31 thg 3, 2026

LÁ RƠI NGOÀI NGÕ . HẬN - Nguyễn Thị Châu

LÁ RƠI NGOÀI NGÕ



Thu chưa đến, sao lá rơi ngoài ngõ
Nắng hanh vàng chen chút bóng mây bay
Lá nhớ ai? Mà lá chóng tàn phai
Thu chưa đến mắt buồn buông ngấn lệ

Chờ anh đó, tiếng gió reo ngoài ngõ
Thương người đi, lâu lắm không thấy về
Anh đi rồi, theo mấy dặm sơn khê
Dẩu biết thế, sao vẫn chờ vẫn đợi

Nhớ thuở ấy bước chân ai đầu ngõ?
Theo tiếng cười khúc khích nhớ người yêu
Tay trong tay, nước mắt rơi thật nhiều
Lau dòng lệ Ôi! Lâu đài tình ái

Lâu lắm rồi không thấy ai ngoài ngõ
Chỉ còn nghe chiếc lá xào xạc rơi
Mùa Thu ơi! Nghe sao thấu đất trời
Thu chưa đến mà lá rơi ngoài ngõ…!!!

25-3-2026
Nguyễn thị Châu



Hận

Tìm ai trong nắng sớm ban mai?
Sương giăng lối nhỏ ướt vai gầy
Nghe như bóng dáng ai ngoài ngõ
Lặng lẽ nhìn ai theo bóng mây

Người đã đi rồi theo gió sương
Nghe như tiếng gót ở trên đường
Sớm mai tỉnh giấc tìm dư ảnh
Nắng sớm tan rồi sao vấn vương

Lại nhớ người trai nơi chiến trường
Ra đi bỏ lại bao người thương
Một nấm mộ xanh bên đồng vắng
Nằm lại nơi nầy với quê hương

Lộng gió mênh mông giấc ngủ dài
Bao năm lạnh lẻo chờ lá phai
Anh vì nợ nước, vì sông núi
Niềm đau máu thịt bởi vì ai?

Mấy mươi năm mối hận còn đây
Lửa luôn bùng cháy, lẫn ai hoài
Hận đời, hận cả người trong cuộc
Ai đã gây ra cuộc chiến nầy…???

18-3-2026
Nguyễn thị Châu


HỌC TẮC (Bài 6)


 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠO TIÊN VƯƠNG

Tác giả: Ogyu Sorai
Biên dịch: Nguyễn Sơn Hùng

Phàm lệ

Tựa của bài, tiểu mục và tóm tắt ý quan trọng do người biên dịch thêm vào để dễ theo dõi và lập mục lục chi tiết hoặc tóm tắt nội dung cả tác phẩm.

Người biên dịch cố gắng chú thích các trích dẫn để quý độc giả hiểu rõ thêm ý muốn truyền đạt và mức độ học rộng của Sorai và biết thêm nội dung sơ lược các sách cổ điển khác.

***

Thế nào là thái độ của người quân tử?

Người quân tử không khinh suất bỏ mặc làm ngơ con người, và đối với ngay cả con vật hoặc đồ vật cũng không khinh suất bỏ mặc làm ngơ. Nhờ đó họ thành tựu được sự vĩ đại của mình. Sự vĩ đại của người quân tử cũng có ở việc họ chú ý đến sự việc ngay từ lúc sự việc bắt đầu manh nha (mọc mầm).

Sự vật, sự việc trên đời phần lớn phát sinh, tiến hành, phát triển do sự kết nối lẫn lộn của nhiều thứ. Từ hỗn tạp biến thành có thứ bậc, văn vẻ (tạp dĩ thành văn) (1); âm dương tương kết không ngừng (âm dương tương nhưng陰陽相仍) để biến chuyển chớ không cố định một chỗ. Nói tỉ dụ giống như sợi dây thừng được hình thành bằng những sợi chỉ xoay quấn với nhau, cương và nhu quấn bọc thành nhiều tầng lớp không bao giờ hết. Giống như thân cây chuối Nhật (bashô芭蕉)có nhiều lớp vỏ bao bọc, hết lớp này đến lớp khác. Do đó, người quân tử không quyết định thái độ từ đầu đối với cả điều phải lẫn điều trái, cả điều thiện lẫn điều bất thiện.(2)

Đạo thánh nhân xem trọng những gì?

Đại khái người lẫn vật không được nuôi dưỡng đúng là xấu, không được đặt vào chỗ thích đáng cũng là xấu (ác). Ngược lại, nuôi dưỡng cho trưởng thành rồi đặt vào chỗ thích đáng tất cả đều là tốt (thiện).

Đem con người ở chung với lang sói, trộn cao lương chung với lúa gạo chắc chắn là không tốt. Tuy nhiên, trời đất không ghét bỏ lang sói, sương và mưa không đối xử sai biệt với cây cao lương. Đạo thánh nhân cũng tương tự như vậy (nghĩa là không đối xử sai biệt giữa người này với người khác, giữa quân tử và tiểu nhân). Trường hợp không thể làm gì được đối với người hoặc vật xấu thì tách đối tượng rời ra hoặc tránh xa đối tượng chứ không đánh đập hoặc giết hại, bởi vì thánh nhân rất chán ghét việc gây hại đức nhân chứ không phải chán ghét đối tượng. Do đó, đạo thánh nhân rất chán ghét việc bất nhân bởi vì việc bất nhân làm cho tấm lòng yêu thích đức nhân không đến được.(3)

Vua Thuấn đã chọn ông Cao Dao ra dùng nhưng đối với 4 ác nhân (4) thì giết chết. Đối với việc làm sau (trong thiên Thuấn Điển của kinh Thưchỉ ghi lại sự kiện của lịch sử chứ)không phải là khen tụng. Ở thời đại của thánh nhân, không có tài năng, con vật hoặc đồ vật nào bị xem là vô dụng để phế bỏ đi.

Có lời truyền “Người dân ở thời đại vua Nghiêu, vua Thuấn tất cả đều những nhân vật đáng được phong làm chư hầu”(5). Ý của lời này không phải là tố chất(bản tính bẩm sinh) của mọi người dân thời đại này đều có thể trở thành công tước hoặc hầu tước, và cũng không phải người nói đồng tình với dân chúng để phải chấp nhận các khuyết điểm của họ. Ý muốn nói của lời này là vào thời vua Nghiêu, vua Thuấn, mọi người dân có thể cống hiến vào việc quản trị quốc gia ứng với tài năng của họ. Có những ghi chép như “Cần xem xét các lời nói gần gũi thấp hèn” (6), “Chọn dùng các ý kiến của người thấp hèn ở vùng núi”(7)v.v…Tuy nhiên, không phải tất cả những người thốt ra những lời có thể dùng đến như nói ở trên đều là người tài đức. Độc cũng có trường hợp chữa được bệnh, có lúc linh苓 trở thành vua của dược liệu(8); đá của núi khác có thể dùng mài giũa ngọc quý(9); người bất nhân cũng có thể để người tốt tham khảo (10) để tránh không làm như vậy. Phương pháp thành tựu sự vĩ đại của thánh nhân có ở những cách dùng người và vật như trên.

Lý do nào đã làm đạo Khổng suy yếu?

Các Nho gia (sau Khổng tử) phân chia thiện ác, tốt xấu quá rõ ràng nên làm cho phạm vi giáo huấn của các tiên vương trở nên hạn hẹp, và lại không ngừng nghiêm chỉnh nghị luận chính tà một cách không nhượng bộ nên phạm vi đối tượng của Khổng tử bị cắt xén bớt đi.Tất cả đều là tội lỗi của các Nho gia (sau Khổng tử).

Phương châm học như thế nào?

Do các lý do trên, từ các học thuyết của 9 phái trong chư tử bách gia (11) cho đến học thuyết thiên lệch của Phật giáo và Lão Trang đều là những phần rời rạc của đạo, không có học thuyết nào mà không xuất phát từ nhân tình (tình cảm muốn giải quyết các khó khăn của con người để có thế sống hạnh phúc hơn). Do đó, chính vì xuất phát từ nhân tình (tình người), nên trong các học thuyết chắc chắn có chí ngôn (điều khuyên chính đáng đáng học tập). Đạo thánh nhân là đạo lấy nhân tình làm trên hết. Nếu không như thế thì làm sao có thể quản trị dân chúng sống an bình. Do đó, nếu xây dựng được và duy trì được cơ sở căn bản quan trọng để an dân thì cái gì cũng là đạo của thánh nhân.

