, trí giả thì tìm giải pháp cho sự cứu cánh của cuộc sống.

Thế gian an đắc song toàn pháp, bất phụ Như Lai bất phụ khanh (世間安得全法,不負如來不負卿). Thế gian làm gì có chuyện mọi thứ đều như ý vừa không phụ lòng chư Phật vừa không phụ lòng giai nhân?

Câu chuyện xuất gia của Hoằng Nhất đại sư khiến tôi nghĩ đến Đức Phật Thích Ca.

Ngài là thái tử của một tiểu vương quốc tại Ấn Độ. Qua trải nghiệm thực tế về sinh lão bệnh tử, Ngài giác ngộ sự vô thường trong cõi đời, sau một thời gian suy ngẫm, Ngài nhất quyết từ bỏ tất cả sự vấn vương của tục lụy: phụ vương, ngôi vàng, vợ con, cuộc sống vinh hoa phú quý và hạnh phúc của một hoàng tử, khoác lên mình chiếc áo vàng của người tu sĩ, từ đó bắt đầu cuộc sống tu hành của người xuất gia cầu đạo. Khi đó Ngài mới 19 tuổi.

Hoằng Nhất đại sư xuất thân tại một gia đình quyền quý ở Thiên Tân, là công tử giàu sang bậc nhất đương thời. Từ nhỏ sống trong hoàn cảnh phú quý nhung lụa, nhưng những biến thiên và tụ tán trong đời sống thăng trầm khiến Ngài ý thức được sự vô thường tạm bợ của cuộc đời. Qua một thời gian suy ngẫm và truy tầm chân lý. Ngài quyết định xuống tóc xuất gia, giã từ tất cả sự phú quý phồn hoa của hồng trần, trở nên một vị chân tu trong giới Luật tông, một tông môn khó tu nhất trong Phật giáo. Khi đó Ngài 39 tuổi.

Theo quan niệm cá nhân của tôi, nhân duyên xuất gia của Phật Đà và Hoàng Nhất đại sư rất giống nhau, cả hai Ngài đều sớm nhìn thấu sự hư ảo của cõi đời và truy tầm sự cứu cánh của cuộc sống. Sau cùng công đức viên mãn, Phật Đà được tôn là Bổn Sư Thích Ca, Hoàng Nhất đại sư trở nên Tổ thứ mười một của Luật Tông Nam Sơn.

Tuy nhiên, một số người vẫn cho rằng sự xuất gia của Phật Đà mang sắc thái từ bi; còn sự xuất gia của Hoằng Nhất đại sư xem chừng như có tính cách nhẫn tâm vì bỏ ngang vợ con.

“Đừng lấy tiêu chuẩn của người khác ra hoạch định cuộc đời mình; đừng lấy tiêu chuẩn của chính mình để phán đoán người khác.”

Thực ra, cuộc sống vốn là một chuỗi dài của sự giã từ, giã từ tuổi xuân, giã từ người thân, giã từ bạn bè, giã từ lợi danh... Tất cả mọi sự gặp gỡ cuối cùng cũng là giã từ, khác biệt chỉ là cách thức của sự giã từ mà thôi. Thực vậy, Chúng ta chẳng biết làm gì hơn là đành chịu khi đối mặt với những sự hợp tan của nhân duyên trong cuộc đời.

Mãi cho đến hiện nay, nhiều người vẫn chưa am tường sự lựa chọn của Hoằng Nhất đại sư, tại sao có thể đang từ chốn xa hoa nhất rồi bước vào cuộc sống nghiêm ngặt nhất. Đối với mọi thắc mắc của người đời, Hoằng Nhất đại sư giữ thái độ im lặng, cúi đầu niệm Phật. Một cánh cửa Thiền chia ra hai thế giới giác mê. Thực ra, cảnh giới của Hoằng Nhất đại sư quá cao, phàm phu tục tử làm sao thấu hiểu, mà cũng không cách nào thấu hiểu.

