2 thg 4, 2026

CHỬ NGHĨA LÀNG VĂN ky T.1/4/2026 - Ngộ Không Phí Ngoc Hùng

 Chữ nghĩa làng văn


“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.


***


Chữ là nghĩa với địa danh


Châu Ri  gọi là Châu Lý vì chữ Hán không có “R” nên đổi ra “L”..


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Độc lập tự…lo


Dấu xưa xe ngựa... đất Thủ - Bình Dương...


Nhắc đếnhình ảnh chiếc xe ngựa, nhưng trong câu thơ đầyxúc cảm của Bà Huyện Thanh Quan: “Dấu xưa củaxe ngựa hồn thu thảo” thì mênh mông một nỗi u hoài muôn thuở của con người trước sự phế hưng biến đổi: “Nềncũ lâu đài bóng tịch dương”. Còn “dấu xưaxe ngựa...” sắp nói sau đây là nỗi buồn man mác,khi nhớ về chiếc xe thổ mộ (xe ngựa) cụthể, một hình ảnh quen thuộc đã gắn liềnvới cuộc sống của cư dân Bình Dương từnhững năm tháng xa xưa cho đến tận thờigian gần đây. Thế mà hiện nay đã gần như vắng bóng trên đường phố và cả đường làng ở vùng Bình Dương.


Trởlại thời mới khai khẩn miền đất mớiphương Nam, đất Thủ Dầu Một là một trong những cái nôi hình thành chiếc xe thổ mộ ởNam bộ. Trong từ điển tiếng Việt miềnNam, học giả Vương Hồng Sển giải thích:“Xe thổ mộ là chiếc xe do một ngựa kéo dùng chởhàng hóa cho khách bộ hành vùng ngoại ô Sài Gòn, Chợ Lớn,Lái Thiêu” (sđd trang 643). Có nhiều giải thích vì sao xe ngựađược gọi là xe thổ mộ. 


(Hiếu Học - Hoàng Anh)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Môi hở, răng hô


Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả


“Dấu: dấu diếm”.

(Ts Hà Quang Năng/ Ths Hà Thị Quế Hương)


Viết đúng là “ giấu giếm” (“giấu” trong “giấu kín”; không phải “dấu” trong “dấu vết”).


(Hòang Tuấn Công)


Ca dao trữ tình


Cơm chín tới, cải vồng non, gái một con, gà nhảy ổ
Cau phơi tái, gái đoạn tang, chim ra ràng, gà mái ghẹ


Góp nhặt cát đá


Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối


(Bùi Kim Chi – Khảo luận về ca dao, thành ngữ)


Truông 


Truông là đường xuyên ngang một khu rừng.  Ở vùng Dĩ An có truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có truông nhà Hồ. “Thương em anh cũng muốn vô sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang” 

Tại sao lại có câu ca dao này. Ngày xưa truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp ít người dám qua lại.


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam – Hồ Đình Vũ)



image010

Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương   


Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt 
Đi thì cũng dở ở không xong





Cái hay cái dở ở thơ Bùi Giáng


Đêm nay 
Những lứa đôi gặp gỡ 
Để ngày mai 
Ra đời 
Những đứa trẻ mồ côi
(Bertolt Brecht)


Trong bài Bài Thơ Ấy của Trung niên thi sĩ, có hai câu
Viết vào tờ giấy mong manh 
Bao nhiêu tình tự long lanh không lời

Đọc thơ Bùi Giáng là thuốc thử về quan niệm thơ, về mỹ học thi ca. Đã không ai sai nhiều lắm, cũng không ai đúng là bao, khi bình bàn về thơ họ Bùi.Bui Giang - Bo khat bia - 1982

 

(Bò khát bia - tranh Bùi Giáng)



Nhắc về cái tuyệt đỉnh trong thơ Bùi Giáng, độ cao sâu tư tưởng ở trước tác Bùi Giáng nhiều bao nhiêu cũng thấy thiếu; mà chỉ ra những câu thơ dở, những bài thơ tệ, những đoạn văn chán trong chữ nghĩa Bùi Giáng bao nhiêu cũng bằng thừa.
 

(Đỗ Quyên)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Cha ông xưa đúc kết được kinh nghiệm sống và truyền khẩu cho đời con cháu mai sau qua ca dao và thành ngữ...Nay con cháu mai sau đời sau chế tác "lung tung, trống kèn" những thành ngữ, danh ngôn cho riêng họ :

• Chỉ có bia mới hiểu…bụng mênh mông nhường nào

  Chỉ có bụng mới biết…bia đi về đâu


Làm báo văn học ở hải ngoại 


Mai Thảo và tạp chí Văn tục bản tại Hoa Kỳ


Bia - Hop Luu - VG2

Nằm ngay trung tâm ‘Tiểu Sàigòn’, khu building gồm nhiều phòng nhỏ, mỗi phòng được xem như một đơn vị gia cư (chỉ dành riêng cho người già.) Cạnh cầu thang của tầng trên, phía dưới ba con số bằng đồng đã xỉn màu là hai chữ ‘Mai Thảo’ (có lẽ cắt ra từ tạp chí Văn) được dán phủ bằng băng keo trên cánh cửa gỗ nâu sẫm. Cánh cửa luôn đóng kín. Như một qui ước riêng, anh em thân thiết dễ dàng nhận biết ông có mặt bên trong hay không nhờ vào tấm màn cửa sổ kéo ra phân nửa hay phủ kín toàn phần. Một đôi khi cần nghỉ ngơi hoặc không muốn tiếp ai, ông cũng dùng ‘qui ước’ đó thay lời tiễn khách.


Bên trong, một giường cá nhân kê song song sát tường nhìn ra cửa chính. Chỗ chân giường, một kệ gỗ thấp trên đặt vài ba chiếc cốc, cái phin lọc cà phê, chiếc ấm sắt cũ, gói mì ăn liền, cuốn sách, tập báo... Dưới gầm kệ: chiếc lò điện tuổi tác chắc không kém cái ấm nước, đôi dép da... Bàn viết sau cửa sổ, trên mặt bàn, những trang bản thảo đang viết dở (thường là mục ‘sổ tay’) nằm ngay ngắn, thường trực, để có thể bất cứ lúc nào cũng cập nhật được những tin tức liên quan đến văn học, thời sự trong chu kỳ một tháng. Trọn vì tường phía tay phải nhìn vào từ cửa chính là ba bốn hàng gạch chồng lên nhau, gác ngang qua bằng những tấm ván dài, kín đầy sách. Đa số sách tiếng Việt của văn hữu hoặc nhà xuất bản gửi tặng, xen kẽ vài mươi cuốn sách Pháp. Chiếc tủ lạnh loại cá nhân đặt gần cánh cửa nhỏ ngăn chia ‘phòng khách’ và buồng vệ sinh, phía trên hàng chục chai rượu đã uống cạn, một hai chai đang uống dở. Rải rác trên những mặt tường còn lại, nhiều chân dung (ảnh chụp, sơn dầu, phác thảo mực Tàu) của nhà văn do thân hữu thực hiện xen kẽ những ấn bản tranh Van Gogh, Gauguin, Miro, Matisse...