Các môn học chuyên môn của đời Hán đã làm cho học thuyết của mỗi người mỗi khác nhưng tất cả nội dung đều là do các thầy truyền dạy cho các đệ tử. Nguồn gốc của các nội dung này đều do các đệ tử của Khổng tử truyền lại. Dù được truyền lại từ các đệ tử của phu tử nhưng không có nghĩa là không có điều sai lạc (do người học hiểu sai hoặc nhớ sai). Ngoài ra, có điều còn điều mất (do quên hoặc thất truyền). Nếu như gom lại để học chung lại thì không đánh mất đạo.

Khi Khổng Dĩnh Đạt soạn ra sách chú giải của ngũ kinh(12) ông chỉ lấy chú giải của 1 người làm tiêu chuẩn chọn lựa. Đến đời Minh sau đó, khi Ngũ Kinh Đại Toàn(13)thì chú giải của Khổng Dĩnh Đạt lại bị cắt bỏ đi. Bởi 2 lý do chính yếu này, học thuyết của thánh nhân trở nên càng hạn hẹp không thể bằng cổ đại.

Do đó, căn bản của việc học (đạo thánh nhân) là một khi đã xác lập được các điểm căn bản lớn thì nên quý trọng việc học rộng không màng sự phức tạp. Nếu còn điều nghi ngờ không biết đúng hay không thì nên cứ để vậy chờ đến cái mầm thấu đạt phát sinh ra.

Tóm tắt ý quan trọng

– Người quân tử không khinh suất bỏ rơi người khác và mọi sự vật, không không quyết định thái độ từ đầu đối với cả phải lẫn trái, cả thiện lẫn bất thiện, nghĩa là không có thành kiến mà căn cứ vào tình trạng thực tế để phán đoán.

– Đạo Khổng (thánh nhân)lấy việc nuôi dưỡng tiềm năng để phát triển và sử dụng con người theo tài đức, đồ vật theo chức năng hoặc đặc tính, không bỏ rơi hoặc giết hại,

– Nếu xây dựng được hoặc duy trì được cơ sở căn bản quan trọng để an dân thì cái gì cũng là đạo của thánh nhân.

– Căn bản của việc học đạo thánh nhân là một khi đã xác lập được các điểm căn bản lớn thì nên quý trọng việc học rộng; có điều chưa hiểu thì cứ chờ đến lúc tự hiểu ra.

Nhận xét

(1) Sorai cho rằng đạo thánh nhân không xem người và vật gì vô ích. Người dịch rất thú vị khi nhớ lại trong Bài 20 Không Có Vật Gì Vô Dụng  trong tác phẩm Nhân Sinh Tâm Đắc Thiệp của Matsushita Kônosuke, nhân vật được người Nhật Bản xem là thánh của kinh doanh, cũng có quan niệm tương tự!

http://www.erct.com/2-ThoVan/N-Son-Hung/Bai-20-Khong-co-vat-gi.htm

(2) Trong chương Tính Ác sách Tuân Tử giải thích quan niệm thiện của người xưa là “xã hội sống hòa bình” và ác là “xã hội loạn lạc, chiến tranh”. Quan niệm thiện ác này cũng rất suy ngẫm. Tuy nhiên nếu tồng hợp với quan niệm thiện ác trong bài này thì có thể nói như sau: thiện là mọi vật có trật tự, có vị trí thích đáng với bản thân của người và vật; ác là mọi vật không có trật tự, không có vị trí thích đáng.

(3) Người biên dịch thiết nghĩ nên ghi lại đây ý nghĩa của từ quân tử君子theo nội dung giải thích của Sorai như vậy quý độc giả mới nắm được sự quan trọng của nội dung “Người quân tử không khinh suấtbỏ mặc làm ngơ con người, và đối với ngay cả con vật….” trong bài này.

Như quý độc giả đã biết đạo Khổng là đạo của các tiên vương cổ đại lập ra để an dân được ghi chép lại trong các kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc, Dịch và dùng để dạy dân và đào tạo nhân tài. Sau đời Chu,các kinh sách bị thất lạc dần dần đi nên Khổng tử thu thập và ghi chép lại để dạy cho các đệ tử và truyền lại cho đời sau, chứ không phải do bản thân ông sáng tác lập ra. Quân tử là người học đạo tiên vương, tức đạo Khổng để quản trị dân chúng sống an vui, bao gồm từ vua, chư hầu, đại phu và sĩ. Quan niệm của các tiên vương là người quản trị dân phải làm gương mẫu cho dân chúng bắt chước theo nên điều kiện có đầy đủ đạo đức là điều tất yếu. Từ tiểu nhân là để chỉ người dân bình thường, để phân biệt với những người quản trị dân. Đó là ý nghĩa ban đầu của 2 từ quân tử và tiểu nhân.

Tuy nhiên, từ khi Tống Nho xem trọng việc tu thân và xem nhẹ việc an dân nên sau đó người đời cứ cho ra quân tử là người có đạo đức, nhân cách cao thượng; có tiểu nhân là loại người không có đạo đức! Đó là trong những tai hại của Tổng Nho gây ra, ít người phát hiện!

Sorai giải thích chi tiết về từ quân tử và tiểu nhân trong Luận Ngữ Trưng của ông, người biên dịch sẽ giới thiệu trong biên dịch tác phẩm này, quý độc giả nhớ đón xem.

Ghi chú

  • Hệ Từ Truyện hạ viết: “物相雑、故曰文”vật tương tạp, cố viết văn.
  • Chương 10 thiên 4 Lý Nhân sách Luận Ngữ viết:

子曰:君子之於天下也,無適也,無莫也,義之與比。

Tử viết: “Quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mịch dã, nghĩa chi dữ tỷ.”

Dịch (của Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Cách xử sự của người quân tử không nhất định phải như vầy mới được, không nhất định như kia là không được, cứ hợp nghĩa thì làm.”

(Trong Luận Ngữ Trưng, Sorai giải thích chương này rất dài. Xin quý độc giả đón xem sau bài dịch của người dịch.)

  •  Chương 10 thiên 8 Thái Bá sách Luận Ngữ viết:

子曰:好勇疾貧,亂也。人而不仁,疾之已甚,亂也。

Tử viết: “Hiếu dũng tật bần, loạn dã. Nhân nhi bất nhân, tật chi dĩ thậm, loạn dã.

Dịch (của Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Kẻ hiếu dũng mà lại ghét cảnh nghèo khổ thì sẽ làm loạn. Người bất nhân mà bị ghét bỏ thái quá thì sẽ nổi loạn.”

Trong Luận Ngữ Trưng Sorai giải thích chương này như sau:

Hiếu dũng tật bần sẽ làm bản thân trở nên loạn.Nhân nhi bất nhân, tật chi dĩ thậm, loạn dã nghĩa là người mà ghét cực kỳ ghét đức nhân của việc làm người thì xúi giục người khác làm loạn. Mặc dù bản thân không làm loạn nhưng cũng giống như chính bản thân làm loạn. Do đó ở đây nói loạn dã (giống như câu đầu) cho thấy việc nghĩ xa của thánh nhân, cách nhìn thiển cận của hậu Nho làm sao sánh được!”

Nội dung giải thích của Sorai khác với nội dung phiên dịch nói trên, đáng để suy ngẫm thêm.

(4) Bốn ác nhân là Cộng Công gây ra lũ lụt, Hoan Đâu驩兜là Đan Chu丹朱, con trai của vua Nghiêu, Tam Miêu三苗tức Luận Thích Nghị論戚誼, người Tam Miêu,và Cổn鯀.

  • Chương 21 thiên 12 Nhan Uyên sách Luận Ngữ viết:

子夏曰:富哉言乎!舜有天下,選於眾,舉皋陶,不仁者遠矣;湯有天下,選於眾,舉伊尹,不仁者遠矣。

Tử Hạ viết: “Phú tai ngôn hồ! Thuấn hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Cao Dao; bất nhân giả viễn hỹ.Thang hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Y Doãn; bất nhân giả viễn hỹ.”

(5) Trong Vương Bôn Truyện sách Hán Thư viết: 唐虞之時、可比屋而封Đường Ngu chi đại, khả bí ốc nhi phong.