Trong khi đó, học trò của Hoằng Nhất đại sư là Phong Tử khải có lối phân tích rất hữu lý và cho rằng sự xuất gia của thầy mình là chuyện đương nhiên. Vì nhân sinh của con người, có thể phân thành ba tầng: Một là đời sống vật chất, hai là đời sống tinh thần, ba là đời sống tâm linh. Đời sống vật chất là cái ăn cái mặc, đời sống tinh thần là văn nghệ học thuật, đời sống tâm linh là tôn giáo vậy.

Hoằng Nhất đại sư xuất thân từ gia đình quý phái, không thiếu thốn gì về vật chất, cho nên Ngài tìm đến tầng kế tiếp, Hoằng Nhất đại sư xuất sắc cả về phương diện học thuật, nghệ thuật và mỹ thuật. Tâm hồn của con người sẽ rất cô độc trơ trọi khi mọi lĩnh vực đều đạt đến một đỉnh cao tột bậc. Từ đó Ngài khao khát trong sự truy tầm chân lý của cuộc sống và cội nguồn của sinh mệnh.

Từ mê đến giác, từ phàm nhập thánh, tuy xa mà gần, nó không phải là nghìn trùng xa cách mà chỉ là một niệm trong tâm mà thôi.


Ngày 13-10-1942, duyên đời của Hoằng Nhất đại sư đã đi đến chung điểm, 63 năm không dài, nhưng Ngài để lại cho đời sau nhiều sự tích và gương sáng rực rỡ về tâm linh trí tuệ. Trước khi viên tịch, Ngài để lại bốn chữ "Bi Hân Giao Tập"(悲欣交集), lời ngắn ý dài.

Bi là bi thương (đau xót), hân là hân hoan (vui mừng), Bi Hân Giao Tạp nghĩa là buồn vui lẫn lộn.

Có người nói, Ngài xót thương cho những tháng ngày phóng đãng buông tuồng trong nửa phần đời trước, khi Ngài còn đắm say ngụp lặn trong mê đồ của danh lợi và dục vọng; cũng có người nói Ngài đền bù vì phải chuộc tội cho quá khứ mà Ngài đã cố tình hay vô ý làm tổn thương bao nhiêu người, nên buộc mình lựa chọn Luật tông, một tông môn khắc nghiệt nhất, khó tu nhất trong đạo Phật. Thực ra, tất cả lời giải thích cho sự xuất gia của một vị cao tăng chân tu đều quá miễn cưỡng và gượng gạo.

Nhà Phật bảo: Tứ Đại Giai Không, bất dĩ vật hỉ, bất dĩ kỷ bi (四大皆空,不以物喜,不以己悲). Không vì ngoại vật mà vui, không vì bản thân mà buồn. Chúng ta làm sao đủ trí sáng để hiểu nỗi vui buồn của Hoằng Nhất đại sư. Tuy nhiên, nếu nhìn kĩ bên cạnh "Bi Hân Giao Tập" còn có 3 chữ nhỏ “Kiến Quan Kinh” (見觀經), phải chăng Ngài muốn nhắc nhở người sau, nên căn cứ trên ý nghĩa của Kinh Phật để giải thích 4 chữ này.

Nhà Phật lấy từ bi làm tâm nguyện, Hoằng Nhất đại sư từ bi thương xót những ai giống mình lúc còn trẻ, vẫn đang đắm chìm trong dòng xoáy của danh lợi và vật dục; vui mừng cho mình sớm giác ngộ được chân lý của Phật pháp, để có thể kết duyên từ bi với tất cả chúng sinh trong cõi ta bà.

Câu chuyện truyền kỳ của Hoằng Nhất Đại Sư tựa như Bổn Sư Phật Thích Ca, đều đi từ cuộc sống sung túc nhất đến con đường tu hành khắc khổ nhất, đó là một sự chuyển biến long trời lở đất, cuối cùng đạt đến cứu cánh viên mãn, soi sáng con đường cho người đời sau muốn truy tầm chân lý của cuộc sống.

LT Trường K5
08-23-2023

nguồn : http://tneu.blogspot.com/2023/08/hoang-nhat-ai-su.html