Căn phòng chỉ vỏn vẹn mười sáu thước vuông, kể cả buồng vệ sinh. Chật. Nhưng tất cả đều ngăn nắp, trật tự, sạch sẽ.


Đó là ‘toà soạn’ tạp chí Văn.


(Khánh Trường)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Cha ông xưa đúc kết được kinh nghiệm sống và truyền khẩu cho đời con cháu mai sau qua ca dao và thành ngữ...Nay con cháu mai sau đời sau chế tác "lung tung, trống kèn" những thành ngữ, danh ngôn cho riêng họ :

• Trăm năm bia đá cũng mòn

  Ngàn năm bia rượu  vẫn còn trơ trơ


Sử gia Nguyễn Đình Đầu buồn vì sách…


Học giả Vương Hồng Sển:

“Trương Vĩnh Ký, Trương Minh KýHuỳnh Tịnh Của là ba ông minh triết bảo thân, gần bùn mà chẳng nhuốm mùi bùn, không ham "đục nước béo cò" như ai, chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất Tào mà lòng giữ Hán, thác không tiếng nhơ, thấy đó mà mừng cho nước nhà những cơn ba đào sóng gió hiếm người xứng danh học trò cửa Khổng”.


Nhà văn Sơn Nam:

“Ông Trương Vĩnh Ký từ khi đỗ đạt cho đến khi mất vẫn tỏ ra thân Pháp. Tuy nhiên, người ở miền Nam không bao giờ khinh rẻ ông. Ông không gia nhập Pháp tịch; trước khi mất, ông biết thân phận của người học giả sống trong thời kỳ khó khăn...Ông này khi sanh tiền tuy là nhà nước tin cậy mặc dầu chớ chẳng hề ỷ thế mà hại quê hương, chỉ vẽ cho các quan Lang sa biết phong tục lễ nghĩa của con nhà An Nam, cho khỏi chỗ mích lòng nhau, làm cho mẹ gà phải thương con vịt. Đêm ngày lo đặt sách này dịch sách kia cho kẻ hậu sinh dễ học. Thiệt là quan thầy của cả và Nam Kỳ..


Ngoài những tác phẩm biên khảo mang tính cách bác học, ông còn chú ý đến độc giả bình dân, lời văn theo lời ăn tiếng nói thông dụng lúc bây giờ. "Chuyện đời xưa" của ông cùng là "Chuyện giải buồn" của Huỳnh Tịnh Của hãy còn được nhắc nhở”


Giáo sư Thanh Lãng:

“Trương Vĩnh Ký không đạo mạo, không đài các, không cao kỳ; ông trai trẻ hơn, ông mới hơn...Và nhờ ông, câu văn Việt được giải phóng khỏi những xiềng xích chữ Hán

Chủ trương của ông chính là "cách nói tiếng An Nam ròng" và viết "trơn tuột như lời nói". Nếu đem phân tích theo ngữ pháp thì thấy lôi thôi, nhưng so với văn xuôi khác ra đời sau ông 20, 30 năm, văn ông vẫn còn hay hơn, mạch lạc khúc chiết hơn”


Học giả Nguyễn Văn Tố tóm tắt sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký gọn trong 3 tiếng bác học, tâm thuật, khiêm tốn.


(Đoàn Lê Giang)


Ngẫm chuyện hồi xưa


giáo sư Hoàng Xuân Hãn, bộ trưởng Giáo dục và Mỹ Thuật

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tháng 6 năm đó vua Bảo Đại ban hành chương trình cải cách giáo dục. Chương trình này do giáo sư Hoàng Xuân Hãn, bộ trưởng Giáo dục và Mỹ Thuật thời đó chủ trì. Chương trình được soạn thảo chưa đầy 3 tháng với một hội đồng biên soạn đâu đó chỉ gồm 13 hay 14 vị chuyên viên. Chẳng cần dạy nháp hay dạy thí điểm, cũng chẳng cần chờ xin ý kiến thủ tướng (lúc đó là ông Trần Trọng Kim), hay hoàng đế gì cả, chương trình cứ thế đem áp dụng luôn, và áp dụng ngay cho khóa thi tú tài năm đó, niên khóa 1944-1945. 


Đây là khóa thi tú tài bằng tiếng Việt đầu tiên của chương trình trung học Việt Nam, trước đó học và thi tú tài bằng tiếng Pháp. Chương trình này được giới chức sau này gọi là “chương trình Hoàng Xuân Hãn” để ghi nhớ người chủ trì.

Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) – Làm bằng cái tâm, bằng cả tấm lòng với sự nghiệp giáo dục, ai mà nói nổi.


(Vũ Thế Thành)


Hoang Xuan Han

Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, quê làng Yên Hồ, huyện La Sơn, nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Năm 1928, ông đỗ thủ khoa kỳ thi tú tài toàn phần và sang Pháp.. Năm 1930, Hoàng Xuân Hãn đỗ vào trường École normale supérieure và Trường Bách khoa Paris. Hoàng Xuân Hãn chọn học trường Bách Khoa. Trong thời gian này ông bắt đầu soạn cuốn Danh từ khoa học. Năm 1945, ông bắt đầu nghiên cứu truyện Kiều. Năm 1949, Hoàng Xuân Hãn xuất bản Lý Thường Kiệt.


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Cha ông xưa đúc kết được kinh nghiệm sống và truyền khẩu cho đời con cháu mai sau qua ca dao và thành ngữ...Nay con cháu mai sau đời sau chế tác "lung tung, trống kèn" những thành ngữ, danh ngôn cho riêng họ :

Bia đá,…bia ôm, bia nào cũng vậy

  Làm sao em biết…bia đá không say?


Lưu Trọng Lư


Quả đúng vậy, và nếu chọn một bài thơ thơ nhất của ông, nghĩa là ngoài thơ ra, nó không có gì bấu víu, thì đó chính là Tiếng thu. Đây là bài hay nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư, cũng là bài thơ… thơ nhất của thi ca hiện đại: 
Em không nghe mùa thu 
Dưới trăng mờ thổn thức? 
Em không nghe rạo rực 
Hình ảnh kẻ chinh phu 
Trong lòng người cô phụ 
Em không nghe rừng thu 
Lá thu kêu xào xạc 
Con nai vàng ngơ ngác, 
Đạp trên lá vàng khô... 