(6) Thiên Trung Dung trong sách Lễ Ký viết “子曰:「舜其大知也與!舜好問以好察邇言。隱惡而揚善。執其兩端,用其中於民。其斯以爲舜乎!」(Tạm dịch: Khổng tử nói: Vua Thuấn thật là đại trí (có trí tuệ)! Ông thích hỏi và xem xét các lời nói gần gũi chung quanh. Dấu điều xấu và nêu cao điều tốt của người khác. Ông nắm rõ 2 mức cực đoan của sự việc và áp dụng nội dung có cân bằng vào dân chúng. Đó là lý do tạo ra sự vĩ đại của ông.)

(7) Có trong bài tựaBản板 trong phần Đại Nhã của kinh Thi viết先民有言,詢于芻蕘。Tiên dân hữu ngôn, tuân vu sô nhiêu (Tạm dịch: người xưa thường nói, nên hỏi ý kiến của người đi lượm cũi. Ý nói, người quản trị dân nên thường hỏi ý kiến của người dân bình thường. )

(8) Theo Nishida Taichirô linh苓còn gọi là 豕零thỉ linhhoặc豬苓trư linh. Trong Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu giải thích: “Trư linh 豬苓 cũng là một loài nấm, mọc ở cây phong, từng hòn đen đen như phân lợn, nên gọi là trư linh, dùng làm thuốc.” Trong chương 21 Từ Vô Quỷ (Tạp thiên) sách Trang Tử viết:藥也其實,堇也,桔梗也,雞𢋊也,豕零也,是時為帝者也,何可勝言! Dịch của Nguyễn Hiến Lê: “Trong các vị thuốc có vị cẩn, có vị cát cánh, có vị kê ưng, có vị trư linh(trong Wikisource viếtthỉ linh). Những vị ấy vốn tầm thường mà có lúc lại là quý”.(Nguyên văn là đế giả, có nghĩa đứng đầu các thứ thuốc khác. Dĩ nhiên là tùy theo trị bệnh gì.)

(9) Trong bài tựa Hạc Ô鶴鳴trong phần Tiểu Nhã của kinh Thi viết:他山之石,可以為錯。

(10) Trong chương 27 sách Lão Tử viết: 故、善人者不善人之師、不善人者善人之資。Cố,thiện nhân giả bất thiện nhân chi sư, bất thiện nhân giả thiên nhân chi tư. Tạm dịch: Do đó, người tốt là thầy của người xấu; người xấu là người để cho người tốt tham khảo (nghĩa là lấy đó mà răn mình).

(11) Chín phái trong chư tử bách gia. Văn Nghệ Chí của Hán Thư phân loại các sách đương thời trong lĩnh vực tư tưởng ra làm 10 học phái: Nho gia, Đạo gia, Âm Dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tùng Hoành gia, Tạp gia, Nông gia, Tiểu Thuyết gia, và ở mục Tổng kết viết: 凡諸子百八十九家,四千三百二十四篇。Phàm chư tử bách bát thập cửu gia, tứ thiên tam bách nhị thập tứ thiên.( Tóm lại gồm có 189 nhà, 4324 thiên). Số học phái có 189 nhà nên lấy số đại khái là 100, gọi bách gia. Theo lời tựa của Xuân Thu Cốc Lương Truyện Chú Sớ, 10 học phái trở thành 9 học phái là do loại bỏ Tiểu Thuyết gia ra.

(12) Tức Ngũ Kinh Chính Nghĩa 五経正義do Khổng Dĩnh Đạt孔穎達(574~648, Nho gia đời Đường) soạn để chú giải ngũ kinh:Thượng Thư, Mao Thi, Lễ Ký, Chu Dịch, Xuân Thu Tả Truyện gồm 180 quyển.

(13) Sorai chỉ viết “Minh tác Đại Toàn”. Nishida Taichirô chú thích là Ngũ Kinh Đại Toàn, và gồm có Tứ Thư Đại Toàn và Tính Lý Đại Toàn được soạn theo lệnh của Thái tông (Thành tổ) nhà Minh, để thống nhất Tống học. Theo Yamakawa Thế Giới Sử Tiểu Từ Điển,Ngũ Kinh Đại Toàn là sách chú giải ngũ kinh, gồm có 154 quyển do Hồ Quảng胡広 biên soạn theo lệnh của Vĩnh Lạc Đế đời Minh, hoàn thành năm 1415 để làm tiêu chuẩn cho khoa cử.

Người dịch tra Wikisource thấy: Tứ Thư Đại Toàn chú giải các sách Đại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Trung Dung, và Tính Lý Đại Toàn gồm 70 quyển.

Nguyễn Sơn Hùng. Soạn xong ngày 13/1/2026Bổ sung nhận xét ngày 25/3/2026


Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng

Miếng Ngon Quê Hương - Trần Thị Lai Hồng

Trở về từ chuyến viếng thăm quê hương, nhiều bà con bạn bè ân cần thăm hỏi. Một số còn tò mò hơn về những món ăn bên nhà, nhất là những “đặc sản” từng vùng.

Nói về “đặc sản”, tức là những sản phẩm đặc biệt, mà riêng về miếng ăn thức uống, Việt Nam bây giờ không thiếu chi sơn hào hải vị quí hiếm. Sơn hào có thịt khỉ thịt voi thịt gấu thịt cọp thịt heo rừng thịt cheo thịt trút thịt trăn thịt rắn … Hải vị có rắn đẻn cá óc-nóc nhum đồn đột hải sâm hải mã … Còn phải kể “quí vị” ruộng rẫy cào cào châu chấu chim sâm cầm kỳ nhông cắc kè … không xiết !

“Đặc sản” nếm trong đời, hẳn nhiều người lưỡi từng tê tân khổ. Dở ngon, ít nhiều, không quan trọng. Điều đáng kể là có nhiều miếng ngon chẳng phải hiếm hoi trân quí, nhưng một khi đã thấm đậm khẩu vị cùng tâm ý, còn nhớ mãi cả đời.

Miếng ngon quê hương của tôi, có ba món đáng gọi là “đặc sản.”

Đầu tiên, là Cơm Nắm, còn gọi là Cơm Vắt hay Cơm Bới.
Cơm Nắm

Cơm nấu bằng gạo tẻ. Gạo gie gạo dự nàng hương nàng hai tám xoan tám thơm nanh chồn … Chỉ cần một loại gạo dẻo, thơm, mềm. Được gạo mới càng hay. Khi nấu, thêm vài lá dứa cho thơm. Nấu khéo vừa chín, không khô, chẳng nhão, hạt cơm vừa nở đúng độ. Dùng mo cau non, loại mo bao quanh buồng cau, mỏng mềm, không phải mo bẹ lá. Cơm vừa chín tới xới ra mo cau sạch, nhồi nhanh mạnh tay nhiều lần cho hạt cơm dẻo mềm nhuyễn nhừ dính sát nhau thật mịn, rồi nắm lại.

Tùy sở thích, nắm cơm có hình dáng tròn đầy cỡ miệng chén, hoặc vuông vức dẹp hơn cái bánh chưng, hay một thỏi tròn lẳn có đường kính nhỏ hơn miệng chén và dài khoảng một gang tay. Nắm cơm để nguội, gói lại trong lá chuối hay lá sen xanh mượt, hoặc mo cau mềm, để giữ khỏi bị khô.

Thức ăn kèm cơm nắm thường là muối mè trộn đậu phụng rang vàng giã nhuyễn. Có thể thêm tí đường. Sang hơn thì dùng thịt ruốc chà bông hay giò lụa chả quế. Rất đơn giản thì chỉ cần chấm lát cơm nắm mềm mịn vào một chút nước mắm ngon, là đủ. Người Hà Nội dùng cơm nắm xong, có bát nước chè tươi hay trà Thái Nguyên, rồi hút một điếu thuốc lào.

Dân Quảng Trị Thừa Thiên thích cơm nắm với cá hẻn – cá trê nhỏ – kho khô, hoặc muối sả. Sả tươi băm nhuyễn xào với mỡ gáy cắt hạt lựu, có tỏi, ớt bột, thịt heo hay bò băm, trộn thêm mè rang vàng giã hơi dập, và mắm ruốc. Mắm ruốc, không phải mắm tôm. Ngoài ra, giản tiện dễ dãi hơn, chỉ cần chấm cơm nắm với mắm ruốc có rắc chút ớt bột. Người miền Trung ăn cơm nắm – còn gọi là cơm bới – như vậy kèm thêm trái khế chua hay ngọt. Ăn xong làm một đọi nước chè tươi nấu có vài lát gừng. Tuyệt!

Miếng cơm nắm tôi được ăn lại, không phải tại quê miền Trung, mà tại một con ngõ nhỏ phố phường Hà Nội.

Sáng hôm ấy một mình lang thang khu “phố Tây,” nhìn lại những căn biệt thự thời Pháp thuộc nay đổi chủ, vui chân về phía sông Hồng, cuối phố Trần Hưng Đạo, thấy hai bên Bệnh viện Việt Nam có hai con ngõ ngồ ngộ. Rẽ vào một. Ngõ 90.

Đang đi, bỗng nghe một giọng rao cao vút “Ai cơm nắm! Cơm nắm muối vừng đê … !” Nhìn lại, một chị áo cánh trắng quần đen nón lá, dắt xe đạp. Chiếc xe thồ phía sau một thúng lớn đậy lá chuối, bên trên lủ khủ mấy hộp nhựa trắng đục đậy kín, ngăn nắp xếp trên một cái mẹt vừa nhỉnh hơn miệng thúng, và trên cùng là vài chiếc mẹt cỡ nhỏ hơn.

Chị dừng xe bên lề, dưới gốc bàng lá đỏ, cạnh một quán ăn nho nhỏ. Tôi cũng dừng cạnh chị, lân la làm quen bằng cách mua một nắm cơm trong lá chuối, kèm vài miếng giò quế và tí muối vừng. Vài khách trong quán cũng gọi mua.

Khi chị ngừng tay, tôi bèn hỏi chuyện.

Chị cho biết gốc làng Liên Xá huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên ngay phía Nam Hà Nội, cùng quê với danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Đôi mắt đen của chị lấp lánh dưới vành nón lá gợi nhớ quan họ lấp lánh là lấp lánh ơi … Đôi mắt đen phản chiếu màu nắng, sáng ánh nét vui khi chị nhìn tôi :

– Con ngõ này ngộ lắm. Có khi người ta gọi là Ngõ Không Tên, nhưng nhiều khi được gọi là Ngõ Nguyễn Tuân đấy cô ạ.

Thấy tôi nhướng mắt sắp mở miệng hỏi, chị tươi cười giải thích :

– Cháu mới theo nghề này mấy năm đây thôi. Trước mẹ cháu đội thúng cơm nắm đi bán, và từng gần như mỗi ngày vào con ngõ này là được ông ấy gọi mua. Mẹ cháu bảo lúc sinh thời nhà ông lúc nào cũng lắm bè bạn vang vang vui chuyện. Con ngõ nay được mang tên Ngõ Nguyễn Tuân vì dạo ấy nhiều khách bốn phương đến tìm ông, ra vào tụ họp hàng ngày.

Tôi ngây người, nhớ Tùy Bút Tóc Chị Hoài Chùa Đàn Vang Bóng Một Thời … Nguyễn Tuân, người từng đi và viết nhiều từ hơn nửa thế kỷ trước, từng sống trong ngõ này, từng kể nhiều chuyện về miếng ăn thức uống, từng cơm nắm chấm nước mắm …

Chị cơm nắm kéo tôi về thực tại :

– Mười mấy năm trước, làng Liên Xá cháu đã tươi mươi* trổi dậy nhờ nghề cơm nắm. Mấy năm gần đây, cơm nắm không cạnh tranh nổi với vô số “đặc sản” tân kỳ kinh tế thị trường của nhiều hàng quán la liệt khắp phố phường Hà Nội. Tuy nhiên, cũng còn người yêu cơm nắm. Hầu hết là giới công nhân chân tay, một số người Hà Nội hoài cổ, và – chị ngập ngừng nhìn tôi rồi nói tiếp – còn lác đác vài người hoài hương như cô đây.

Tôi mỉm cười chịu nhận :

– Cơm nắm ăn chắc bụng. Nếu ở nhà thì tôi đã ăn cơm nắm với cá kho khô. Cơm với cá như mạ với con mà lị !

Chị cười vui với lời ví von của tôi. Nụ cười tắt ngay và đôi mắt đen sáng bỗng tối sầm :

– Nghề này hết thời rồi. Ngày xưa ra đi ngó trước ngó sau, ngó nhà mấy cột ngó cau mấy buồng. Bây giờ nhà chẳng cần cột vườn không trồng cau. Nhà bây giờ bê-tông với gạch, vườn bây giờ đất đai đắt đỏ nên bỏ vườn chặt cây bán đất cất nhà. Cau chẳng mấy ai ăn nên chẳng ai thiết trồng lại. Xưa dùng mo cau non nắm cơm, bây giờ dùng khăn vải thay vào đấy cô ạ.

Tôi nhìn gói cơm nắm như một bạn cũ lâu ngày gặp lại. Người bạn chân quê ngày xưa nay theo cuộc đổi đời đưa đẩy đã được sửa sang nhan sắc để đi vào phố thị. Ngậm miếng ngon cơm nắm, bỗng thấy mình vụt biến thành bà mẹ quê còm cõi áo cánh nâu khăn mỏ quạ tựa gốc cau sau hè có buồng hoa đuôi phượng le te trắng ngà tỏa hương dìu dịu. Ngoài kia, cánh đồng lúa con gái đương thì rì rào dào dạt sóng. Nắng bỗng thẫm lại. Một đám mây giăng ngang rồi trôi đi. Giải nắng lại sáng rực trôi trên đồng ruộng.

Miếng ngon quê hương thân thương ngọt bùi chưa nuốt trọn bỗng thấy nghẹn ngào. Lòng ngậm ngùi không vui. Có phải tại mình vô tình – hay cố ý – uống hai lần trong cùng một dòng sông, dẫu là sông Đào ?

Miếng ngon quê hương của tôi, sau Cơm nắm, là Xôi Lúa.



Xôi Lúa
Những ngày ở Saigòn, khi được hỏi về những món ăn ưa thích, tôi chỉ xin Xôi Lúa. Ai cũng ngạc nhiên, nhưng không thắc mắc.

Họ không thắc mắc, nhưng tôi thì có. Xôi Lúa dùng gạo nếp, bắp, đậu xanh, hành phi mỡ hay dầu, và tí đường. Vậy sao gọi là Xôi Lúa ?

Gạo nếp có khắp cùng thế giới, và quê ta có đủ từ nếp dài nếp tròn nếp đen nếp hồng nếp than nếp quạï nếp cẩm nếp vàng nếp hương … Nhưng Xôi Lúa chẳng lẫn hạt lúa nào, ý nói hạt lúa nguyên vỏ trấu. Mà gạo nếp gạo tẻ khi còn vỏ đều gọi chung là lúa, chỉ khác loại tự lúa. Vậy sao lại là Xôi Lúa ?

Giở Miếng Ngon Hà Nội của Vũ Bằng mong tìm tông tích, thấy bài về Ngô Rang “… ngày xưa còn bé, tối đến cứ ra dưới gốc đèn dầu Hàng Trống, mua lúa nướng về ăn … cầm ấm cả bàn tay.” Lúa nướng ? Lạ ! Mãi cả hai đoạn sau đó mới thấy nói rõ “… mà có thế mới thật cảm giác được hết cái thú ăn ngô nướng về mùa đông !” **À, lúa nướng, tức là ngô nướng.

Nhưng tại sao từ lúa lại đổi sang ngô ? Lại tò mò. May khi xem Việt Nam Bách Khoa Toàn Thư, Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quí Đôn, giở chương Phẩm Vật Loại, bắt được nguồn gốc : Lúa ngô, tên chữ Ngọc thục thử, du nhập từ Trung Hoa vào Việt Nam thế kỷ 17. ***

Lục trí nhớ, dấu vết lúa ngô được ghi trong ca dao xứ Nghệ : “Ai về làng Vọt mà coi, tháng hai đã phải cạp cồi ló (lúa) ngô.” Còn bắp, thì giải thích bằng hình dáng trái không thuôn dài mà lại ngắn đẫn mập ú tựa bắp chuối.

Vậy, miếng ngon Xôi Lúa này mang quá trình đổi thay ngôn ngữ cả ba trăm năm, đi từ văn chương bác học Ngọc thục thử vay mượn xa vời, tìm đủ cách hội nhập bình dân, thay hình đổi dạng Xôi Lúa Ngô, Xôi Lúa Ngô Bắp, rút gọn Xôi Ngô, cuối cùng nôm na Xôi Bắp, nói lên ai cũng hiểu được.

Nguồn cội bắp còn trong vòng mơ hồ, nhưng kể lâu đời sử sách thì Mễ có bắp từ 7 ngàn năm nay, châu Mỹ có khoảng 3 ngàn năm, Trung Hoa có từ rất xưa không biết tự bao giờ, còn Việt Nam ta có từ thế kỷ 17, tức là cách đây hơn ba trăm năm. Sơn Tây là nơi đầu tiên trồng bắp. Bắp ngon có tiếng thì Nghệ An Sơn Tây Thái Nguyên Lạng Sơn, bắp cồn ở Huế, và bắp Biên Hòa. Có bắp tẻ bắp nếp bắp lòn bắp trắng bắp ngũ sắc bắp mọi …

Hạt bắp phơi khô chà sạch mày, ngâm nước qua đêm rồi hầm nở bung, trộn chung với nếp hông chín mềm. Đậu xanh đãi vỏ sạch, hông chín, giã nhuyễn, nắm lại, cắt nhỏ rải đều trên đĩa xôi bắp. Hành hương phi vàng với mỡ hay dầu, rắc rưới lên trên cùng. Muốn ngọt, cho tí đường. Có thể thêm muối mè rang vàng, tùy thích.

Ngày rời Việt Nam, tôi cũng chỉ xin một gói Xôi Lúa đem theo ăn đường, thay vì phải ăn những “đặc sản” máy bay.

Giở gói lá chuối bọc ngoài, bên trong là chiếc lá bàng rực rỡ roi rói tươi màu hổ hoàng, bao quanh những hạt ngọc xôi và bắp long lanh óng ánh, nằm ngoan dưới lớp đậu vàng mịn, bên trên điểm những khoanh hành hương xém nâu. Xúc một muỗng cho vào miệng, quyền quyện ngọt bùi những tặng phẩm mộc mạc ruộng rẫy bưng biền. Nghe những hương vị quê mùa thấm vào lưỡi qua khẩu cái trôi xuống cổ họng rồi vào bao tử, cảm thấy con tì con vị nở ra chín khúc tựa chín con rồng đồng bằng miền Nam.

Từ tầng mây cao ngất, tưởng nghe được tiếng rao lảnh lót ” Bắp Biên Hòa nóng hổi vừa thổi vừa ăn nè!” mỗi xế chiều ở Saigòn, và văng vẳng đâu đây vọng lại câu hò trên bến Thủ Thiêm bắp non mà nướng lửa lò …

Miếng ngon quê hương của tôi sau Cơm nắm Xôi Bắp, là Măng.



Măng Trúc


Muốn ăn Măng Trúc măng giang
Măng tre măng nứa, chè bàng cơm lam

Chè bàng cơm lam thì không ham, nhưng măng thì bất cứ nấu nướng cách nào tôi chẳng bao giờ khước từ.

Trước khi nói về măng, mầm non của tre trúc, bản năng tò mò của tôi nổi dậy. Bèn tìm tòi lục lọi, được biết tiếng Việt cổ gọi tre trúc là pheo, đến nay vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên vẫn còn dùng cụm từ tre pheo* này.

Tre trúc hay tre pheo cùng họ hàng với lúa và bắp, đều thuộc họ Hòa Bản, gọi nôm là họ nhà cỏ – Poaceae, nguyên gọi là Graminae – gồm nhiều họ phụ và có cả ngàn loại, được trồng nhiều nhất bên Tầu, Nhật và Ấn độ. Bên ta có khoảng 300 loại : bương giang hóp luồng nứa lồ-ô, tre đốm tre đen tre vàng tre la-ngà tre miễu, tầm vông mạnh tông tre ống điếu tre bụng Phật, tre xiêm tre nghệ … vô số kể !

Tre trúc khác nhau về hình dáng, kích thước, màu sắc, tầm cỡ, nhưng cùng chung đặc tính là mọc thành rừng lũy lùm cụm bụi, và mọc rất nhanh. Một đặc tính khác, là phải cả 30, 60 hay đến 120 năm mới ra hoa. Hoa kết quả là rừng tàn lụi. Mãi 5 đến 10 năm sau mới có rừng khác nhờ hạt nẩy mầm và măng mọc từ rễ ngầm. Hạt tre ăn được, từng là thức ăn trong những trận đói lớn tại Ấn Độ và Trung Hoa. Bài này chỉ nói về măng, miếng ngon quê hương, nên chỉ vòng vo đôi chút về tre trúc mà phải riêng một bài dài mới có thể kể hết được.

Về ẩm thực, măng có đặc tính thấm đậm hết hương vị ngon ngọt của bất cứ loại tôm cá thịt nào nấu chung, biến hương vị các thứ đó thành của nó, miếng măng trở thành ngon hơn gấp bội.

Xưa cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn nhàn đơn giản thu ăn măng trúc đông ăn giá, nhưng không thấy ghi nấu nướng ra sao. Măng gần gũi với dân gian hơn.

Ai về nhắn với họ nguồn
Măng non gửi xuống cá chuồn gửi lên

Măng kho cá chuồn cá đối cá chẻm cá dầy cá diếc cá măng … bất cứ loại cá béo nào. Tuyệt nhất là măng kho cá mòi. Tỉnh Bình Thuận ê hề cá, người Bình Thuận chê cá mòi quá béo nhưng không chê măng kho cá mòi, và chỉ chiếu cố gắp măng.

Ngoài ra, măng còn được kho với tôm và thịt heo, hoặc chỉ cần thịt mỡ có da, và nêm thêm mắm ruốc. Trời trở mùa se lạnh, nấu nồi cơm vừa chín tới, ăn với măng kho ruốc điểm ớt bột cay cay, hết sẩy !

Một câu nói vui líu lưỡi trêu nhau là xắt măng vằm măng chắm nước mắm, để tả món dễ làm nhất của măng. Măng luộc kỹ cắt mỏng thái sợi – hoặc băm/vằm – bóp ráo nước đem chấm nước mắm ớt đường chanh tỏi. Chỉ ăn đơn sơ như vậy, hoặc kèm cá mòi cá trê nướng vàng dòn.

Cầu kỳ hơn tí thì có món măng trộn. Cũng xắt măng vằm măng, trộn cùng tôm thịt luộc cắt mỏng, mè rang giã dập và rau răm thái nhuyễn, rưới nước mắm ớt đường chanh tỏi. Dùng bánh tráng dày nướng vàng xúc ăn.

Món măng xào đặc biệt ý nhị là :

Măng non nấu với gà đồng
Chơi nhau một chuyến xem chồng về ai

Măng này phải là măng le măng tầm vông hay mạnh tông là ba thứ ngon nhất, loại tre cật đặc ruột, vừa mềm vừa dòn. Những lát măng nõn nà màu ngà chen giữa những miếng gà đồng (thịt ếch), bày rõ cặp đùi non trắng mịn óng mượt e ấp giữa đám hành lá màu lụa hoa hiên hoa thiên lý, những cọng ngò ngăn ngắt xanh và mấy cọng ớt đỏ hồng. Rất gợi tình ! Đúng là lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi !

Ngoài món măng xào gà đồng, măng còn đi chung các thứ rau đậu khác kèm với bất cứ loại thịt nào – tôm gà heo bò … – hoặc chỉ cần đậu phụ, là đầy đủ chất tươi có cả khoáng và đạm.

Măng giang nấu cá ngạnh nguồn
Đến đây em phải bán buồn mua vui

Măng giang là mầm loại tre lóng dài rỗng ruột, đem bào mỏng muối chua để dành. Đến mùa cá ngạnh nguồn béo ngậy bụng trứng ửng hồng, đem nấu canh có cà chua ớt đỏ phi lên cho nước dùng óng ánh tươi, trên rắc tiêu cho ngọt rắc hành cho thơm. Măng giang và cá ngạnh đi vào văn chương bình dân, trong khi các thứ canh măng chua khác cũng dùng cá – bông lau diếc hanh kình thu thác lác … – không được may mắn đó, có lẽ vì không mang nỗi buồn xa xứ như người nấu canh cá ngạnh.

Miền Trung có món canh thập toàn – nôm na là tập tàng – gồm trên dưới mười thứ rau, nấu với tôm khô giã dập hay tôm tươi bóp dẹp, thịt nạc heo băm nhuyễn hoặc giò sống. Ngoài rau, còn có măng vòi. Măng vòi là mầm non của hóp và tre nhỏ. Mồng tơi bồ ngót mềm dịu, bát bát rau má mềm dòn, rau sam rau me đất mềm chua, rau đay mềm rền, mướp hương mềm ngọt … trong khi măng vòi sần sật dòn. Các thứ rau mướp xanh ngăn ngắt lẫn vào nhau, tôn màu trắng lụa nõn nà của những lát măng bào mỏng mịn. Đùa cuộn rau và măng giữa răng, cắn đệm một quả cà phào nhỏ muối xổi đã quẹt tí mắm tôm, cảm thấy miệng lưỡi ôm trọn hương vị vườn rau sau nhà mẹ.

Măng vòi thái sợi có mặt trong món mắm tôm chua Huế, trộn lẫn những lát tỏi mỏng, sợi riềng màu ngà, thú đủ ngọc thạch, ớt đỏ tươi, và cà-rốt màu gạch non. Mắm tôm chua kẹp thịt heo luộc kèm khế chuối chát vả rau sống, ăn với cơm rất đậm vị, mà với bún cũng hết ý.

Nói tới bún, phải kể bún gà bún vịt bún ngan, gọi chung là bún xáo măng. Món xáo măng đặc biệt nhất không biết mấy ai được thưởng thức thực, hay chỉ biết qua ca dao:

Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng …

Măng với bún, không ai quên được bún măng khô hầm giò heo nấm mèo đông cô. Măng khô ngon phải là măng đặc ruột dày miếng như măng lưỡi heo lưỡi trâu lưỡi bò, luộc đi luộc lại thay nước kỹ hầm mềm rồi mới nêm nếm nấu nướng. Tết đến, từ Bắc chí Nam qua hải ngoại, hầu như nhà nào cũng có nồi măng khô hầm giò. Hết Tết, các thức ăn thừa được dồn vào nồi hầm này, đệm thêm cải cúc cải cay cải xanh cải trắng, là có đủ hương vị thơm ngon béo bổ ngọt bùi.

Miếng ngon quê hương của tôi, dẫu xa xôi hải ngoại cũng vẫn dễ kiếm tìm, bởi chúng nằm chính trong trái tim, trong máu thịt mình. “Đặc sản” quê mùa mộc mạc như những thứ vừa kể nếu không trồng trỉa được, không tìm đúng gốc Việt thì gốc Hoa gốc Hàn gốc Lào gốc Miên gốc Nhật gốc Thái gốc Phi gốc Mỹ gốc Mễ … Trong ba ngàn cõi ấy****, gốc nào lại chẳng có cội nguồn từ lòng đất, quê hương của con người, riêng chi Đất Mẹ !

Trần thị Lai hồng
Nguồn: Sáng Tạo

Chú thích :


* Tươi mươi : sống; pheo : tre, tiếng Việt cổ, theo Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, Từ điển Nguồn gốc Tiếng Việt, sắp xuất bản

** Vũ Bằng, Miếng Ngon Hà Nội, Nam Chi Tùng Thư, Saigòn 1960

*** Lê Quí Đôn, Vân Đài Loại Ngữ, Việt Nam Bách khoa Toàn thư, Nhà Xuất bản Miền Nam, Saigon 1973

“ Ngọc thục thử : Về ngọc thục thử, sách Bản thảo nói rằng : ” Ngọc thục thử cũng giống như cây ý dĩ, cây cao độ ba, bốn thước, trong giữa cây có một cái bọng, trên cái bọng có râu trắng. Cái bọng ấy mà nứt, thì lòi ra hạt chi chít với nhau, sắc vừa vàng, vừa trắng, đem rang lên ăn được. Khi rang thì nó nở bỏng trắng, như rang thóc nếp; ăn bỏng ấy thì thân thể điều hòa, miệng ăn biết ngon (điều trung khai vị)” Nước Nam ta gọi thứ ngọc thục này là lúa ngô (bắp). … Hồi đầu đời Khang Hy (1662 – 1723), Trần Thế Vinh người huyện Tiên phong (Sơn Tây) sang sứ nhà Thanh, mới lấy được giống lúa ngô đem về nước. Suốt cả hạt Sơn Tây nhờ có lúa ngô thay cho cơm gạo.”

**** Võ Đình, Một Cành Mai, An Tiêm Paris xuất bản

Đạo vốn không nhan sắc
Mà ngày một gấm hoa
Trong ba ngàn cõi ấy
Đâu chẳng phải là nhà


(Thiền sư Thiền Chiếu, đời Lý, thế kỷ 11)

CƠM NẮM

29 thg 3, 2026

Ở Đây Buồn Hơn Gò Dầu - Thuyên Huy

 


MỜI XEM



Dì Tôi - Người Nữ Tu Bạc Mệnh - Thuyên Huy

Giai thoại Trần Đức Thảo kiện Jean Paul Sartre ở Paris Nam Nguyễn

Đầu năm 1941 Paris-khi đó hoàn toàn bị Đức phát xít chiếm (khác với miền Nam nước Pháp vẫn còn dưới quyền quản lý của chính quyền Pétain) đã ầm ĩ lên một vụ kiện “vô tiền khoáng hậu” và được báo giới chăm sóc, tường thuật kỹ lưỡng và giới trí thức của “kinh đô ánh sáng” theo dõi sát sao. Tên của nó được báo giới là “Vụ kiện mang tính chất Parisien nhất trong lịch sử Paris”, được khoe ngầm là chỉ ở một nơi trí thức được trọng vọng như Paris thì mới có thể có một vụ kiện tương tự, trong hoàn cảnh thế chiến lần thứ 2 đang gay cấn như vậy!


Người bị kiện là Jean-Paul Sartre -một thần tượng của giới trí thức trẻ thủ đô. Anh ta suốt ngày “ngồi đồng“ ở một quán cafe tại quận 6, gần tháp Eiffel, nơi trước đây là tụ điểm của hai nhà thơ nổi tiếng nhất Pháp đương đại-Verlaine và Baudelaire, và bây giờ đến thời Satre “độc diễn”, bọn thanh niên vây quanh “ngôi sao” để hỏi ý kiến về mọi chuyện trên trời dưới biển, chẳng khác gì thỉnh giảng của “sư phụ” hay đúng hơn là guru. Sartre đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm Paris về ngành triết và trở thành người đại biểu nổi bật của chủ nghĩa nhân đạo hiện sinh. Lúc này Sartre đang cặp kè với Simone de Beauvoir-nữ văn sỹ và người đấu tranh cho bình đẳng giới nổi tiếng nhất nước Pháp thời bấy giờ, và thế là bắt đầu một tình bạn, tình yêu của hai người đồng chí hướng-họ đều trở thành những nhà văn và nhà triết học hàng đầu nước Pháp…Chưa bao giờ trở thành vợ chồng (cả hai đều không chấp nhận hôn nhân), nhưng ngày nay hai ngôi mộ của họ nằm cạnh nhau tại nghĩa trang Montparnasse tại Paris. Đã quá nhiều người viết về họ, nhưng ở status này họ chỉ là “bên bị”.


Jean Paul Sartre

Người bị kiện là Jean-Paul Sartre 

một thần tượng của giới trí thức trẻ thủ đô

 

“Bên nguyên” lúc này mới chỉ nổi tiếng tại trường Đại học Sư phạm Paris thôi, vì anh mới học năm thứ ba khoa triết. “Annamite”, tên là Trần Đức Thảo (lúc này Pháp coi thường thuộc địa và ít dùng từ Vienamien) học mấy năm dự bị ở Paris và cũng mới vào trường này thôi, nhưng đã nối tiếng là sinh viên xuất sắc rồi! Đúng truyền thống “triết gia”, Thảo luôn ăn mặc luộm thuộm, bẩn, đầu tóc bù xù, ăn uống thất thường và nói nhiều! Luận án tốt nghiệp (Agrege) Thảo viết mỗi ngày chỉ một trang, thời gian còn lại ông ngồi hoặc nằm ngoài ghế đá trong trường.

 

Hồi đó sinh viên An Nam như Thảo được Bộ Thuộc địa Pháp trả 1000 quan/tháng, cũng đủ ăn mặc và trả tiền phòng. Cũng tạm đủ ăn đủ mặc, Đức chiếm đóng nên đời sống khan hiếm, nhất là thịt, bơ, pho mát, trứng…phải mua chợ đen, và nhất là tem phiếu mua thuốc lá, những sinh viên Việt Nam thường không hút mà mang bán lại để thêm tiền sinh hoạt. Thảo cũng vậy, nhưng đúng như phong thái triết gia, Thảo phải thi thoảng uống rượu, cho nên cũng túng bấn, vì thế tuy đã yêu nhau nhưng ông và bà Nguyễn Thị Nhứt chưa sống chung được với nhau. 


Lý do vụ kiện lịch sử như sau: Thảo coi mình là người hiểu về thuyết hiện sinh còn hơn cả Sartre-lá cờ đầu của chủ nghĩa hiện sinh tại Pháp! Thời đó mặc dù chiến tranh xảy ra nhưng các hoạt động khoa học vẫn rất được coi trọng, vẫn có những buổi diễn thuyết với đề tài hay và hội trường chật cứng người nghe, nhiều khi phải tổ chức cho diễn giả nói ngoài trời! Triết học là môn khoa học xã hội được coi trọng bậc nhất thời đó, “sang trọng” nhất, trong giới triết học cũng như tri thức trẻ Paris “ông vua không ngai” Sartre không thể chịu được “ngôi sao đang lên”-một kẻ kém mình đến hơn chục tuổi, lại là dân Annamite mà lại lộng ngôn như vậy- nên chấp nhận lời thách đấu. Hai người thỏa thuận với nhau là sẽ tranh luận công khai nhiều buổi, tất cả nội dung tranh luận sẽ được đăng chính xác trên tờ báo “Esprit”-một tờ báo “ruột” của Sartre. Sau nhiều bài báo về đề tài đó, Thảo phát hiện ra tờ báo không đăng đúng nguyên văn lời của anh, mà sửa đi theo cách có lợi cho Sartre, thế nên quyết định kiện Sartre ra tòa vì tội “không tuân thủ hợp đồng danh dự”!


Ra tòa Thảo mang cả microsillon-là một loại đĩa than làm từ băng cối ra, để thu phát âm –trình ra để làm bằng chứng cuộc đấu khẩu, trong đó Thảo có nói đến nhiều thuật ngữ cơ bản bằng tiếng Đức! Tòa tất nhiên không thể xử Sartre-một thần tượng của “mẫu quốc” lại thua một người con thuộc địa, nên cuối cùng đã xử hòa! Ông phải chật vật để trả nửa tiền án phí nhưng cả Paris hiểu rằng Thảo mới là người chiến thắng …


Trần Đức Thảo sau đó làm luận án tiến sỹ triết học tại Pháp với đề tài về triết học của Husserl. Ngoài ra ông có một đề tài rất lạ “Tìm hiểu về nguồn gốc các ngôn ngữ và ý thức”. Gia tài triết học của Thảo rất đồ sộ và chắc nhiều năm nữa mới có thể có người đánh giá được hết. Đối với giới triết học Pháp thì Trần Đức Thảo vẫn là một tượng đài để kính trọng “Nếu không có Thảo thì giới triết học Pháp đã không có đề tài gì để tranh luận trong suốt mấy chục năm cuối thế kỷ 20!”- à đánh giá rất cao của họ về các tác phẩm của ông về chủ nghĩa Marx.

Còn tôi thì hoàn toàn công nhận đánh giá của nhà sử học Trần Văn Giàu về ông Thảo, ông là nhà triết học đúng nghĩa duy nhất của Việt Nam ta cho đến ngày nay…



Cuộc tranh luận triết học giữa Trần Đức Thảo và Sartre

trong cuốn Đèn cù của Trần Đỉnh 

Đông La


Trong cuốn Đèn cù,Trần Đĩnh có viết về cuộc tranh luận triết học giữa Trần Đức Thảo và Sartre. Với những người quan tâm đến triết học, đây là một cuộc tranh luận lừng danh, vì có lẽ Trần Đức Thảo là người Việt Nam duy nhất tranh luận với một nhà triết học, nhà văn tầm cỡ Jean-Paul Sartre, người từng được trao giải Nobel Văn học vào năm 1964 nhưng ông từ chối.


Theo GS Nguyễn Đình Chú: “Trần Đức Thảo đã đứng trên lập trường Mác-xít tranh luận với nhà triết học nổi tiếng của Pháp là ông Jean-Paul Sartre và được dư luận cho là thắng cuộc”. Cuộc tranh luận này cùng với nhận xét của GS Trần Văn Giàu về Trần Đức Thảo thường được coi là những cơ sở để giới học thuật cho rằng, ở Việt Nam chỉ có học giả triết học còn để được gọi là “nhà triết học” thì chỉ có duy nhất Trần Đức Thảo. Cũng theo GS Nguyễn Đình Chú: “Giáo sư dạy triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chúng tôi ở năm thứ nhất là Trần Văn Giàu mà thuở ấy, không chỉ với học trò chúng tôi mà còn cả với dư luận xã hội, là một thần tượng không ai bằng. Ấy vậy mà một lần, trong buổi giải lao, giáo sư Trần Văn Giàu đã nói với học trò tại sân trường, các cậu muốn biết thế nào là triết học thì hãy chờ sang năm học với thầy Thảo. Thầy Thảo là người đọc gần hết sách của thư viện Paris”.


Có điều theo Trần Đĩnh, sự thật cuộc tranh luận triết học giữa Trần Đức Thảo và Sartre lại chỉ là chuyện “tưởng tượng”: “Sáng  hôm  ấy,  tôi  hỏi  anh  tranh  luận  với  Sartre  ngày  ở Pháp  làm sao, Thảo nhăn mặt  lại: Tranh  luận nào?... Không có đâu. Tranh luận thế nào được với Sartre? Thấy rõ nét mặt ngượng nghịu của anh lúc bấy giờ. 


Chuyện là như thế này: lúc ấy có một hội thảo trên sách báo của giới triết học, trong đó có Thảo. Theo dự định, Sartre cũng có một tham luận - và tham luận ấy đối lại với cái của Thảo chứ không phải có tổ chức hội thảo mặt đối mặt với nhau, nhưng rồi không hiểu sao Sartre không  tham  luận nữa. Thảo nói chắc ông  ta  thấy nhảy vào cuộc này chẳng đem lại danh giá gì hơn cho ông ta.


Theo TS Triết học  Cù Huy Chử và Cù Huy Song Hà:

“Năm 1950, Trần Đức Thảo đối thoại với Jean-Paul Sartre về chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa Mác. Điểm khác nhau căn bản trong cách đặt vấn đề là: Jean-Paul Sartre chỉ công nhận chủ nghĩa Mác có giá trị về khoa học lịch sử và xã hội, theo ông chủ nghĩa Mác không có giá trị nhận thức triết học. Ngược lại Trần Đức Thảo cho rằng chủ nghĩa Mác có giá trị toàn diện, cả lịch sử, cả xã hội và cả triết học. 

Cuộc đối thoại gặp bế tắc khi đề cập đến Hiện tượng học của Husserl, vì Jean-Paul Sartre chưa thấu hiểu chủ nghĩa Mác và chưa đọc hết các tác phẩm căn bản của Mác, Jean-Paul Sartre cũng chưa đọc hết các tác phẩm của Husserl. Bởi vậy cuộc đối thoại đi vào bế tắc, thất bại, hai bên không ra được tác phẩm chung về cuộc đối thoại ấy. Sau này khi Jean-Paul Sartre qua đời, Trần Đức Thảo có nói với chúng tôi: Phải tầm cỡ như Jean-Paul Sartre mới đặt ra được sự nghi vấn về giá trị triết học của chủ nghĩa Mác, bởi vì trong bối cảnh lúc bấy giờ, tư tưởng Stalin đang đóng vai trò gần như thống trị học thuyết mác-xít, đã hướng chủ nghĩa Mác đi vào chính trị đơn thuần, dung tục hóa, đơn giản hóa chủ nghĩa Mác, làm mất đi giá trị căn bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đó là tính nhân văn, nhân bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, có khả năng khái quát toàn bộ quy luật của sự vận động của thế giới, là sự phát triển của tự nhiên tất yếu dẫn đến sự phát triển có tính loài của con người, sự phát triển của xã hội. Cuộc trao đổi giữa Trần Đức Thảo với Jean-Paul Sartre tuy không có kết quả, nhưng Trần Đức Thảo đã ý thức được của việc nhận thức và phát triển sai lệch triết học Mác thời điểm ấy”.


Như vậy ai đúng, ai sai, sự thật về cuộc tranh luận là như thế nào?

Còn cuộc tranh luận giữa Trần Đức Thảo và Jean-Paul Sartre có lẽ đúng nhất là theo chính Hồi ký của Trần Đức Thảo mà ông đã viết trước khi mất mấy năm:

“Trong giai đoạn cuối cùng của tôi ngày xưa ở bên Pháp, tôi đã xác nhận chủ nghĩa Marx trong bài từ giã chủ nghĩa hiện sinh: “Hiện tượng học của tinh thần và nội dung thực tế của nó”. (Les Temps Modernes tháng 9-1948). Trong ấy tôi biện minh cho sự lựa chọn của tôi bằng cách nêu lên những chân trời rộng rãi mà quan điểm duy vật biện chứng và lịch sử xã hội mở ra cho công việc phân tích ý thức sinh thức.


Đấy là cái mà tôi đã tìm cách giải thích cho Jean-Paul Sartre trong năm buổi trao đổi tiến hành vào mùa đông 1949-1950, theo lời mời của ông ấy. Tuy nhiên buổi nào cũng đi đến kết quả tiêu cực, do sự bất đồng cơ bản ngay từ xuất phát điểm trong thế giới quan của hai bên. Cuối cùng thì chỉ còn có thể ghi nhận rằng không thể nào dung hòa giữa chủ nghĩa hiện sinh với chủ nghĩa Marx”. 


Nguồn: triethoc.edu.vn

22-9-2014

 Xem Thêm : Trần Đức Thảo

                      Jean-Paul Sartre

27 thg 3, 2026

Vườn Thơ Mới Kỳ 187, Bài Xướng :XA CHA -PTL

 

Xa Cha

Năm bảy chín (1979) tiển Cha về quê nội
Con vội vàng vĩnh biệt nước ra đi
Không biết tương lai có được cái gì
Đành thắt ruột xa Cha thêm lần nữa

Nhìn xe đò đến đón Cha nơi cửa
Con ngậm ngùi xin bất hiếu với Cha
Rồi ngày mai con sẽ đến phương xa
Không thân thuộc người quen hay bằng hữu

Nơi đất khách con trông về quê cũ
Đời quan phu lặng lẽ sống nuôi con
Con biệt tăm Cha ngóng đợi mõi mòn
Năm tám bảy (1987), Bồng lai, nơi Cha đến

PTL

Oct. 10, 2025

quan phu   : người góa vợ

Họa 1:

Nhớ quê xưa.

Mỗi dịp tết háo hức về nhà nội
Kiến trúc xưa sàn gỗ mát chân đi
Thuở ấu thơ chưa phải nghĩ lo gì
Leo hái trái hết cây này, cây nữa...

Chơi cút bắt trốn mình sau cánh cửa
Chiều tắm sông, sợ nước níu chân cha
Ngắm lục bình theo sóng mãi trôi xa
Hoa tim tím như mời ai sở hữu.

Năm tháng dần trôi còn đâu cảnh cũ
Tóc bạc màu mong trở lại trẻ con
Bờ sông xưa sóng xô lở hao mòn
Bao ký ức chợt về khi tết đến.
Minh Tâm

Họa 2:

Mất Ba 

Rơi nước mắt đưa ba ra đồng nội
Bảy chín mùng mười ba trút hơi đi
Tai họa từ đâu ập tới làm gì
Ba đã mất không còn mong chi nữa

Quan tài của ba cây gòn trước cửa
Bốn thanh dài đủ đựng hình hài cha
Đau xót tâm cang máu chảy chia xa
Mắt đẩm lệ đám ma vài thân hữu

Đổi đời đói khổ năm giao thời cũ
Anh trai tù cải tạo thiếu bà con
Tiển cha đi theo xóm nhỏ lối mòn
Khăn tang trắng mộ phần nơi ba đếnHương Lệ Oanh VA

Họa 3:

Nỗi lòng

Chủ tịch Đảng hổn danh Ông Cố Nội
Nước non nầy Ông quyết định hướng đi
Đất nước ta Ông chả phải quái gì
Tài sức hẳn khỏi cần bàn tới nữa

Hậu quả đến cảnh tan nhà nát cửa
Con cái cam đành cách biệt mẹ cha
Tìm đất lành dù lạc bước phương xa
Ruộng vườn đất Đảng Ta đà chiếm hữu

Nơi xa xôi chợt nhớ về chốn cũ
Con sông Đồng ôm ấp mái tranh con
Thôn ấp nhỏ giăng mắc dấu chân mòn
Ông Cố Nội tại sao Ông lại đến ?!
THT

Họa 4:

Ký ức

Sau cuộc chiến Mẹ đưa về xứ nội
Bến Ninh Kiều tấp nập lắm người đi
Nhìn mong lung không hiểu bởi lẽ gì
Chỉ cảm nhận bình an không còn nữa

Chập choạng tối, ông tựa mình trước cửa
Nét buồn lo trông ngóng của người cha…
Khánh chồng con đồn trú ở phương xa*
Ảnh không thể nào rời xa chiến hữu…

Lời mẹ nói đầm đìa dòng lệ cũ
Kể từ khi Mẹ biết mất cha con
Mắt mẹ thâm sẫm tím đến héo mòn
Ông vội bảo… Tìm nơi an trú đến… **
Tâm Quã

*Lời của mẹ
**Ông bà nội và Mẹ-Tôi ra biển
Cuộc đời trôi theo một chuyến hãi hành

Họa 5:

Xa Mẹ vĩnh viễn

Đậu phỏng vấn tôi vội về bên nội
Thăm mẹ già lần cuối , bước chân đi
Nhìn tương lai không biết trước điều gì
Nhưng quyết định, cơ may không còn nữa

Nhà tôi đó bóng mẹ già tựa cửa
Ngồi trông con về làm giỗ cúng cha
Gặp mẹ lần cuối vĩnh viễn chia xa
Cô đơn cất bước không ai thân hữu

Ôi ly khách nay ngóng về chốn cũ
Ta ngày đêm sống lặng lẽ vì con
Vui một ngày vẫn nhớ mẹ hao mòn
Mẹ tạ thế chốn Vĩnh hằng tìm đến…
Nguyễn Cang
Mar. 1, 2026

Họa 6:

Ân phụ

Con tiễn bước đau lòng cha về nội
Lệ rơi hoài lòng nghẹn tiễn cha đi
Mai ra đi lòng quặn biết được gì
Đêm vắng bước con tim đau lần nữa

Sân chiều vắng con thơ nhìn ra cửa
Con xa quê lòng nghẹn nhớ về Cha
Mai ly hương đời mỏi bước đường xa
Tình nghĩa cũ con còn đâu bằng hữu

Nơi đất lạ con tìm về quê cũ
Cha âm thầm đời tần tảo nuôi con
Con xa quê lòng khắc khoải đợi mòn
Ngày trở gót con mong cha về đến
ChatGPT AI

Chú thích của PTL về từ cải tạo:
Sau 30-4-1975, chính quyền dùng từ cải tạo 改造 .
Đó là sai lầm. Cải tạo nghĩa là sửa đổi, làm cho thích ứng với hình thể và nhu cầu mới.
Từ này dùng cho vật vô tri vô giác.
Trong Thi Kinh 詩經 có câu:
Truy y chi hảo hề, Tệ dư hựu cải tạo hề
 緇衣之好兮, 敝予又改造兮
Áo đen (xưa dùng chỉ trang phục mộc mạc) đẹp tốt, nếu rách thì chúng tôi làm cái áo khác đổi cho

Muốn dùng cho con người thì phải dùng cải hối 改悔 nghĩa là hối lỗi và sửa đổi
Trong Chiến quốc sách 戰國策 có câu:
Thái tử trì chi, nghi kì hữu cải hối 
子遲之, 疑其有改悔 
 Thái Tử Đan thấy chậm trễ, ngờ Kinh Kha đã hối hận mà đổi ý.

Trước 30-4-1975, miền Nam dùng từ Cải huấn 改 訓
Cải 改: biến đổi
Huấn 訓 : dạy dỗ
Cải huấn nghĩa là quá trình dạy đỗ, rèn luyện và uốn nắn lại hành vi, tư tưởng 
của những người vi phạm pháp luật hoặc trẻ em hư hỏng.

Xem Thêm 
1. Tân nhạc: Xa Cha
Lời bài hát: Trần-Lâm Phát
Ca sĩ: AI Suno
Và Các Bài cổ Nhạc Tại :


: