2 thg 8, 2026
Chọi Chữ - Quý Thể
Chọi Chữ
Hồi lớp đệ thất (lớp sáu) học sinh chúng tôi có trò chơi lúc đầu gọi là trò làm tự điển, sau gọi là “chọi chữ”. Trò này lấy chữ mà chơi, ai nhiều chữ nấy thắng. Cách chơi khá đơn giản. Cứ đề ra chữ nào đó rồi đứa lấy giấy bút ra kê, xong đếm lại, ai nhiều hơn sẽ thắng. Ví dụ: Lấy chữ “cà”
-Cà phê, cà ri, cà rà , cà rá, cà cuống, cà rốt, cà sa, cà rỡn, cà nhắt, cà khịa, cà mèn… cà riềng tỏi, cà kê dê ngỗng, cà lăm cà lặp, cà răng căng tai…
Tôi có thằng bạn tên Đạo, thằng này có biệt tài chọi chữ. Lần nào chơi nó cũng thắng, Nó có những từ rất đặc biệt, có khi người khác cãi, nó đem từ điển tới, ai cũng chịu. Nó có một chữ “cà” hết sức lạ lùng là “cà ràng”. Từ điển lớn và mới nhất mới thấy ghi từ này: Đó là thứ lò đất nung dùng trên ghe thuyền ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lò gồm ba ông táo nhỏ gắn trên cái đế bằng đất nung. Miền Nam có thành ngữ cà rang cà đụng. Thằng Đạo có vốn từ giàu chẳng ai bằng. Từ ngữ ba miền, mới cũ nó đều thông.
Trò chọi chữ khởi đi từ lớp tôi lan sang những lớp khác. Thế là mỗi lớp thành lập đội tuyển chọi chữ. Đội tuyển có ba thành viên. Năm ấy Đạo, Lê và tôi được cả lớp tín nhiệm cử đi thi đấu với lớp ngũ bốn, nghĩa là lớn hơn lớp tôi hai năm. Đây là cuộc thi không cân sức thế nhưng đội tuyển lớp tôi đã thắng.
Muốn chọi chữ giỏi phải có chữ nhiều. Có vốn từ phong phú, mà vốn từ chính là vốn sống. Chúng tôi những cậu bé mười tuổi vốn sống chưa đựng đầy chiếc túi nhỏ, lấy chữ đâu mà chọi. Hồi đó nhà tôi có quyển Từ điển tiếng Việt của Hội Khai Trí Tiến Đức. Quyển sách bọc bìa vải đen, khổ to và dày, ôm không nổi, làm sao học cho hết? Thằng Đạo bày : “tìm chữ lạ mà học” Ôi không biết bao nhiêu chữ nghĩa làm sao học. Tuy chỉ mới lớp sáu nhưng trình độ học sinh thời đó đã khá nên chúng tôi biết liệt kê theo cách các nhà làm từ điển, theo A,B,C…
Học sinh thời nào cũng có nhiều trò chơi, hầu hết những trò chơi đó đều bị thầy cô và nhà trường cấm. Tiếng trò chọi chữ là trò chơi trí tuệ, có lợi cho môn văn và nhất là lại có cái lợi thiết thực khi chơi trò này trong lớp bớt náo loạn ồn ào nên được nhà trường khuyến khích.
Thường vào cuối tháng năm đầu tháng sáu, khi kỳ thi đệ nhị tam cá nguyệt (học kỳ 2) đã xong, không khí học tập có phần uể oải, lơ là, thầy cô cũng nới tay, đó là lúc trò chọi chữ nở rộ. Chiều hôm ấy học sinh tổ chức cuộc thi chung kết chọi chữ giữa lớp Thất Ba đấu với Ngũ bốn. Chữ bốc thăm đem ra chọi là chữ “Ăn”, một chữ rất giàu có của tiếng Việt:
-Ăn thề, ăn vạ, ăn gian, ăn mày, ăn xin, ăn hiếp, ăn sương… ăn xổi ở thì, ăn tươi nuốt sống, ăn vóc học hay, ăn mặn nói ngay, ăn xem nồi, ăn không ngồi rồi, ăn nên làm ra…
Đội thất ba thắng đội ngũ bốn nhờ có ba chữ ăn thuộc loại quái chiêu : Ăn ong (đi tìm mật ong), ăn đàng sóng nói đàng gió (nói năng ngang ngược), Ăn lông ở lỗ. Công đầu thuộc về thằng Đạo. Chữ nó nhiều vô số.
Tôi đinh ninh sau này thằng Đạo thế nào cũng làm nghề nghiệp gì liên quan đến chữ nghĩa. Nó sẽ thành nhà soạn từ điển. Tôi tin từ điển hắn soạn ra chẳng thiếu chữ nào. Thằng Đạo làm luận hay lắm. Bài hắn kỳ nào cũng được thầy đọc cho cả lớp nghe. Hắn còn giỏi văn nghệ, làm thơ, viết báo tường. Hắn là một học sinh kiểu mẫu mà thầy cô lấy ra làm gương cho chúng tôi noi theo.
“Xã hội” học trò chỉ có hai “giai cấp” học giỏi, học dở. Hai nhóm này chẳng cố định và cũng chẳng thấy có đấu tranh gì gay gắt cả. Tháng này học nhiều, đứng cao, tháng sau lười biếng rơi xuống cuối sổ trở thành nhà lực sĩ đội trên đầu bốn mươi bạn đồng lớp, thế là chuyển từ giai cấp này sang giai cấp kia.
Học xong ra đời chẳng thế. Cuộc đời tàn nhẫn hơn. Với sự có mặt của gia thế nó đóng đinh số phận con người vào một vị trí nhất định và trừ khi có phép lạ mới nhảy từ cấp dưới lên cấp trên. Thế nhưng rủi ro sơ sảy, chỉ trong chốc lát rơi tới đáy lầm than!.
Ra đời mỗi học sinh một hoàn cảnh. Có kẻ học rất giỏi lại chẳng ra gì. Có đứa học dốt kiếm được chỗ đứng trên cao. Tôi thuộc hạng này. Thuở còn đi học tôi học hành tầm thường thế nhưng khi vào đời lại làm vị quan toà xét xử và định đoạt số phận kẻ khác.
Có lần xử án, cảnh sát lôi từ xe bít bùng xuống một người đàn ông đẩy hắn tới trước vành móng ngựa. Tôi ra lệnh mở còng. Trông hắn rách rưới thiểu não, tồi tệ. Hắn bị đưa ra toà về tội trộm. Một tên trộm hạng bét, tầm thường. Tôi bảo hắn khai tên họ, tuổi tác, nghề nghiệp, chỗ ở. Khi hắn ngẫng đầu lên tôi đã ngờ ngợ, nhưng chưa tin vào mắt mình. Tại sao trông hắn giống như thằng Đạo, vua chọi chữ cách đây hai mươi năm thời chúng tôi còn là học sinh ngồi chung bàn? Tuy giờ đây cuộc sống nhọc nhằn đã khiến cho hắn già cả tiều tuỵ. Tôi tự nhủ: Lẽ nào người ấy là thằng Đạo, thằng học trò thông minh học giỏi, hạnh kiểm tốt, đầy tài năng lại chịu cảnh khốn cùng đến nỗi di vào ngõ cụt như thế này? Tôi nhận ra hắn nhưng hắn vẫn chưa ngước lên nhìn tôi. Cũng khó mà nhìn ra tôi. Ngày trước tôi là cậu học sinh ốm o và nhỏ nhất lớp song giờ đây tôi đã trở thành vị quan toà phương phi bệ vệ, mặc áo choàng đen ngồi trên chiếc ghế uy nghi. Chung quanh tôi là một quang cảnh đầy sự tôn kính và đang làm cái công việc định đoạt cho số phận con người nhỏ nhoi hèn mọn đang đứng trong vành móng ngựa dưới kia. Tôi hỏi:
-Tên họ?
Hắn ngẫng lên nhìn tôi. Hình như hắn cũng có tâm trạng như tôi, nghĩa là lẽ nào thằng bạn ngày xưa lại là người xét xử hắn. Hắn cúi xuống, không trả lời. Tôi giục:
-Họ và tên, khai đi!
Và hắn ngước nhìn lên một lần nữa. Bây giờ chẳng còn nghi ngờ gì. Chúng tôi đã nhận ra nhau trong một tình cảnh cực kỳ oái oăm và khó xử cho cả hai. Tôi đùa:
-Này “vua chọi chữ”…
Hắn hỏi:
-Cái gì? Nhái bén chàng hiu (Biệt hiệu của tôi thời học sinh)?
Tôi nói:
-Có một chữ rất dễ…
Hắn hỏi:
-Chữ gì?
-Tên họ của mình…
Hắn buồn bã lắc đầu. Hình như hắn không muốn đem cái chữ “đạo” ra chọi với cuộc đời, với hoàn cảnh éo le bây giờ. Hắn muốn giữ cái tên tuổi tốt đẹp đó cho quãng đời học sinh tuyệt vời ngày trước mà thôi. Tôi cố ép hắn:
-Này vua chọi chữ đừng có giấu nữa. Lấy chữ Đạo ra chọi nhé – và rồi tôi ứng khẩu đọc một lô – đạo diễn, đạo sĩ, đạo đức, đạo hạnh, đạo đồng, đạo mạo…
Hắn nói:
-Thiếu hai chữ.
-Hai chữ gì?
Hắn cười:
-Đạo chích, đạo tặc! (trộm cắp)
Hắn không xin giảm án. Hắn không chịu nhún mình. Hắn vẫn giữ được tính cách cao ngạo dễ thương thời còn đi học. Hắn lãnh án. Đưa hai tay ra cho người ta còng, bước ra, vừa đi vừa cười./.
Quý Thể
https://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2014/05/choi-chu-quy-the.html
1 thg 8, 2026
TRANG FACEBOOK NGHĨA TÌNH .FB Hiệp Nguyên SP.Phước Tuy
TRANG FACEBOOK NGHĨA TÌNH .FB Hiệp Nguyên SP.Phước Tuy
Tôi nhớ có đọc đâu đó một bài viết khá tâm đắc. Có lẽ tác giả là một người cao tuổi vui tính, nên kể chuyện rất hài hước, nội dung so sánh tuổi già giữa hai thế hệ. Ngày xưa tuổi già là Râm Mát Mái Thềm - ngồi đếm lá rụng, đợi con cháu về. Tuổi già ngày nay Lướt Facebook, Gọi Zalo…. Cái thềm đó mở rộng ra cả thế giới. Cuối bài tác giả kết luận : Mạng xã hội không làm chúng ta già. Không chịu học hỏi, không chịu chia sẻ, không chịu kết nối mới làm chúng ta già đi !
Cũng gần mười năm rồi, từ lúc khép lại những hối hả của công việc, tôi chính thức bước vào hành trình nghỉ hưu trên đất nước Canada xinh đẹp. Những năm tháng đầu tiên ấy, mỗi khi nhìn tuyết phủ trắng ngoài khung cửa, hay nghĩ đến khoảng xa nửa vòng trái đất, khiến lòng người xa xứ như tôi không khỏi trăn trở, nên đã tìm cách tạo cho mình một góc nhỏ trên không gian mạng này.
Lúc đó trang Facebook của tôi chỉ giới hạn bóng dáng của những người thân yêu trong phạm vi gia đình. Chúng tôi tìm đến nhau qua từng dòng tin nhắn, hỏi thăm về công việc, về sức khoẻ và chia sẻ cho nhau những bức ảnh kỷ niệm. Cảm giác hơi ấm gia đình vượt qua nghìn trùng xa cách, đọng lại ngay trên màn hình chiếc điện thoại chưa khi nào xa rời tôi.
Rồi theo năm tháng, góc nhỏ ấy thêm xôn xao hơn. Những bạn học từ thuở còn cắp sách đến trường, những em học trò cũ, những thầy cô dạy tôi năm xưa, những đồng nghiệp từng kề vai sát cánh ….Tất cả những mái đầu xanh ngày ấy, nay đã chớm màu sương khói. Bằng một phép mầu kỳ diệu nào đó, đã khiến chúng tôi được tìm thấy nhau. Dù múi giờ có ngược lối, Facebook đã dệt nên một chiếc cầu nối mềm mại và bền chặt đến khó tin. Nơi đó trở thành những trang nhật ký mở, một diễn đàn chan chứa nghĩa tình. Chúng tôi luôn gạt ra ngoài những bận rộn thường nhật, để trao cho nhau những nụ cười, chia sẻ một niềm vui nhỏ, hay đôi khi chỉ là lắng nghe và vỗ về một nỗi buồn sâu kín.
Trang cá nhân của tôi không rộng mở công khai. Nó là một góc khép kín, lặng lẽ và yên bình, nơi tôi cẩn trọng đón nhận từng lời mời kết bạn. Bởi tôi trân trọng sự chân thành hơn là những con số. Hầu hết đều là bạn của những bạn tôi, hoặc cùng ngành học, hoặc cùng sở thích thể thao du lịch, cùng thú vui ươm trồng, chăm sóc hoa kiểng hay cùng đam mê Văn Thơ Nhạc Hoạ.
Mười Năm, chặng đường không quá dài của một đời người, nhưng đủ để thắp sáng những năm tháng tuổi già. Giữa tiết trời se lạnh hay những mùa thu lá đỏ nơi xứ xa, tôi chợt nhận ra mình chưa hề cô đơn. Tuổi già của tôi lướt qua nhẹ nhàng, được an ủi bởi ân tình của bạn hữu gần xa, và được lấp đầy bởi vô vàn những niềm vui mộc mạc.
Trang Facebook còn là nơi thuận tiện để tôi chia sẻ và lưu giữ rất nhiều hình ảnh, nhiều bài viết. Lưu dấu những kỷ niệm, những ký ức từ thuở ấu thơ cho đến tuổi xế chiều, và đã bắc giúp tôi nhịp cầu kết nối.
Xin góp ý với quý bạn già, nếu không muốn tuổi già tới mau, hãy nên lướt xem Facebook, sẽ có đôi mắt sáng thêm, đọc được những dòng chữ nhỏ. Đôi tay nhanh hơn để gõ chữ, viết bình luận. Não bộ thêm linh hoạt để kịp thời cập nhật công nghệ mới của trí tuệ nhân tạo. Mỗi khi xem thấy điều gì yêu thích cũng đừng ngần ngại Thả Tim, để cảm thấy mình dù đã quá bảy mươi, mà con tim vần luôn nồng nàn, tâm hồn vẫn còn son trẻ.
Cám ơn những người bạn thân yêu của tôi. Những dòng chia sẻ và bình luận của quý bạn đã là những mảnh ghép tuyệt vời, làm nên trang Facebook thêm lung linh, thân thiện và ấm áp.
Thân chúc một Tháng Tám an lành, một Mùa Hè rực rỡ để yêu thương !
' NHỚ MÃI THỜI ÁO TRẮNG '= Thơ Pham Văn Bắc - SPSaigon
NHỚ MÃI THỜI ÁO TRẮNG
Chân đã bước sao người còn ngoảnh lại
Phải chăng ai vẫn tiếc tuổi học trò.
Có gì đâu chỉ một thuở ngây thơ
Mà còn mãi một đời mang vương vấn...
Nhớ lớp học bảng đen cùng bụi phấn
Chỗ ai ngồi vóc dáng mãi thân quen
Mái tóc dài buông nhẹ xuống vai mềm
Và ánh mắt nụ cười ơi xao xuyến
Người vắng bóng buổi nào sao chẳng đến
Lòng bồn chồn mong ngóng bước chân ai...
Chiều tan trường đôi bóng bước theo hoài
Ta lặng lẽ cùng ai chung lối nhỏ
Ngày hè đến tiếng ve như nhắc nhở
Mùa chia tay lưu luyến tuổi học trò
Cánh phượng hồng nhuộm thắm mối tình thơ
Dòng lưu bút mênh mang màu mực tím
Mái trường cũ miên man bao kỷ niệm
Để bây giờ mãi nhớ những ngày xưa.
Cây Độc - Nguyên Thảo
CÂY ĐỘC [không trái; gái độc không con]
Nguyên Thảo
Lần nào tôi về Huế, người đón đầu tiên cũng là O. Người đứng tiễn sau cùng, khi xe đã lăn bánh ra khỏi ngõ, cũng là O. Như một cái hẹn không ai nói ra, bao năm rồi chưa từng trật.
O là con ông nội thúc, ở lại giữ nhà từ đường họ Kim Hoàn làng Kế Môn. Làng nhỏ nép bên sông Bồ, năm nào đến 27 tháng 2 âm lịch là khói hương lại quyện vào tiếng đục, tiếng chạm. Ngày giỗ tổ, ai đi xa mấy cũng ráng về, thắp một nén nhang rồi lại vội đi. Chỉ có O là ở lại.
Trong họ ai cũng kể, hồi con gái O đẹp nhất nhì Kế Môn. Da trắng như bông bưởi đầu mùa, tóc đen quá lưng, cười một cái là mấy anh thợ bạc đánh rơi cả cây dũa. Mười tám tuổi O lấy chồng, gả qua bên kia phá Tam Giang. Ba năm sau, người ta trả O về. Chỉ một câu gọn lỏn:
“Cây độc không trái, gái độc không con”.
O ôm gói áo cũ, lội qua phá mà về. Rồi ở vậy luôn.
Căn nhà từ đường ấy không phải của O, nhưng O giữ. Sân rộng mà lá rụng nhiều. Ngày nào cũng nghe tiếng chổi tre O quét sân, xào xạc như tiếng thở dài. Bàn thờ tổ lúc nào tro cũng còn ấm. O nói: lửa ni phải giữ, lửa tắt là họ tàn.
Ngày giỗ tổ, sân đông không thể tả. Người từ bốn phương đổ về, trong nước ngoài nước, áo quần tươm tất. tiếng cười nói rộn như phiên chợ Tết.
O đứng nép bên cây cột, cười hiền. Ai O cũng nhớ, đứa nào đậu đại học, đứa nào ly dị, đứa nào giàu to, đứa nào vỡ nợ... Vậy mà không ai hỏi O sống ra răng.
Giổ xong, mọi người lại lần lượt ra về, sân từ đường vắng hoe. O lại lẳng lặng ra khép cổng. Một mình.
Có đêm trở trời đau lưng, O nằm nghe mưa Huế gõ trên mái ngói âm dương, dầm dề. O đưa tay sờ bụng mình, bụng phẳng, lạnh ngắt. Hồi trẻ O thèm một tiếng kêu mạ đến phát điên, thấy con nít là phải quay mặt đi, sợ nhìn lâu rồi hóa ác. Rồi giờ O hết thèm. Hay O tưởng mình đã hết thèm.
O không nuôi con. O nuôi thứ khác. O nuôi căn nhà từ đường, nuôi ngọn đèn dầu không để tắt, nuôi mấy chậu kim tiền ngoài sân xanh quanh năm mà chẳng trổ hoa.
Người ta bảo cây không trái là cây độc. O nghe rồi chỉ cười:
Đàn bà không con ngày xưa họ cũng kêu rứa.
Mà O nghĩ: Cây không trái thì cho bóng mát. Không con thì giữ nòi. Mỗi người một kiểu nối dõi chứ.
O tiễn tôi ra xe. Gió sông Bồ thốc lên, ngọn đèn trong nhà từ đường chao một cái. O lật đật chạy vào châm thêm dầu.
Bóng O in lên vách, một mình, dài và mỏng
Xe lăn bánh. Tôi ngoái lại nhìn, cái bóng cây độc ấy cứ xa dần, xa dần…
Cỏ
(trích từ FB Nguyên Thảo)
304Đen – Llttm – MT68