Bài thơ vẻn vẹn có 9 câu, chia làm ba đoạn, mỗi đoạn lại so le, các ý trong bài thơ rời rạc, khấp khểnh, chẳng ý nào ăn nhập với ý nào. Nếu cứ theo cách hiểu máy móc của những nhà phê bình quen thói bắt bẻ, cứ đè thơ ra mà tìm tư tưởng, tìm ý nghĩa thì đây là bài thơ Đầu Ngô mình Sở. Đã thế, tác giả còn tỏ ra vụng về, tỳ vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tí nào, nó như câu văn xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông: 
Hình ảnh kẻ chinh phu 
Trong lòng người cô phụ 

(Chân dung và đối thoại - Trần Đăng Khoa)


Tiểu sử : Trần Đăng Khoa sinh ngày 28.4.1958 tại Nam Sách, Hải Dương. Hiện ở Hà Nội.Bia - Tran Dang khoa - B

Tác phẩm: Chân dung và đối thoại (ký: Bình luận văn chương) - Đảo chìm (truyện dài) - Thơ: Từ góc sân nhà em - Biển và em…


T.T.Kh. và chuyện tình thơ “Hai sắc hoa ti gôn”


Kể từ đó, năm 1937 – năm Hai sắc hoa ti gôn xuất hiện trên Tiểu thuyết thứ bảy - Bây giờ đã là hơn 70 năm rồi mà người ta vẫn không ngớt tìm kiếm: T.T.Kh. là ai ? Nghĩ cho kĩ nguyên nhân thì sở dĩ có chuyện rộn rã trong làng thơ như thế trước hết là vì bài thơ hay, hay vì cái tình của nó được bộc lộ rất “thực“, cái tình của một phụ nữ đã yêu và rồi cố tình quên đi, đào sâu chôn chặt mối tình đau xót, bất hạnh nhất của mình


Bài thơ hay ngay ở  những câu thơ đầu cho đến cuối bài thơ thì xót xa. Có câu, ý thơ bình dị, gần với suy tưởng, ngôn ngữ của con người nên nhiều người đọc, nhiều người thuộc, nhiều câu lại được cách điệu mang dáng vẻ hiện đại của thơ phương Tây:

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,

Trời ơi! Người ấy có buồn không?

Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ,

Tựa trái tim phai, tựa máu hồng ? 

 

Trong cuộc đời, mỗi ngày qua lại có biết bao mối tình tan vỡ nhưng đã có mấy ai viết được những vần thơ tả tình rất thực như Hai sắc hoa ti gôn ? Tình trong thơ gần gũi với cái tình chung của nhiều người, có mấy ai là không chép chuyền tay cho nhau những bài thơ hay trong đó Hai sắc hoa ti gôn có lẽ là bài thơ không thể thiếu trong những cuốn sổ tay.


(Nguyễn Cẩm Xuyên)


Ba Giai Tú Xuất là ai?


Hai nhân vật có thật ở Hà Nội và Hà Đông vào những năm đầu thế kỷ XX và trở thành câu tục ngữ trong dân gian: “Thứ nhất Ba Giai, thứ hai Tú Xuất” Nhà nghiên cứu Vũ Văn Luân còn mong muốn: “Bản thân Ba Giai - Tú Xuất đã được khảo cứu là người thật, việc thật có tên tuổi, gia đình rõ ràng nên cần xác định lại các truyện nào là do các ông gây ra, các truyện nào là do dân gian lấy cảm hứng từ các ông mà phóng tác thêm... Bởi có nhiều chuyện phóng đại đến mức tai quái... có thể làm tổn hại đến nhân cách nhân vật và mất đi tính giáo dục”.


“Ba Giai” một người lãng mạn giang hồ, tinh ma quỉ quái, đã kết đảng với Tú Xuất mà gây nên không biết bao nhiêu truyện quái ác, tức cười. thậm chí đi đến dâu thiên hạ cũng phải gờm mặt mà đặt cho cái tên là “Quái kiệt Hà Thành”, là “Tràng An tứ quỉ”. Sách còn liệt kê những ‘chức’ giang hồ mã thượng và Ba Giai phải chăng thuộc phường thảo khấu nhưng tại sao người người đọc truyện vẫn ‘mê’ bởi tính chọc cười từ quan lại đến sư vãi… rất trí tuệ của ông.

Còn “Tú Xuất” lại là dòng dõi nho sĩ, học vấn uyên bác, biện luận hùng hồn, trí mưu mẫn tiệp như thế mà lại không chịu lập lấy công danh để rạng rỡ môn nha, hiển vinh thê tử? Cái đó chẳng qua ở trong còn nhiều ẩn tình khiến cho ông phải chán đời, mà liều lĩnh qua loa cho hết kiếp. Nếu ai không xét kỹ mà vội buộc tiếng không hay, thì thực là oan cho ông lắm”.

(Nguyễn Tý)


(xem tiếp kỳ tới)


Phố phuờng Hà Nội


Tôi lặn lội kiếm sống giữa đất Hà Nội nhốn nháo. Có lúc bâng khuâng. Pho Hang Duong


(Phố Hàng Đường)


Có lúc đứng lại cả buổi ngẩn ngơ ngắm tủ kính hàng vải vóc hiệu Tây quăn cuối hàng Đường và cửa hàng tạp hóa Tây lùn mở số quay có thưởng ở chợ hàng Da. 

Có khi lang thang suốt đêm nghe tiếng đồng hồ quả lắc các phố hàng Đào, hàng Ngang đánh chuông chen nối nhau đầu phố cuối phố. Hàng đàn chuột chạy 2 bên cống. Một lúc thấy hiện ra những bóng người đứng đập cửa chan chát rồi gọi: Đổ thùng, đổ thùng!. Thật rõ đấy là tiếng gọi "đổi thùng, đổi thùng", phu đổi thùng xia của nhà thàu Năm Diện đã đi làm. Vừa đúng nửa đêm. 
Đến lúc trời sắp sáng, rồi trời sáng. 

Quanh bờ hồ Gươm, trên chòm lá cây cọ, những đàn sếu, đàn mòng két phương xa về đậu đen ngòm. Trên bờ tường đá nhà pha Hỏa Lò, nhô lê cái mặt đen sì của người lính da đen bên đầu lưỡi lê sáng trắng. Đã đến giờ đổi tan canh. Năm trước còn trông thấy cả đôi giầy người lính gác bồng súng đi dạo trên mặt đường chăng dây điện cắm mảnh chai lởm chởm. Bây giờ không thấy nữa. Bức tường quanh nhà tù Hỏa Lò mới được xây cao thêm, có đến 1 thước, giờ vẫn còn hằn cái ngấn xi măng. 
 

(Tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường – Tô Hòai)


Phở


Tuổi 100 năm của phở được khẳng định qua cuộc “tầm nguyên” trong các cuốn tự điển Việt. Tìm cuốn tự điển giải thích đầu tiên của nước ta bằng tiếng Nôm “Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa” do hoàng hậu Trịnh Ngọc Thị Trúc (1576 - 1657), một nữ danh sĩ đương thời biên soạn chưa hề có dấu vết của phở.


Giáo sĩ Alexandre Rhodes (1593 - 1660) tuy đã ở Đàng ngoài và Đàng trong tới 5 năm, song ông chưa biết đến khái niệm phở để đưa vào tự điển Việt - Bồ-La của mình xuất bản vào năm 1651. Tiếp theo, những từ điển điển hình khác như tự điển Huỳnh Tịnh Của (1895). Phải chờ tới tự điển của Hội khai trí Tiến Đức (1930), từ phở mới chính thức trình làng và được ghi rõ: “... Món đồ ăn bằng bánh, thái nhỏ nấu với thịt bò” và có ghi thêm cả phở xào, phở tái. Gustave Hue lại bổ sung thêm vào tự điển 1937 từ “cháo phở” và cả cái “mũ phở”, biểu trưng một thuở cho phở gánh Việt.

 

Cho tới tận 1957, danh từ phở đã được hoàn chỉnh trong tự điển của Eugene Gouin với đủ cả “phở bắc, phở bò, phở gà, phở chín, phở tái...”. Bằng chứng này củng cố thêm cho luận chứng phở chỉ có thể sinh ra trong khoảng từ 1900 -1910, hay nói một cách khác cho phép ta đoán định chính xác về 100 năm phở Việt.


(Nhiều tác giả)


Văn hóa ẩm thực


Thịt cầy Sài Gòn: 36 nẻo


Theo một vài tài liệu xưa thì người Việt ở phía Bắc đã ăn thịt chó từ 10 ngàn năm nay, nhưng suốt lịch sử hành phương Nam trong năm bảy trăm năm qua, người Việt ở phương Nam lại không mấy mặn mà với món 'vương nhục' này. Cụ thể là tại Sài Gòn, những quán thịt chó xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 30-40 của thế kỷ trước, và cũng chỉ bó hẹp trong cộng đồng những người Bắc vào Nam lập nghiệp, làm thuê làm mướn. Trước 1975, tại một vài xóm đạo, chợ Ông Tạ, giáo xứ Tân Hương ở Tân Bình và Thủ Đức,… những 'tông đồ' có thể tìm cho mình những thứ khoái khẩu, nguyên zin với cách pha chế được bê nguyên từ phương Bắc vào. Vậy là khi nói về thịt cầy Sài Gòn ngày nay, là nói về cái cột mốc 1975, khi nhiều người ở đây bỏ xứ ra đi tìm tự do; và nhiều người khác từ miền Bắc thiên di vào Sài Gòn tìm đất sống.


(Lý Đợi


Sài Gòn năm xưa


vuonghongsen-05

Học giả tiền bối trong Nam, cụ Trương Vĩnh Ký, trong "Excursions et Reconnaissances" (tạp chí về du lãm và thám hiểm), năm 1885, có viết một bài khảo cứu Pháp Văn "Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs" (ký ức lục khảo về lịch sử Sài Gòn và vùng phụ cân).


Nay tôi dựa theo bài ấy làm nồng cốt mà kể tiếp, nhắc lại những sự biến đổi từ thưở đó. Bắt tay vào việc, cốt ý của tôi là muốn cống hiến ra đây mớ hiểu biết lụn vụn và mớ nghe thấy vặt vãnh về Sài Gòn. Ở đây, tôi chú trọng nhiều nhứt là những đoạn sử buổi giao thời: Pháp - Nam, những việc chưa ai nói rõ ràng, may tôi được nghe tận tai, hoặc thấy tận mắt, nhiều đoạn do hiểu biết riêng, lắm đoạn nhờ các cố lão thuật lại. Tôi không dám chắc đúng cả, nhưng "ăn trầu gẫm mà nghe" bây giờ chưa nói còn đợi lúc nào? Có nói có cãi, lần hồi mới phăng ra sự thật.


Tôi không quên cám ơn anh bạn thân Lê Ngọc Trụ, người nhau rún Chợ Lớn, đã dày công giúp tôi xây dựng tập nhỏ nầy.


(Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển)


Về cơm thố Chợ Cũ năm xưa  


Nay nói về cái thố hấp cơm


Thố là dụng cụ để đựng bằng sành sứ, là đồ dùng trong gia đình như chén, dĩa, tô, tộ. Thố có nhiều cỡ kiểu, có loại có quai/ không quai, có loại có nắp/ không nắp. Ngày xưa, nhà giàu ở miền Tây thường hay chưng một cặp thố kiểu loại lớn, trên bàn thờ trông cho sang.


Thố kiểu nhỏ được dùng đựng nước cúng, đơm cơm, đựng cơm rượu xôi vò v.v.. dọn trên bàn thờ trong ngày giỗ, ngày Tết. Thố bằng sành thì được dùng để hấp cơm, tiềm thuốc bắc. Thố kiểu làm bên Trung Hoa, còn thố sành được làm ở Bình Dương.


Nồi và xửng hấp cơm thố cũng rất đặc biệt


Nồi to, trong nồi đặt cái xửng lớn có hai, ba từng hấp, xửng đan bằng tre có nhiều lỗ thoát hơi lớn bằng ngón tay cái. Phần chứa nước sôi của nồi hấp có chỗ tiếp thêm nước nóng mà không cần dời các từng chứa cơm, tránh không làm cho cơm bị “hót hơi.” Các thố cơm sắp thưa và đều trong mỗi từng hấp để còn chỗ cho hơi nước bốc lên từng trên cùng.


(Trần Văn Chi)


Chữ nghĩa đầu đường cuối ngõ 


Hồi xửa hồi xưa … có một Sài gòn người ta gọi cà phê là “cà phe”, đi uống cà phê là đi uống “cà phe” với giọng điệu rất là ngộ nghĩnh. Tiếng Tây gọi cà phê là Café, tiếng Anh là Coffee nhưng mấy xì thẩu Chợ Lớn thì gọi là “cá phé”.


Vậy thì café, coffee, cà phê, cà phe hay là cá phé muốn gọi sao gọi nhưng ai cũng hiểu đó là món thức uống màu đen có hương vị thơm ngon, uống vào có thể tỉnh người nếu uống quá đậm có thể thức ba ngày không nhắm mắt…


Trở về thập kỷ 50 : cà phê vớ


Năm một ngàn chín trăm… hồi đó người Sài gòn chưa ai biết kinh doanh với nghề bán cà phê cả. “Xếp sòng” của ngành kinh doanh… có khói nầy là do các xếnh xáng A Hoành, A Coón, chú Xường, chú Cảo… chủ các tiệm hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại. Vô bất cứ tiệm hủ tíu nào vào buổi sáng cũng có bán món cá phé, cà phê, cà phe đi kèm để khách có thể ngồi đó hàng giờ nhăm nhi bàn chuyện trên trời dưới đất.9-ca-phe-sg-2


Hồi đó chẳng ai biết món cà phê phin là gì đâu ? Các chú Xường, chú Cảo, A Xứng, A Hía chỉ pha độc một loại cà phê vớ. Một chiếc túi vải hình phểu được may cặp với một cọng kẻm làm vành túi và cán. Cà phê bột đổ vào túi vải (gọi là bít tất, hay vớ đều được). Vì chiếc vợt cà phê nầy hơi giống như chiếc vớ dùng để mang giày nên “dân chơi” gọi đại là cà phê vớ cho vui.

Chiếc vớ chứa cà phê nầy sau đó được nhúng vào siêu nước đang sôi, lấy đũa khuấy khuấy vài dạo xong đậy nắp siêu lại rồi… “kho” độ năm mười phút mới có thể rót ra ly mang ra cho khách. Chính cái “quy trình” pha chế thủ công đầy phong cách Tàu nầy mà dân ghiền cà phê còn gọi nó là cà phê kho bởi chỉ ngon lúc mới vừa “kho nước đầu”. Nếu ai đến chậm bị kho một hồi cà phê sẽ đắng như thuốc Bắc.


Có những con đường qui tụ nhiều tiệm cà phê hủ tíu. Ở Chợ Cũ có đường Mac Mahon (đọc là đường Mạc Má Hồng) có rất nhiều tiệm cà phê kho từ sáng đến khuya. Khu Verdun – Chợ Đuỗi cũng đáng nể bởi cà phê cà pháo huyên náo suốt ngày. Ở bùng binh Ngã Bảycó một tiệm cà phê hủ tíu đỏ lửa từ 4 giờ sáng cho đến tận 12 giờ đêm. Còn nếu ai đi lạc vào khu Chợ Lớn còn “đã” hơn nhiều bởi giữa khuya vẫn còn có thể ngồi nhăm nhi cà phê, bánh bao, bánh tiêu, dà – chả – quải đến tận sáng hôm sau.


(Thú vui tao nhã của người Sài Gòn – Khuyết danh)


Thử tìm hiểu tên "Sài Gòn" 


Đại Nam Quốc Âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của viết: Sài tức là củi thổi. Gòn tên loại cây có bông nhẹ xốp, nhẹ, trong Nam hay dùng để dồn gối, dồn nệm, ngoài Bắc gọi là cây bông gạo (kapok, kapokier). Dưới thời đại Cam-bốt, Sài Gòn ở giữa rừng (Prei Mokor ). Vịn theo thuyết này danh từ “Sài Gòn”, trước định do “Prei Nokor” là “rừng gòn” không vững. Nay nên dịch “lâm quốc” đúng hơn. Tóm lại. danh từ “Sài Gòn” không ắt do điển “Prei Nokor” mà có.

 

Khi Tây Sơn (1773), kéo vào Nam, thuận tay, họ bèn quét đuổi quân Tàu ra khỏi Cù lao Phố (Biên Hòa) là nơi tàn quân Minh đến lập cơ sở từ năm 1680. Khi ấy, những khách thương Tàu mất chỗ bèn rút lui theo con sông Tân Bình (Bến Nghé), họ nhắm xem địa thế, lựa vùng đất ở giữa chẹn đường Mỹ Tho đi Cù lao Phố mà xây dựng tân sở, tân sở này sau trở nên Chợ Lớn ngày nay vậy


Họ lấy đất đắp thêm bờ kinh chỗ mới thêm cao ráo và kiên cố. 

Và họ đặt tên chỗ mới là “Tai-Ngon”, hoặc “Tin-Gan”, mà phát âm theo giọng Quảng Đông thì nghe ra “Thầy Ngồn” hay “Thì Ngòn”. Xét theo mặt chữ, thì “Thầy Ngồn”, “Thì Ngòn” đọc theo giọng Việt là “Đề Ngạn”: Đề, Đê: là cái bờ, cái đê ngăn nước. Ngạn:bờ sông cao dốc. Đề Ngạn là vùng Chợ Lớn cũ ngày nay, là xóm Quảng Đông Nhai chỗ miếu Quan Đế


(Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển)


Cua cáy phiếm lược - cua Alaska (1)


Mõ sớm chuông chiều vì ngày nào mới nhi bất hoặc đã cổ lai hy. Thế nên tầm khảo tôi ngộ chữ với bạn già rằng, thì, mà, là…là giối, biến thể ngữ âm của trối. “Giối già” hay “trối già” là làm việc gì được coi như là lần cuối trong đời. Còn “dối già” là làm việc gì để nhân sinh quý thích chí trong tuổi già. Vì vậy một ngày, để “trối già” là làm việc gì được coi như là lần cuối trong đời, tầm khảo tôi quá giang “cruise” Royal Caribean lềnh bềnh trên Thái Bình Dương lên Alaska gặp người Eskimo. Bởi khi xưa và cho đến nay người Eskimo ở vùng Chukukta có “hủ tục” hiếu khách, buồn buồn đức ông chồng mang vợ ra …“đãi” khách bởi…cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ.  

Cho đến nay người Eskimo ở Chukukta vẫn còn “hủ tục” hiếu khách ấy. Nghe rồi, bạn già lậu bậu hãy mang theo hành trang, quá quan chiều vắng, chân mây địa đàng


Ở trên cruise, bạn già xứ Gò Công căng tai ra nghe tầm khảo tôi vật lên những cái tên cua: Cua Alaska có Snow crab hay Spider crab (cua nhện), Queen crab (cua Hoàng hậu), King crab (cua Hoàng đế). 


scarlet king crab

Scarlet King crab - Loài cua hiếm gặp 


Cả hai loại cua sau được tìm thấy nhiều ở biển bắc Thái Bình Dương vùng biển Bering (1), Alaska. Cua Alaska là loại cua lớn nhất thế giới, cả về kích thước lẫn giá trị mà loài cua này đem lại. Trọng lượng cua Alaska  khoảng 2-4 kg, kỷ lục lên đến 9-10 kg/con nhưng số này cực kỳ hiếm. Về kích thước, càng cua dài cả thước, với giá thì một con cua Alaska giá cả mấy trăm đô.


(xem tiếp kỳ tới - Cua cáy phiếm lược – cua Alaska - 2)


Ẩm thực miền Bắc


Nem rán


Nem rán là món ăn không thể thiếu trong ngày lễ tết, giỗ chạp hay trong bữa cơm gia đình sum họp. Với các loại nguyên liệu đơn giản như mục nhĩ, thịt bằm, nấm hương, trứng, hành, miến, cà rốt, su hào…trộn đều với gia vị được cuốn trong những tấm bánh đa nem tráng mỏng, cho vào chiên giòn.


Ẩm thực miền Bắc, tinh hoa văn hóa ẩm thực lâu đời  - Ảnh 7.


Là đã cho ngay những miếng nem rán thơm ngon nức mũi, khi ăn vỏ ngoài nem giòn rụm, hương vị ngọt của các nguyên liệu, chấm cùng nước chấm chua ngọt ăn rất đã.


Hữu Loan và Hà Thượng Nhân - 1


Nhưng qua nhà thơ Hà Thượng Nhân ở San Jose và mới đây qua nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự cũng qua thăm bà con ở Mỹ, thì tôi lại được biết thêm chi tiết về cuộc sống của anh Loan. Ông lão nay đã ngoài 90 tuổi rồi, mà vẫn còn minh mẫn, cương nghị như hồi nào. Ðọc trên Internet, tôi thật phấn khởi được biết anh vẫn sống thanh thản nơi quê hương Thanh Hóa cùng với đại gia đình rất đông con, cháu, chắt và đặc biệt người vợ đã tận tình chia xẻ cay đắng, ngọt bùi với anh trên nửa thế kỷ nay.


Ðối với tôi, Hữu Loan là một nhân cách thật lớn lao, kiên cường đã giữ vững được tiết tháo liêm sỉ của người sĩ phu trí thức theo đúng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc chúng ta. Tôi thật may mắn được quen biết thân thương với những bậc đàn anh vừa có tài năng, vừa có tư cách đáng quý, đáng trọng như Hữu Loan, như Hà Thượng Nhân, như Doãn Quốc Sỹ...

Xin cầu chúc anh và gia quyến luôn được mọi sụ an lành tốt đẹp.


(Ðoàn Thanh Liêm)


Bia - Ha Thuong Nhan

Tiểu sử: Hà Thượng Nhân tên thật: Phạm Xuân Ninh

Bút hiệu Hà Thượng Nhân. 

Sinh năm 1919, tại Hà Thượng, Thanh Hóa.

Mất ngày 11-10-2011 tại San Jose, California.

Tác phẩm: thơ Hà Thượng Nhân, Bên trời lận đận.



Góp nhặt cát đá bên đàng


Mâm cơm cúng ở đình làng phải có đài rượu (Vô tửu bất thành lễ), mâm xôi, con heo hay gà  trái cây. Con heo cúng phải là " con heo toàn sinh (thịt sống cạo lông sơ qua) ", xôi tế phải là gạo toàn nếp trắng tinh. 


Rượu thịt dâng lễ xong thì dân làng cùng ăn tại đình hoặc làm phần chia cho cả làng. Người dân rất quí " Miếng thừa lộc thánh " tức miếng phần việc làng nên thường nói: "Miếng việc làng hơn sàng xó bếp ".


Hữu Loan và Hà Thượng Nhân - 2


Nhưng qua nhà thơ Hà Thượng Nhân ở San Jose và mới đây qua nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự cũng qua thăm bà con ở Mỹ, thì tôi lại được biết thêm chi tiết về cuộc sống của anh Loan. Ông lão nay đã ngoài 90 tuổi rồi, mà vẫn còn minh mẫn, cương nghị như hồi nào. Ðọc trên Internet, tôi thật phấn khởi được biết anh vẫn sống thanh thản nơi quê hương Thanh Hóa cùng với đại gia đình rất đông con, cháu, chắt và đặc biệt người vợ đã tận tình chia xẻ cay đắng, ngọt bùi với anh trên nửa thế kỷ nay.


Ðối với tôi, Hữu Loan là một nhân cách thật lớn lao, kiên cường đã giữ vững được tiết tháo liêm sỉ của người sĩ phu trí thức theo đúng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc chúng ta. Tôi thật may mắn được quen biết thân thương với những bậc đàn anh vừa có tài năng, vừa có tư cách đáng quý, đáng trọng như Hữu Loan, như Hà Thượng Nhân, như Doãn Quốc Sỹ...

Xin cầu chúc anh và gia quyến luôn được mọi sụ an lành tốt đẹp.


(Ðoàn Thanh Liêm)


Câu đối phúng

 

Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tưởi chân nam chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc.


Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ, gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm. 


(Câu đối khóc vợ - Nguyễn Khuyến


Địa danh 


Vi sự hạn chế trong kỹ thuật in ấn vào thập niên 20 là thủ phạm làm biến đổi không ít các địa danh tiếng Việt trên đất nước mình. 


Chẳng hạn, làng Hương Bì dưới chân dãy núi Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh, được viết không dấu thành Huong Bi

Trong tiếng Pháp, chữ H không được phát âm (H muet: H câm), nên tên làng Hương Bì trở thành Uong Bi, để dần dà thành ra Uông Bí.  


Tương tự như thế, một địa danh Hồng Hải, biến thành Hòn Gai.


(Thiếu Khanh)


Phỏng vấn nhà văn Song An Hoàng Ngọc Phách


- Nói thế không phải tiểu thuyết của tôi là một truyện thật một trăm phần trăm như nhiều người đã bảo. Họ cứ cho Tố Tâm là người ở phố này, phố nọ... Ngay khi tôi còn ở trường Cao đẳng, nhiều bạn hỏi tôi: “Tố Tâm là ai?” Tôi chỉ cười mà không đáp. Có nhiều lần, có bạn tinh nghịch giấu những vật thiết dụng hàng ngày như sách vở, quần áo, có khi giấu cả bài luận Pháp văn sẵn phải nộp để “bắt cóc tôi” phải nói Tố Tâm là ai... 

Lại sau này, một hôm trẩy hội chùa Hương, mươi mười lăm anh em thư sinh đương lênh đênh trong hai chiếc thuyền trên sông Phủ Lý. Đêm khuya, trăng sáng, các bạn đang cùng nhau ngắm cảnh, một bạn ngâm một câu trong truyện: “Mênh mông sóng gợn chân trời”, “Ấy ai du tử, tức người đào nguyên”... Một bạn nhớ ra, đề nghị: “Đem ngâm Song An xuống nước, khi nào cho biết hết chuyện thật về Tố Tâm mới cho lên...”


Nhân đây, tôi xin trả lời chung các bạn đọc thân yêu. Chuyện đời có đâu giống hẳn như tiểu thuyết. Người chép truyện tất phải thêm bớt ít nhiều cho truyện có mạch lạc, có cấu kết. Nhưng chép tâm lý lại bịa truyện ra thì không có nghĩa lý gì cả. Đã là phân khảo một việc ở cõi lòng thì việc đó tất phải biểu hiện, nhân vật phải có thật, và những điều phát động như thư tín, văn thơ trong truyện đều phải có. Nếu không, chuyện của mình chỉ là một lâu đài bằng giấy dựng ở quãng không gian, đứng vững sao được với gió mưa, ngày tháng. Tóm lại, truyện Tố Tâm có thật, nhưng không thật hẳn trăm phần trăm.


- Tiên sinh có thể cho biết dư luận đối với quyển Tố Tâm khi mới xuất bản.

 - Có lẽ nó ra đời vào lúc người mình đang chờ một tiểu thuyết như thế. Tiểu thuyết của tôi được mến chuộng. Có nhiều người tôi tưởng không khi nào đọc đến sách mà cũng hỏi tôi. Người ta nói đến tôi luôn ở chỗ đông người, có ai nói đến tên tôi là thấy nhiều người thì thào, chỉ trỏ, nom hình như tôi đã phạm một lỗi gì. Người ta giới thiệu tôi, thường chỉ nói đến tên quyển sách. Hồi đó, tôi nhận được rất nhiều thư của các độc giả; người hoan nghênh cũng lắm; người công kích cũng nhiều. Phái thứ hai này, phần đông là các ông thủ cựu, người ta chê phần luân lý của quyển truyện và kết cấu quá buồn.


Ông tính, một quyển sách kiệt tác như quyển Kiều mà người ta còn cho là dâm thư, huống chi quyển Tố Tâm, không trách có người cho là “vô đạo”.

Nhưng dư luận bây giờ khác hẳn, phần luân lý người ta không để ý nữa, cho là một việc rất thường như trong tiểu thuyết Âu Tây. Người ta tìm thấy trong Tố Tâm có nhiều quan niệm về tư tưởng, văn chương khác, can hệ hơn, đó là một thâm ý của tác giả mà bây giờ nhiều nhà phê bình đã chú ý phân khảo ra. Hiện nay, tôi đã thấy ở các bậc trung học, cao học đem giảng thuyết quyển truyện đó. Và mới đây, tôi nhận được thư của nha học chánh Đông Pháp nói về quyển này.


(Lê Thanh)


Nôm na


Nôm là chữ Việt, do chữ Nam nói trại đi thành na không có

nghĩa gì, chỉ là chữ “nôm” thành chữ nôm na. Nôm có nghĩa là 

mộc mạc, không văn chương, và bác học như chữ Hán.


(Chữ nghĩa chúng ta – Bùi Bảo Trúc)


Bát phở không người lái

(Kỷ niệm về thời bao cấp)


Có một người làng làm nhân viên ở cửa hàng mậu dịch huyện, có gì phi thường đâu nhỉ, có gì mà cả làng cứ phát rồ lên như thế? Thỉnh thoảng tôi vẫn có cái thắc mắc cỏn con ấy. Vậy mà lắm lúc, chính tôi cũng không khỏi hãnh diện trước đám bạn học về việc có một chị người làng làm trong mậu dịch huyện.


Lần nào xuống đó, tôi cũng đem chị ra khoe. Song khổ một nỗi là chẳng lần nào tôi gặp được chị tại đúng cái chỗ thiên đường của những cái bụng rỗng ấy. Tôi đã sắp trở thành một tên khoác lác trong mắt đám bạn thì may quá, lần ấy, tôi thoáng thấy bóng chị phía trong quầy hàng. Mừng quá, tôi vội vàng hét tướng lên gọi chị. Và… niềm tự hào của cả làng tôi (lạy giời) cũng đã kịp nhận ra tôi. Chị quay lại, nhìn tôi nhoẻn cười, lại còn gọi đúng tên tôi ra nữa chứ. Chỉ cần thế thôi. Tôi đã hoàn toàn sung sướng và mãn nguyện, đủ để vênh mặt trước những ánh mắt tin tưởng, nể nang của lũ bạn học.


(Phạm Lưu Vũ)


Tục lệ xưa


Thời xưa, xưa thật là xưa, nhà nào chẳng may có người qua đời thì người nhà chỉ  cần lấy cái chày giã mạnh vào chiếc cối không, âm thanh khác thường ấy bào cho láng giềng chạy tới hỏi thăm, chia buồn và để cùng nhau lo việc chôn cất.


Chữ nghĩa làng văn


Vĩnh biệt người đội mũ Dương Nghiễm Mậu


Người ngồi đội mũ là nhân vật của một truyện ngắn cùng nhan đề như vậy trong Cũng Đành, tập truyện ngắn đầu tay của Dương Nghiễm Mậu. Từ lúc quen biết Dương Nghiễm Mậu tới nay đã trên nửa thế kỷ, tôi chưa thấy ông đội mũ bao giờ


Nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã từ trần lúc 21 giờ 35 phút ngày 2 tháng 8 năm 2016 tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi. Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phi Ích Nghiễm, sinh ngày 19-11-1936, ở quê nội làng Mậu Hòa, huyện Ðan Phượng, tỉnh Hà Ðông. Bút hiệu là tên thật của ông ghép với hai chữ đầu quê nội và quê ngoại.Nhớ Dương Nghiễm Mậu


Thật ngỡ ngàng nghe tin ông mất, dù tuổi thọ của ông cũng không là mỏng. Có lòng tham yêu mến tôi cũng chẳng ngại, để được thấy nhà văn Dương Nghiễm Mậu còn ở trên đời, nên ông mất đi tôi rất tiếc thương. 

Cầu mong linh hồn ông an vui chốn vĩnh hằng.


(Nguyễn Đạt)


Những ca từ “khó hiểu” trong 8 ca khúc của Trịng Công Sơn


7. Dấu Chân Địa Đàng

Bài hát Dấu Chân Địa Đàng, ban đầu có tên là Tiếng Hát Dạ Lan, được TCS viết trong thời gian ông dạy học ở B’Lao, Lâm Đồng. Trong bài này có hình ảnh ẩn dụ vô cùng khó hiểu như “loài sâu ngủ quên trong tóc chiều”, “lời ca dạ lan”… 


May quá, những hình ảnh đó sẽ được chính tay tác giả giải thích, nếu bạn đọc được cuốn Thư Tình Gửi Một Người. Khi hiểu được những ca từ này, người nghe sẽ thấy bài hát sẽ trở nên hay hơn. Loài sâu này chính là một phiên bản khác của phận người, ôm chất chứa những buồn vui của nhân sinh, điều này càng được thấy rõ hơn trong những bức thư của TCS gửi Dao Ánh: “Ngôn ngữ đã mất đi với những ngày nằm co như một loài-sâu-chiếu ở Blao” (thư Đà Lạt, 19.9.1964), “Ở đây cũng có loài sâu đất reo đêm” (thư Đà Lạt, 19.9.1964), “Đêm sáng mờ bên ngoài. Sâu đất reo rất trong ở bãi cỏ” (thư Blao, 23.10.1964), “Đêm đã lạnh và đã buồn. Cây cỏ lao xao. Anh chỉ còn nghe rõ tiếng sâu đất và tiếng dế reo…” (thư Blao, 29.12.1964), “Đêm rất dày đen. Sâu đất của núi rừng cũng đã reo lên âm thanh rất nhọn” (thư Blao, 23.9.1965). 


Hình ảnh “dạ lan” cũng được nhắc tới trong bài này: “Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng”. Dạ lan là gì? Nhà cô gái 16 tuổi Dao Ánh ở Huế (cách nhà TCS ở Huế một cây cầu là cầu Phú Cam) trồng nhiều hoa dạ lan và loài hoa này không chỉ thơm ngát trong vườn nhà Dao Ánh mà còn lừng hương trong nhạc Trịnh và trong nhiều bức thư tình tha thiết, da diết của TCS gửi Dao Ánh: “Dạ lan giờ này chắc đã ngạt ngào cả một vùng tối đó rồi, đã cài lên từng sợi tóc của Ánh” (thư Blao, 31.12.1964), “Anh ao ước bây giờ mở cửa ra bỗng dưng có chiếc cầu bắc qua dòng sông và anh bước qua cầu rồi rẽ về phía tay phải đi đến căn nhà có mùi thơm dạ lan và đứng đó gọi tên Ánh thật thầm để chỉ vừa đủ Ánh nghe”(thư Blao, 26.9.1965). 


Dĩ nhiên, “dạ lan” trong vùng kỷ niệm của TCS cũng như trong nhạc Trịnh, là hiện thân của vẻ đẹp và tình yêu thầm kín, thanh tao, thắm thiết của Dao Ánh, là biểu tượng, là hiện thân của cõi “địa đàng”, cõi “Thiên Thai”, cõi mơ ước hạnh phúc bất tuyệt muôn đời của nhân loại: “Mưa đã trở về cùng với đêm. Như một ngày nào Ánh rời xa anh để trở về với nếp sống bình thường, ở đó Ánh đi trên lối đi quen thuộc của những người đã đi trước mà không cần phải nhìn những bảng số hai bên đường. Sẽ bình thường và thản nhiên quên đã một lần dẫm chân qua một vực-thẳm địa đàng mà anh đã linh cảm trước từ lâu, như “địa đàng còn in dấu chân bước quên” của một thời anh đã âm thầm nghĩ rằng biết đâu Ánh không lớn lên từ một loài dạ lan nào đó” (thư Blao, 27.10.1964), “Bây giờ là tiếng nói đêm của anh với Ánh. Với Ánh dạ lan… ” (thư Blao, 22.11.1964).


(Nguyễn Mậu Nhân – Sai Gon xua)


Chữ nghĩa làng văn


Trần Trọng Kim là người cần cù khổ học. Ông có một cái bàn viết thật độc đáo, cả bàn ghế cả đèn đều đặt trong một chiếc màn lớn để tránh muỗi, đêm nào dù đi yến tiệc ở đâu cũng cứ 22 giờ là về, chui vào làm việc cho đến 2 giờ sáng.” (Văn, 10.1.1975)


(Lãng Nhân Phùng Tất Đắc)


Vĩnh biệt Đào Mộng Nam


Đặc biệt có giáo sư Đào Mộng Nam, nhà nghiên cứu Đông Phương ở hải ngoại về Phú Thị thăm và giới thiệu công trình của ông đã dịch trên 1.400 bài thơ chữ Nho của Cao Bá Quát ra quốc ngữ. Ông đã phát hiện ra "thần lực" trong thơ Cao Bá Quát và từ khởi điểm này ông đang xây dựng một công trình văn hoá: "Nét đặc trưng văn hoá và tiến bộ khoa học hiện đại". 

Ông đã đánh giá rất cao Cao Bá Quát:
- Nhà thơ lớn của Á Đông.
- Bậc thi bá duy nhất tập đại thành cả 3 nghìn năm tư tưởng thi ca Đông Á.
- Thi sĩ, thi sĩ tiên tri.

Ông có đọc cho nghe bài thơ Nguyên Tiêu Khóc Cao Bá Quát trong đó có 2 câu:
Vạn thuở văn chương còn chẳng nát
Muôn đời thần khí lẽ nào tan…


Thật sự là như thế. Giấy rồi sẽ ra bụi, mực rồi sẽ phai mờ, nhưng văn chương không thể hư nát nổi. Và thần khí lẽ nào tan…


Khi bạn đọc những dòng chữ naỳ, tang lễ của Giaó Sư Đaò Mộng Nam đã hoàn tất. Nhưng hình ảnh nhà thơ họ Đào vẫn còn đi lại quanh đây với chúng ta, còn thật lâu...
Phải chăng hình ảnh Đào Mộng Nam thương khóc Cao Bá Quát cũng là một cái nhìn tiên tri về chính cuộc đời của nhà thơ Đào Mộng Nam - người cũng y hệt như họ Cao, chỉ "suốt đời chỉ cúi đầu chào hoa mai" như một dòng thơ cổ lưu lại của họ Cao…


(Phan Tấn Hải)


Tác giả: Phan Tấn Hải bút hiệu: Nguyên Giác. 

Sinh năm 1952 tại Sài Gòn. 

Hiện đang cư ngụ tại California, Hoa Kỳ.


Tác phẩm: Vài Chú Giải Về Thiền Đốn Ngộ, 

Thiền Tập, Ba Thiền Sư, Chú Giải Về Phowa, 

Lời Dạy Tâm Yếu Về Đại Thủ Ấn


***


Phụ đính 


Lá giang

Một loại lá cây mọc hoang dại, được dùng nấu canh chua, xào với thịt hoặc cá, tạo hương vị chua thanh độc đáo: lá giang

Khắp nước ta, nhiều đầu bếp lẫn thực khách xem lá giang là loại "vừa rau vừa gia vị", khó tìm được nguyên vật liệu khác thay thế.

Lá giang cùng với tôm, cua,
Em về nấu bát canh chua hầu chàng.


Có thể thay gà bằng ếch, bò, heo, tôm, cua, và các loại cá nước ngọt, nước mặn, nước lợ, tươi hoặc khô. Quảng Ngãi và Bình Định lưu truyền câu hát dân gian:

Quê ta lợi thế lá giang,
Nấu đầu cá nục, cứ chan húp hoài.

Canh lá giang người miền Nam đưa vào cù lao, trở thành lẩu

Ung dung tự tại


Cụm từ “ung dung tự tại”, nhưng thực ra là “thung dung tự tại”.

Trong Nhị độ mai có câu: Thung dung xuống hậu sảnh đường…”.

Bì chợ Búng

Chợ Búng sao mang tên gọi Búng? Sách Di tích và danh thắng tỉnh Bình Dương nêu 2 cách giải thích: là nơi nổi tiếng về làm bún, vùng đất này đã định danh là Búng, khi xây dựng chợ lấy tên chợ Búng. Nhưng do phát âm theo tiếng địa phương từ Bún thành BúngIMG_5754

Suốt thế kỷ XX đến nay, chợ Búng thường xuyên thu hút thực khách muôn phương đến thưởng thức chẳng những bún bì, nem, mà bánh tằm, bánh bèo, bánh tráng / đa được chế biến với bì, tức da heo / lợn, nếu thích thì thêm chả giò và nem chua.

Với món bún bì, nem (Thủ Đức) đó là mấy quán Ngọc Hương, Mỹ Liên I, Mỹ Liên II gần chợ Búng. Thái Thị Tuyết - đầu bếp chính lâu nay của quán Mỹ Liên II - tiết lộ:

- Bì phải chọn da lưng heo, luộc chín, xắt nhỏ. Thịt làm bì cần chọn nạc lưng heo mới mềm và ngon. Thịt tươi đem về, cắt ra từng khúc, luộc chín, rồi để trên rổ. Khi thịt nguội, đem thái thành sợi rồi ram với tỏi và gia vị cho thơm. Sau đó, trộn đều bì, thịt, mỡ với tỉ lệ 2 nạc, 1 da, 1 mỡ. Để bì thêm ngon, hãy cho thính vào nhưng không nhiều quá. Vì nhiều thính, món ăn sẽ bị xảm.

Dùng bánh tráng mềm / bánh đa nem cuộn chặt bì cùng rau sống (xà lách, diếp cá, tía tô, húng cây, húng quế, v.v.), tạo nên những cuốn bì, chấm với nước mắm chua ngọt có đu đủ và cà rốt, thêm lát ớt cùng múi tỏi. Đó là thức khai vị, thường được các "ẩm giả lưu kỳ danh" gọi đầu tiên để khề khà mà uống bia, chờ các món khác. Phối hợp bì với rau sống, sườn nướng, bún hoặc bánh tằm, rắc nhúm đậu phộng rang, điểm tí hành, chế nước dừa, tạo nên bún bì, chan nước mắm vừa miệng, tha hồ thưởng thức. 

Đặc sản độc đáo nhất chợ Búng lâu nay hấp dẫn đông đảo thực khách gần xa là bánh bèo bì, do đó dân gian truyền tụng:

Ai về chợ Búng, Bình Nhâm
Ghé vườn cây trái và ăn bánh bèo.


Cách chế biến bánh bèo, cũng như pha nước mắm chanh tỏi ớt để chan. Bánh bèo kiểu Bình Dương, mà chợ Búng xài nhân được phối kết mấy thứ: quệt đậu xanh đánh vàng óng, phết lớp mỡ tao hành lá, trải rau thơm và dưa leo / dưa chuột thái mỏng, đoạn phủ bì đầy vun phía trên. Lạ, mà ngon đáo ngon để. 

(Phanxipăng)


Phanxipăng có họ tên Trần Ngọc Tĩnhphanxipang - anh 2

Chào đời năm Canh Tý 1960 ở thành phố Huế

Cựu sinh viên khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hiện cư trú ở Sài Gòn

Tác phẩm: Vàng máu (Tiểu thuyết) - Sài Gòn nay (Tập phóng sự) - Huế chừ (Tập phóng sự)








Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét